Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối
cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu
Đăng ngày: 15:17 07-12-2009
Thư mục: Tổng hợp
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong bối
cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu: thời cơ và thách
thức
Nghiên cứu khoa học của sinh viên K47:
Trần Thị Thu Hà
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng phát vào giữa năm 2008 đã phủ một bóng đen ảm
đạm lên nền kinh tế toàn cầu. Việt Nam cũng phải chịu những tác động tiêu cực của cuộc
khủng hoảng theo hai cơ chế cả trực tiếp và gián tiếp.
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam với mức tăng kỉ lục vào năm 2008 sẽ
đứng trước khả năng bị ảnh hưởng trầm trọng. Tuy nhiên, nhìn nhận cả hai mặt của vấn đề,
có thể thấy rằng, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu không chỉ tạo ra những thách thức mà
còn tạo ra những cơ hội nhất định đối với việc thu hút FDI. Yêu cầu đặt ra là cần đánh giá xác
đáng những thách thức và cả thời cơ mà cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tạo ra để từ
đó có thể đưa ra những giải pháp để tiếp tục tăng cường thu hút nguồn vốn quan trọng này.
Đứng trước yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn khách quan, đề tài nghiên cứu khoa học: “Vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu: thời
cơ và thách thức” với mục tiêu:
Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài và khủng hoảng tài
chính thế giới
Phân tích cụ thể những thời cơ và thách thức đối với việc thu hút FDI vào Việt Nam
trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam trong bối cảnh
khủng hoảng tài chính thế giới.
Để giải quyết ba mục tiêu trên, kết cấu đề tài gồm ba chương
ngoài thường đi kèm với hoạt động chuyển giao công nghệ, nhằm kéo dài tuổi thọ của công
nghệ, tiếp tục thu lợi từ công nghệ.
♣ Khai thác nguồn lực của nước tiếp nhận đầu tư: Bản chất của đầu tư
trực tiếp nước ngoài là di chuyển nguồn lực sang một quốc gia khác để tiến hành hoạt động
đầu tư, nhằm tăng năng suất cận biên của vốn. Tuy nhiên, các nguồn lực được di chuyển
trong hoạt động FDI thường là các nguồn lực động: Vốn, công nghệ…Chính vì thế, hoạt
động FDI thường được đi kèm với việc sử dụng các nguồn lực sẵn có ở nước tiếp nhận đầu
tư: Tài nguyên thiên nhiên sẵn có, nguồn lao động rẻ mạt, …việc tận dụng các nguồn lực rẻ
tại nước tiếp nhận đầu tư sẽ giúp tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm giá thành từ đó tăng lợi
nhuận của công ty.
♣ Tránh các rào cản thương mại: việc sử dụng nguồn lực rẻ và sẵn có tại
các nước tiếp nhận đầu tư được coi là một động lực mạnh mẽ thôi thúc đầu tư FDI từ các
nước phát triển sang các nước đang phát triển. Tuy nhiên, một trong những động lực khác
thúc đẩy FDI chính là việc tránh các xung đột thương mại. Thế giới phẳng, là một tính từ
được sử dụng phổ biến để chỉ một thế giới mà các rào cản về không gian bị phá bỏ hoàn toàn,
thế giới của sự hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các rào cản thương
mại đã được xóa bỏ hoàn toàn. Trái lại, để bảo hộ cho nền sản xuất ở trong nước, các quốc
gia đang ngày càng trở nên khéo léo hơn dựng lên các rào cản thuế quan và phi thuế quan để
ngăn chặn dòng hàng hóa ào ạt đổ vào thị trường nội địa. Và khi này, FDI chính là con đường
giúp các công ty đa quốc gia mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tranh thủ nguồn lực ở
nước tiếp nhận đầu tư và tránh được các rào cản thương mại.
1.1.1.3.Vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước tiếp nhận đầu tư.
♣ FDI là nguồn vốn bổ sung vốn quan trọng cho nhu cầu đầu tư trong
nước: lý thuyết cái vòng luẩn quẩn chỉ rõ thiếu vốn chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới
cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói không thể kết thúc đối với các nước đang phát triển. Để
thoát ra khỏi tình trạng đó, các nước đang phát triển cần một “cú hích” từ bên ngoài. Đó
chính là nguồn vốn từ bên ngoài, mà FDI là nguồn vốn chiếm vai trò rất quan trọng. Ngoài ra,
FDI có ưu điểm so với các nguốn vốn từ bên ngoài khác đó là: không gây ra gánh nặng nợ
nần đối với quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư. Hơn nữa, do chủ đầu tư trực tiếp vận hành đầu tư
nên bên tiếp nhận đầu tư không phải chịu trách nhiệm về hiệu quả của hoạt động đầu tư.
Vậy điều gì đã chi phối tốc độ, lưu lượng và hướng chảy của dòng vốn FDI trên toàn cầu? Đó
là kết quả của sự tương tác qua lại của cả ba môi trường đầu tư: môi trường đầu tư trong
nước, môi trường đầu tư của nước đi đầu tư và môi trường quốc tế.
1.1.2.1.Môi trường đầu tư trong nước tiếp nhận đầu tư
Môi trường đầu tư của nước chủ nhà bao gồm nhiều nhân tố: Sự ổn định về chính trị,
môi trường luật pháp, vị trí địa lí điều kiện tự nhiên, các nguồn lực sẵn có trong nước, cơ sở
hạ tầng….
♣ Sự ổn định chính trị: Tình hình chính trị ổn định là nhân tố hàng đầu ảnh hưởng
tới dòng vốn FDI: Bởi lẽ, sự ổn định về mặt chính trị trước hết sẽ bảo vệ an toàn cho nguồn
vốn của nhà đầu tư và các kết quả đầu tư khác, đảm bảo tính nhất quán trong chính sách của
chính phủ đối với hoạt động FDI, giữ vững các định hướng và con đường phát triển kinh tế.
♣ Sự ổn định môi trường kinh tế Vĩ mô: thể hiện ở một số chỉ tiêu như: năng lực
quản lý kinh tế vĩ mô của chính phủ, độ lớn và mức độ dao động của các biến số vĩ mô như :
tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ lạm phát, cán cân thương mại, tỉ giá hối đoái, lãi suất ngân hàng, tỉ lệ
thất nghiệp…những biến số vĩ mô này giống như cái cặp nhiệt độ, đo tình trạng nóng lạnh
của nền kinh tế. Sự ổn định của các biến số vