VIỆN NC QUẢN LÝ KINH TẾ TW
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU
THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
DIỄN BIẾN TOÀN CẦU HOÁ
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
TRONG BỐI CẢNH KHỦNG
HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ SUY
THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ
GIẢI PHÁP
CỦA VIỆT NAM
SỐ
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
1
2009
1
VIỆN NC QUẢN LÝ KINH TẾ TW
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU
DIỄN BIẾN TOÀN CẦU HOÁ
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
TRONG BỐI CẢNH KHỦNG
HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ SUY
THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ
GIẢI PHÁP
3.1. Kết quả hội nhập song phương với một số nước lớn......................... 21
3.2. Hội nhập song phương trong thời gian tới ....................................... 22
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG KHỦNG HOẢNG............................. 24
1. Mô hình phát triển .................................................................................. 25
2. Cơ cấu lại một số lĩnh vực...................................................................... 27
3. Cơ cấu lại các thành phần kinh tế ........................................................... 27
3.1. Doanh nghiệp nhà nước ................................................................... 27
3.2. Kinh tế tư nhân................................................................................. 28
3.3. Đầu tư nước ngoài ........................................................................... 29
V. KẾT LUẬN ............................................................................................. 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 33
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
3
DIỄN BIẾN TOÀN CẦU HOÁ
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH, SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN
CẦU VÀ GIẢI PHÁP CỦA VIỆT NAM
Bước vào năm 2009, hầu hết các nước trên toàn cầu tiếp tục có những
chính sách, giải pháp mạnh, đối phó với nền tài chính đang khủng hoảng sâu
sắc và suy thoái kinh tế toàn cầu đang lan rộng và diễn biến phức tạp. Trong
bối cảnh đó, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế sẽ có những diễn biến
khác thường, đẩy mạnh tự do hoá và xuất hiện chủ nghĩa bảo hộ đan xen, tăng
nhà nước, bớt thị trường... song xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác để phục hồi
và tiếp tục phát triển vẫn là xu thế chủ đạo trên thế giới, chi phối các quan hệ
quốc tế cũng như chiến lược phát triển của từng nước.
Chuyên đề này đề cập đến diễn biến toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
Kinh tế thế giới bắt đầu suy giảm từ quý IV năm 2008. GDP quý IV năm
2008 của Nhật Bản đã giảm 12% so với quý III năm 2008, con số này của Mỹ
khoảng 6 %, Singapore cũng khoảng 6%. Kinh tế Trung Quốc quý IV năm
2008 tăng 6,7%, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng năm 2007 (13%).
Kinh tế Australia quý IV năm 2008 lần đầu tiên đi xuống trong 8 năm qua. Tốc
độ tăng trưởng kinh tế bình quân của các nước Trung và Đông Âu năm 2008
chỉ còn 3,2% so với mức 5,4% năm 2007. Kinh tế Nga đang khó khăn khi thị
trường chứng khoán đã rớt khoảng 80%, đồng rúp mất giá tới 1/3 trong khi thất
nghiệp tăng lên 10,5%.
Những con số trên cho thấy, hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đang
lún sâu vào suy thoái kinh tế. Tình trạng suy thoái kinh tế này sẽ kéo dài đến
khi nào, thời điểm nào là đáy của cuộc suy thoái và bao giờ kinh tế thế giới sẽ
hồi phục? Khó có câu trả lời chung cho tất cả các nước mà nó tuỳ thuộc vào
chính sách và sự cố gắng vượt qua suy thoái kinh tế của từng nước.
Qua tổng kết và phân tích các cuộc suy thoái kinh tế mà loài người đã
trải qua hơn một thế kỷ qua, các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm chu kỳ kinh
tế, tức nền kinh tế của từng nước sẽ trải qua 3 pha của chu kỳ kinh tế. Đó là
suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (xem hình).
Hình 1: Các pha của chu kỳ kinh tế
Nguồn:
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
5
Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Phục hồi là trong đó
GDP tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái. Điểm ngoặt giữa hai pha này
19% (đến đầu năm 2009) so với đỉnh, nhưng vẫn cao hơn 17% so với mối quan
hệ dài hạn giữa giá nhà và quan hệ thu nhập hộ gia đình. Nếu chiếu theo lịch
sử thì mất ít nhất 2 và có lẽ 5 năm ròng trước khi thị trường này bắt đầu ổn
định và phục hồi.
Olivier Blanchard, “Những rạn nứt trong hệ thống: Sửa chữa những đổ vỡ của nền kinh tế toàn cầu”, nguyên
bản: “Repairing the Damaged Global Economy,” Finance and Devolopmant, 12/2008.
3
Mai Phương, Ngân hàng thế giới: Kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng âm 1-2%, 12/3/2009
4
Hiếu Trung, Suy thoái kiểu chữ U?, , 9/3/2009
2
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
6
Tổng thống Mỹ Barack Obama nói “Không có giải pháp nhanh chóng
hay dễ dàng cho cuộc khủng hoảng vốn đã hình thành nhiều năm, và tình hình
sẽ xấu đi trước khi bắt đầu phục hồi”. Rõ ràng là tình trạng suy thoái do khủng
hoảng tài chính toàn cầu gây ra sẽ kéo dài và sâu sắc hơn so với những dự báo
trước đây5.
II. DIỄN BIẾN MỚI CỦA TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC
TẾ
Diễn biến mới của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế nói ở đây là
toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế gắn với nền kinh tế thế giới đang
trong giai đoạn suy thoái sâu sắc cho đến khi bước sang chu kỳ phục hồi.
1. Toàn cầu hoá và kinh tế thế giới sẽ thay đổi theo hướng nào?
Trước diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
7
Nhóm thứ hai là bốn nền kinh tế đang phát triển lớn nhất gọi chung là
BRIC (Brazil, Nga, Ấn độ và Trung Quốc). Hiện nay, các nền kinh tế của
BRIC đang suy giảm (tức không âm) và sẽ phục hồi nhanh hơn các nền kinh tế
nhóm thứ nhất. Theo ông Tim O’Neill – nhà kinh tế trưởng của Ngân hàng đầu
tư Goldman Sachs đưa ra vài năm trước đây, tổng sản lượng hằng năm tính
bằng USD của BRIC sẽ bằng nhóm G7 vào năm 2035. Cũng theo ông O’Neill
với suy thoái kinh tế hiện nay, thời điểm đuổi kịp này sẽ diễn ra vào năm 2027,
sớm hơn dự báo cũ gần một thập niên7.
Khoảng cách tăng trưởng giữa nhóm nước phát triển BRIC và nhóm
nước công nghiệp G7 sẽ định hình tương lai kinh tế và chính trị thế giới.
Với tiềm lực kinh tế hiện tại, những người đứng đầu từng nước BRIC
đang khẳng định vị thế của mình, tự tin hơn trên các diễn đàn quốc tế. Tại Diễn
đàn Dovos đầu năm nay, Thủ tướng Ôn Gia Bảo và Thủ tướng Nga Vladimir
Putin đã lớn tiếng phê phán khuyết tật của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Trả
lời phỏng vấn báo Newsweek, Tổng thống Brazil Lula de Silva cáo buộc Mỹ
phải chịu trách nhiệm chính về cuộc khủng hoảng và phải có biện pháp sửa
chữa. Nhóm nước BRIC sẽ có tiếng nói mạnh hơn và quyết định hơn trong
vòng đàm phán Doha sắp tới và tại Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (khi Hội
đồng bảo an được mở rộng).
Tổ chức thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) đang lớn mạnh, hạn
chế ảnh hưởng của Mỹ, trước hết là những nước có xu hướng chính trị cánh tả
như Venezuela, Bolivia, Peru.
Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực kinh tế năng động nhất
toàn cầu. Việc hợp tác khu vực được mở rộng giữa, trong đó có hợp tác giữa
các nước ASEAN với nhau và giữa khối ASEAN với các nước trong khu vực
Thủ tướng Anh Gordon Brown tỏ ra tin rằng thế giới thoát khỏi cuộc
khủng hoảng sẽ không còn như trước. Các nước sẽ sẵn sàng hợp tác nhiều hơn
không chỉ trong lĩnh vực môi trường mà còn cả những lĩnh vực khác. Trong
tương lai các nền kinh tế của chúng ta được xây dựng như những nền kinh tế
có khí thải carbon thấp và lao động tay nghề cao. Cơ hội ấy rất lớn trong 10
hay 20 năm nữa8.
Nền kinh tế các nước sẽ được tái cấu trúc lại theo hướng quan tâm hơn
nữa đến phát triển bền vững, chú trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
và bảo vệ môi trường. Xu hướng mở rộng sự tham gia của người dân vào các
vấn đề xã hội có thể dẫn đến sự phát huy vai trò của một xã hội dân sự lành
mạnh, cùng với Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp. Hợp tác trên
quy mô toàn cầu để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và an ninh lương thực,
năng lượng, thảm họa thiên nhiên và dịch bệnh sẽ có bước tiến.
Tái cấu trúc khu vực tài chính, ngân hàng theo những nguyên tắc mạnh
mẽ hơn về sự giải trình trách nhiệm, tính minh bạch cùng sự liêm khiết và thực
hiện nghiêm các quy định. Đồng thời các tổ chức này phải hoạt động theo
những giá trị mà công chúng tin tưởng. Các quốc gia trên thế giới phải sát cánh
để các dòng chảy tài chính toàn cầu được giám sát theo cách có hiệu quả hơn
các thiết chế toàn cầu hiện có ( IMF, WB, WTO ), và ngoài bộ máy điều phối
đơn thuần mang tính quốc gia.
Sự thay đổi theo hướng trên đúng đắn, kịp thời chính là giải pháp cơ bản
để vượt qua và ra khỏi khủng hoảng, chứ không chờ đến hậu khủng hoảng, khi
đã phục hồi, rồi mới thay đổi.
2. Hợp tác chung giải pháp, chung nguồn lực
Những hứa hẹn, cam kết chung sức đưa nền kinh tế thế giới thoát khỏi
khủng hoảng và tạo thêm việc làm là hành động mà các nguyên thủ quốc gia
tham dự Hội nghị thượng đỉnh G209 họp ngày 5/4/2009 tại Thủ đô Luân Đôn
của Anh hướng tới.
Thanh Bình, Thủ tướng Anh: Khủng hoảng thúc đẩy thay đổi, , 8/4/2009
G20 gồm: Argentina, Australia, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Italia, Nhật, Nga,
Hàn Quốc.
Ngày 22/2/2009 tại Phukhet, Thái Lan, Hội nghị Bộ trưởng tài chính
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và 3 nước đối tác Nhật Bản, Trung
Quốc và Hàn Quốc (ASEAN+3) ra quyết định lập một quỹ ngoại hối trị giá
120 tỷ USD, để giúp các quốc gia trong khu vực bảo vệ đồng nội tệ trước
những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như đã từng
xảy ra trong cuộc khủng hoảng tài chính khu vực cách đây 10 năm khiến dự trữ
ngoại hối của Indonesia, Thái Lan và Hàn Quốc cạn kiệt.
3. Tăng cường hợp tác song phương
Về hợp tác song phương, có một chuyên gia cho rằng việc cải thiện quan
hệ Mỹ - Trung có ý nghĩa quyết định tới việc chống suy giảm kinh tế toàn cầu
xuất phát từ nhìn nhận nguyên nhân gốc rễ gây ra khủng hoảng tài chính và
suy thoái kinh tế toàn cầu. Theo Robert Zoellick, Chủ tịch WB và Justin Yifi
Lin, Trưởng kinh tế gia của WB10, nếu muốn phục hồi nền kinh tế thế giới thì
hai cỗ máy Mỹ và Trung Quốc (G-2) phải hợp tác với nhau và trở thành đầu
tầu cho nhóm G – 20.
Robert Zoellick, Justin Yifi Lin, “G-2 quyết định sự phục hồi kinh tế”, nguyên bản “Recovery Rides on The
G-2”. Washington Post 5/3/2009.
10
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
10
Nguyên nhân trực tiếp gây ra khủng hoảng tài chính xuất phát từ Mỹ là
vỡ bong bóng nhà đất do thực hiện chính sách tiêu dùng quá mức thông qua
việc cho vay với một lượng tiền khổng lồ dưới chuẩn cộng với sự tham lam và
Chính phủ của từng nước đang tung ra những gói giải cứu tài chính,
công nghiệp và kích thích kinh tế trị giá hàng trăm, hàng nghìn tỷ USD, hạ lãi
suất, quan tâm nhiều hơn đến thị trường nội địa, tăng cường sự can thiệp của
Nhà nước vào thị trường, giải quyết thất nghiệp.
Theo Thủ tướng Anh Gordon Brown, các quốc gia trên toàn cầu sẽ chi
ra khoảng 5000 tỷ đồng cho đến cuối năm sau để giải cứu tài chính, công
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
11
nghiệp và kích thích kinh tế11. Đến nay, những nền kinh tế lớn như Mỹ đã tung
ra 1487 tỷ USD để cứu nền kinh tế thoát khỏi suy thoái, con số này của Nhật là
275 tỷ USD, Trung Quốc 724 tỷ USD, Đức 715 tỷ USD, Anh 137 tỷ USD,
Nga 78 tỷ USD.
Các nền kinh tế lớn liên tục cắt giảm lãi suất từ quý IV năm 2008 đến
nay nhằm kích cầu đầu tư và tiên dùng. Cắt giảm lãi suất đã trở thành một
“phong trào” toàn cầu trong lần suy thoái này. Có lẽ hiếm khi nào lãi suất các
đồng tiền chủ chốt trên thế giới lại ở mức thấp như hiện nay, với lãi suất USD
trong khoảng 0-0,25%, lãi suất Yên Nhật 0,1%, lãi suất Euro 1,25%, Bảng Anh
0,25%.
Hầu hết các nước phát triển tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào
thị trường tài chính và thể hiện rõ hơn vài trò của Nhà nước trong phát triển kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội.
Các nước này tăng cường nắm các ngân hàng thương mại phá sản bằng
cách giao các ngân hàng của nhà nước tiếp nhận các ngân hàng này và tăng tỷ
lệ cổ phần nắm giữ của Chính phủ. Đồng thời tung ra nhiều tỷ USD để mua nợ
xấu ngân hàng.
Để bảo đảm các ngân hàng lớn của Mỹ có đủ lòng tin và đủ tiền để cho
vay, ngay cả vào thời điểm khó khăn hơn, Tổng thống Obama yêu cầu Quốc
chủ nghĩa bảo hộ trong mậu dịch.
Nội hàm của chủ nghĩa bảo hộ có một phần là sự tự vệ, nhưng bảo vệ
trong tương quan thiếu cạnh tranh nên mang tính tiêu cực. Chủ nghĩa bảo hộ
như nhát giao, sẽ chia cắt thị trường tự do hoá toàn cầu. Hệ luỵ của chủ nghĩa
bảo hộ có thể dẫn đến các cuộc chiến tranh thương mại gay gắt, mà kết quả là
hầu hết những nước yếu về tiềm lực phải gánh chịu thiệt thòi13.
Nhiều nhà bình luận từ các nước đang phát triển nhận định họ có cảm
giác bị lừa vì quá trình toàn cầu hoá được ca ngợi trước đây hoá ra chỉ đem lại
lợi ích nhiều nhất cho khu vực tài chính trong khi chỉ mang lại đồng lương ít ỏi
cho công nhân các nước gia công kèm theo xáo xã hội và ô nhiễm môi trường.
Nay khủng hoảng trong khu vực tài chính đang giáng những đòn chí
mạng vào khu vực sản xuất khi các nước nhập khẩu tìm cách đóng cửa thị
trường hay trợ cấp cho nhiều ngành công nghiệp. Các gói giải cứu ngành ô tô ở
nhiều nước là một ví dụ về tính hai mặt không thể chấp nhận được khi những
nước này vẫn buộc các nước nhập khẩu cắt giảm thuế nhập khẩu ô tô14.
Trong 2 ngày 13-14/2/2009 tại Roma, Italia, các Bộ trưởng tài chính và
Thống đốc ngân hàng trung ương G7 và khách mời Nga đã nhóm họp để bàn
biện pháp đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại rằng, chính sách
duy trì việc làm và bảo vệ ngành công nghiệp quốc gia của nhiều nước sẽ làm
tăng chủ nghĩa bảo hộ, khiến các nước từ bỏ cạnh tranh bình đẳng. Các bộ
trưởng G7 cảnh báo bất cứ biện pháp bảo hộ nào nhằm thúc đẩy các nền kinh
tế quốc gia chỉ làm suy yếu sự thịnh vượng toàn cầu, đồng thời nhấn mạnh sự
cần thiết hỗ trợ các nước đang phát triển để những người nghèo nhất thế giới
không phải là đối tượng chịu tác động lớn nhất do sự suy thoái kinh tế toàn
cầu. Tuy nhiên, từ lời nói đến việc làm, khoảng cách còn xa.
III. HỘI NHẬP KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
1. Hội nhập kinh tế toàn cầu
Thực hiện các cam kết gia nhập WTO là hội nhập kinh tế toàn cầu quan
trọng nhất của Việt Nam.
có chất lượng cao, giá cả cạnh tranh, mẫu mã và chủng loại đa dạng, đáp ứng
tốt hơn nhu cầu, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh
thần. Các doanh nghiệp có thể tiếp cận với nguyên liệu đầu vào, các dịch vụ hỗ
trợ tiện lợi, chất lượng hơn, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Thúc đẩy đổi mới toàn diện hơn, nhất là việc tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường. Tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp không
phân biệt nguồn gốc chủ sở hữu được tiếp cận nguồn lực, đẩy mạnh cổ phần
hoá doanh nghiệp nhà nước, các công ty niêm yết ngày càng nhiều đi liền với
công bố thông tin công khai, minh bạch... tính thị trường rõ hơn. Nhờ đó mà
Trung Quốc, các nước ASEAN và mới đây Australia và New Zealand đã công
nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ.
Tiếp thu được từ thế giới không chỉ lợi ích về mặt kinh tế tăng trưởng,
mà chủ yếu là những nguồn lực, những kiến thức, những kinh nghiệm về chất
lượng phát triển cao và bền vững. Chính sách bảo đảm an sinh xã hội tiếp tục
được quan tâm để bảo đảm cho người nghèo, những người bị tổn thương trong
quá trình thực hiện hội nhập. Năm 2008, Việt Nam có bước chuyển biến tích
cực trong bảo vệ môi trương thông qua việc xử lý những doanh nghiệp gây ô
nhiễm môi trường, điển hình là Công ty Vedan.
Nước ta có vị thế mới, bình đẳng với các thành viên khác, cho phép ta
có cơ hội để tham gia vào việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, đấu
tranh bình đẳng trong các cuộc tranh chấp; tham gia thiết lập và phát triển các
thể chế hợp tác khu vực và song phương.
1.2. Những yếu kém
Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt trên cả 3 cấp độ: sản
phẩm, doanh nghiệp và tổng thể quốc gia. Những hàng hoá, dịch vụ kém sức
cạnh tranh trong những lĩnh vực trồng bông, sản xuất mía đường, chăn nuôi,
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
14
hoảng giá dầu, giá lương thực đầu năm 2008 tác động không nhỏ đến lạm phát
cao của năm 2008, và sự suy giảm kinh tế ở nước ta những tháng cuối năm
2008 do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến là
hai sự kiện minh chứng cho nhận định trên. Chúng ta sẽ phải còn đối phó với
những cú sốc tương tự xảy ra trong tương lai
Các vụ kiện bán phá giá gia tăng, vì tuy đã là thành viên của WTO,
nhưng chúng ta vẫn chịu quy chế "kinh tế phi thị trường" trong thời gian 12
năm kể từ ngày gia nhập. Các nước đã khởi kiện Việt Nam bán phá giá: Mỹ
đối với những nhà sản xuất cá da trơn, tôm đông lạnh, EU đối với xe đạp, giày
mũi da... Các vụ kiện chống bán phá giá chẳng những gây thiệt hại không nhỏ
cho doanh nghiệp bị kiện bán phá giá sản phẩm, những người sản xuất nguyên
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
15
liệu, nền kinh tế nước bị kiện mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến người tiêu dùng
và các doanh nghiệp phân phối nước khởi kiện.
Khi kinh tế suy giảm, các nước sẽ cắt giảm hàng nhập khẩu. Động thái
này tác động rất lớn đối với những nền kinh tế có mức độ hội nhập sâu vào nền
kinh tế thế giới như Việt Nam. Sản xuất các mặt hàng xuất khẩu bị co lại và
người lao động làm hàng xuất khẩu bị mất việc làm, nguy cơ gây bất ổn xã hội.
Với con số đơn hàng giảm 20% thôi, ngành may cả nước có thể có khoảng 40
vạn lao động thất nghiệp15. Tỷ lệ này có thể xảy ra trong năm 2009 khi mà 3
nền kinh tế lớn là Mỹ, Nhật, EU đang lún sâu vào khủng hoảng kinh tế, nơi
chiếm hơn 50% xuất khẩu của Việt Nam.
Về lâu dài, lao động làm việc trong nông nghiệp và thương mại (phần
lớn tiểu thương) với tỷ lệ hiện nay chiếm tới 2/3 tổng số lao động toàn xã hội
sẽ là những người dễ bị tổn thương, nguy cơ bị mất việc làm cao nhất khi Việt
Nam thực hiện cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ rào cản thương mại và mở cửa thị
16
bảo vệ những người bị mất việc làm, những người nghèo, những người dễ bị
tổn thương, những người thuộc diện chính sách; đồng thời tạo điều kiện thuận
lợi mà không trái với các cam kết WTO giúp những lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh hiện đang gặp khó khăn có thể tổ chức lại để tồn tại và phát triển, hạn
chế đến mức thấp số người thất nghiệp và thiếu việc làm.
Cộng đồng doanh nghiệp nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng phải
khắc phục càng sớm càng tốt tính riêng rẽ trong sản xuất, kinh doanh đang rất
phổ biến hiện nay, phải thấy hết sự cần thiết tăng cường hợp tác, liên kết với
nhau vì lợi ích của chính mình, của cả cộng đồng doanh nghiệp và của quốc
gia. Đây là một trong những việc làm thiết thực của giới doanh nghiệp nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, góp phần nhanh
chóng vượt qua những thách thức gay gắt trong quá trình thực hiện các cam kết
hội nhập.
Loại bỏ, sửa đổi hoặc xây dựng mới các quy định nhằm rút ngắn thời
gian so với 12 năm Việt Nam sẽ bị đối xử trong tình trạng kinh tế phi thị
trường. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy phạm về kỹ thuật, vệ sinh kiểm
dịch...Các tiêu chuẩn về quy cách, chất lượng sản phẩm không chỉ giúp ngăn
chặn hàng hoá nhập khẩu kém chất lượng, thiếu vệ sinh, bảo vệ người tiêu
dùng mà còn là điều kiện quan trọng để kiểm soát chất lượng hàng hoá nhập
khẩu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu, tránh các vụ kiện đáng
tiếc có thể xảy ra.
Nhằm giảm thiểu tác động lâu dài của những vụ kiện chống bán phá giá,
phải đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại sang nhiều thị trường xuất khẩu
khác nhau, đa dạng hoá mặt hàng, chuyển sang khúc thị trường có mức giá bán
trung bình. Tích cực vận động các thành viên WTO sớm công nhận quy chế thị
trường cho nước ta. Với tư cách là thành viên WTO, chúng ta sử dụng quyền
khởi kiện các doanh nghiệp nước ngoài bán phá giá như thép vào nước ta trong
kế hoạch hoá gia đình... Đồng thời cần có chính sách tạo sự đột phá, tạo bước
chuyển dịch rõ ràng hơn lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Các hộ kinh doanh tiểu thương cần được tổ chức, sắp xếp lại theo hướng hình
thành phân khúc thị trường ổn định cho hoạt động này, khi có điều kiện chuyển
dần họ sang kinh doanh thương mại hiện đại, tránh những cú sốc khi mở cửa
thị trường phân phối cho nước ngoài
Về lâu dài, nâng cao năng lực cạnh tranh là yếu tố giữ vai trò quyết định
sự thành, bại của nền kinh tế khi thực hiện cam kết hội nhập kinh tế quốc tế.
Đây là điều kiện hàng đầu để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức. Vì thách
thức lớn nhất hiện nay đối với Việt Nam sau khi gia nhập WTO là sự yếu kém
về năng lực cạnh tranh của cả quốc gia và doanh nghiệp. Tập trung tâm sức tạo
bước phát triển đột phá trong 3 lĩnh vực đang cản trở việc nâng cao năng lực
cạnh tranh: nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng và cải cách hành chính.
2. Hội nhập kinh tế đa phương và khu vực
Hội nhập kinh tế đa phương khu vực quan trọng nhất của nước ta là
ASEAN, ASEM và APEC. Nước ta gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á
(ASEAN) năm 1995; năm 1996; năm 1998, nước ta trở thành thành viên Diễn
đàn kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC); cùng với các nước thành viên
ASEAN, nước ta là sáng lập viên Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM).
2.1. ASEAN và Khu thương mại tự do ASEAN (AFTA)
Tuyên bố hoà hợp ASEAN II tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 9 nhóm
họp ở Bali, Indonesia năm 2003 đã để lại dấu ấn lớn trong lịch sử của Hiệp hội
này, mở ra việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) dự kiến chậm
nhất là vào năm 2020. Hợp tác an ninh chính trị, kinh tế và văn hoá, xã hội là 3
trụ cột chính của AEC với mục tiêu bảo đảm hoà bình, ổn định chính trị và sự
thịnh vượng chung cho khu vực.
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
18
năm 1996 Việt Nam đã công bố hằng năm việc giảm thuế quan của mình.
Ngay từ đầu, Việt Nam có 1661 nhóm mặt hàng thuộc danh mục cắt giảm thuế
ngay (IL), chiếm 51,6% và 1317 nhóm mặt hàng thuộc danh mục loại trừ tạm
thời (TEL), chiếm 40,9% tổng số mặt hàng trong Biểu thuế nhập khẩu lúc đó.
Năm 2001 có 712 sản phẩm đã được chuyển từ danh mục TEL sang danh mục
IL và cắt giảm các dòng thuế này thấp hơn 20%. Các dòng thuế cao hơn 20%
đã được giảm xuống vào năm 2001. Năm 2003 Việt Nam tiếp tục đưa hơn 700
dòng thuế từ TEL sang IL và cắt giảm thuế quan xuống còn dưới 20%. Từ đầu
Nam Tiến - Nhật Bắc, Hội nghị cấp cao 14 kết thúc, ra Tuyên bố Cha Am – Hua Hin, ,
1/3/2009
17
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
19
năm 2006, thời điểm Việt Nam thực hiện đầy đủ cam kết CEPT/AFTA có trên
5 nghìn dòng thuế được giảm xuống 0-5%.
Các nước ASEAN cũng thực hiện cắt giảm thuế quan cho các nước
thành viên. Theo đó, ASEAN-6 gồm 5 nước tham gia sáng lập ASEAN
(Indonesia, Malaysia, Philipin, Thái Lan, Singapore) và Brunei cam kết cắt
giảm thuế quan đối với 99,55% sản phẩm trong danh mục hàng hoá cắt giảm
tại thời điểm 1 tháng 1 năm 2003 xuống còn 0-5%. Mức trung bình này của 6
nước đã giảm từ 12,7% khi bắt đầu thực hiện AFTA năm 1996 xuống còn
2,39% năm 2003, trong đó có 48% trong danh mục hàng hoá cắt giảm có thuế
suất bằng 0%. Lộ trình cắt giảm thuế quan đối với tất cả hàng hoá thuộc diện
cắt giảm xuống còn 0-5% thực hiện chậm hơn đối với Myanmar và Lào (năm
2008) và cuối cùng là Cămpuchia năm 2010. Các nước ASEAN cam kết loại
bỏ 100% thuế nhập khẩu vào năm 2010, và vào năm 2015 đối với ASEAN - 4
20
APEC đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế cho các nước thành viên,
góp phần đưa khu vực trở thành khu vực kinh tế năng động nhất trên toàn cầu.
Tăng trưởng kinh tế đã tác động tích cực đến tiến bộ xã hội trong khu vực.
Trong thập kỷ qua, chỉ số phát triển nguồn nhân lực của các nước có thu nhập
thấp của APEC đã tăng 18%. Số người nghèo ở các nước Đông Á đã giảm 1/3
(165 triệu người). Tạo việc làm cho 195 triệu người, trong đó có 74 triệu người
thu nhập thấp. Tỷ lệ chết sơ sinh giảm và tuổi thọ tăng lên ở các nước có thu
nhập thấp thể hiện sự tiến bộ về điều kiện vệ sinh, cung cấp nước sạch và mở
rộng cung cấp dịch vụ công. Người tiêu dùng các nước thành viên đã được
hưởng lợi từ các hoạt động của APEC. Thông qua hoạt động trong APEC, vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng lên.
2.3. Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM)
ASEM là diễn đàn hợp tác giữa các đối tác thuộc 2 khu vực Châu Á và
Châu Âu. Tháng 11 năm 1994, Pháp và Singapore đồng đề nghị triệu tập Hội
nghị thượng đỉnh giữa EU và châu Á nhằm tăng cường mối quan hệ đối tác.
Trên cơ sở sáng kiến ấy, Hội nghị thượng đỉnh lần đầu tiên được tổ chức tại
Bangkok năm 1996. Từ đó Hội nghị thượng đỉnh được tổ chức 2 năm một lần.
Ngày nay, 27 nước thành viên của EU và 13 nước Châu Á (Brunei,
Myanmar, Trung Quốc, Cămpuchia, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Malaysia, Lào, Philipin, Singapore, Thái Lan và Việt Nam) tham gia ASEM.
ASEM quan tâm thảo luận những vấn đề thuộc lợi ích chung của 2 khu
vực, thực hiện đối thoại về những vấn đề quốc tế, như cải tổ Liên hợp quốc,
loại bỏ vũ khí giết người hàng loạt, vấn đề khủng bố, vấn đề nhập cư và vấn đề
hoạt động của WTO.
Hoạt động của ASEM đã góp phần phát triển quan hệ thương mại giữa
Việt Nam và EU ( từ 2001 đến những năm gần đây tỷ trọng hàng xuất khẩu
3.2. Hội nhập song phương trong thời gian tới
Từng quốc gia có xu hướng tăng cường các quan hệ hợp tác song
phương nhằm khắc phục những hạn chế mà các cam kết trong khuôn khổ toàn
cầu và đa phương khu vực chưa giải quyết được. Việt Nam cũng đang có
những hoạt động hợp tác song phương theo hướng đó.
Ta và Trung Quốc tiếp tục hợp tác kinh tế trên tinh thần “bổ sung ưu thế
cho nhau, cùng có lợi và cùng thắng”, mở rộng hơn nữa quy mô, nâng cao chất
lượng và trình độ hợp tác kinh tế. Xây dựng kết cấu hạ tầng, công nghiệp chế
tạo, khai thác nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản, là những lĩnh
vực hợp tác lâu dài. Tăng cường hợp tác trong các thể chế kinh tế khu vực, liên
khu vực và quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN
và Trung Quốc.
Trong quan hệ thương mại với Trung Quốc chúng ta cần khắc phục hai
điểm yếu: một là cân bằng cán cân ngoại thương với Trung Quốc19 (năm 2007,
Việt Nam xuất sang Trung Quốc 3,2 tỷ USD, trong khi nhập khẩu từ Trung
Quốc tới 11,9 tỷ USD. Nhập khẩu lớn gấp 4 lần xuất khẩu và kim ngạch nhập
siêu lên tới mức bằng 3 lần kim ngạch xuất khẩu, chiếm tới 2/3 kim ngạch
nhập siêu năm 2008) và hai là cải thiện cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang Trung
Quốc, tăng hàng công nghiệp, giảm sản phẩm thô hoặc sơ chế khai thác từ các
quặng mỏ.
Đồng thời phải thấy rõ những hạn chế của Trung Quốc về công nghệ,
không phải là công nghệ cao, công nghệ nguồn và đang tìm cách đưa công
nghệ lạc hậu, công nghệ gây ô nhiễm môi trường sang các nước khác kém phát
triển hơn. Trong suy thoái, Trung Quốc đang tiến hành đẩy hàng hoá tồn kho,
lao động thiếu việc làm, kể cả lao động phổ thông sang các nước láng giềng,
Trần Văn Thọ, Bô – xít Tây Nguyên và tính chất Bắc Nam trong quan hệ ngoại thương, Thời báo Kinh tế
Sài Gòn, 19/2/2009
19
sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo. Bước vào năm 2007 quan hệ
ngoại giao, kinh tế giữa Việt Nam và Mỹ sang trang mới sau khi Việt Nam trở
thành thành viên chính thức của WTO. Hạn ngạch, thị thực và visa điện tử liên
quan đến hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ được
chính thức bãi bỏ từ ngày 11 tháng 1 năm 2007. Ta và Mỹ tiếp tục đẩy mạnh
quan hệ hợp tác kinh tế theo các Hiệp định đã và sẽ ký kết trên các nguyên tắc
tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công
việc nội bộ của nhau; bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và
tranh chấp bằng thương lượng hoà bình; phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát
triển và vì lợi ích của nhân dân hai nước.
Về quan hệ thương mại trong tương lai, ta đề nghị Quốc hội Mỹ sớm
chấm dứt cơ chế giám sát hàng dệt may Việt Nam, sớm trao quy chế ưu đãi
thuế quan phổ cập (GSP) cho Việt Nam, ngừng phân biệt đối xử thương mại
đối với mặt hàng cá basa của Việt Nam. Đồng thời, chúng ta mong muốn nhân
20
Sơn Nghĩa, Công nhân Trung Quốc ở Lâm Đồng, Sài Gòn Tiếp thị, 13/4/2009
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
23
dân cũng như Chính phủ Mỹ chung tay giúp đỡ nhân dân Việt Nam khắc phục
những hậu quả tàn khốc của chiến tranh còn ảnh hưởng nặng nề môi trường,
sức khoẻ và đời sống của người dân Việt Nam.
Sự hợp tác toàn diện Việt - Nga phát huy thế mạnh và khả năng của mỗi
nước, trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, không ngừng nâng cao chất
lượng và hiệu quả hợp tác, vì lợi ích của nhân dân mỗi nước. Việt Nam và Liên
bang Nga sẽ ưu tiên cho việc tiếp tục thúc đẩy sự hợp tác song phương trong
phân tích kinh tế cho rằng đây là thời điểm tốt để Việt Nam tái cơ cấu nền kinh
tế, chuẩn bị cho những tiền đề tốt hơn cho thời kỳ hậu suy thoái và phục hồi.
Đầu năm 2009, Nhóm nghiên cứu của Chương trình Châu Á, Trường
Trung tâm Thông tin – Tư liệu, CIEM
24
Đại học Harvard đã hoàn thành một báo cáo theo yêu cầu của Chính phủ nhằm
phân tích tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đối với kinh tế Việt Nam
và đưa ra những khuyến nghị chính sách giúp Chính phủ kích thích tăng
trưởng và giảm thiểu rủi ro của khủng hoảng kinh tế. Nhóm nghiên cứu đưa ra
giải pháp có hiệu lực duy nhất là thay đổi cơ cấu, trong đó có những kiến nghị
như: Từng bước giảm giá VND, xem xét lại ưu tiên đầu tư công, thành lập tổ
công tác đặc biệt về đầu tư công, ngừng cấp giấy phép thành lập mới ngân
hàng, công ty tài chính, bảo hiểm và đánh giá lại cơ cấu sở hữu của những tổ
chức tài chính hiện hữu; không nên tăng thâm hụt ngân sách và không được
đánh mất sự kiểm soát đối với tăng cung tiền và tín dụng.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang bắt đầu phối hợp cùng các bộ, ngành xây
dưng đề án “Tái cấu trúc nền kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thế giới suy
giảm”. Trong đề án này, ngoài việc phản ánh thực trạng nền kinh tế Việt Nam,
dự báo những xu hướng và cảnh báo, đề án sẽ đề ra những giải pháp tái cấu
trúc nền kinh tế một cách đầy đủ và toàn diện và sẽ trình lên Chính phủ trong
thời gian tới.
Dưới đây xin nêu một số vấn đề và lĩnh vực cần được tái cơ cấu lại trong
khủng hoảng.
1. Mô hình phát triển
Một là, mô hình phát triển đã dừng quá lâu ở chiều rộng, chìm đắm vào
tốc độ và số lượng, xem nhẹ chất lượng và chiều sâu.
Đó là sự tăng trưởng dựa chủ yếu vào tăng đầu tư (chiếm tới 60% tổng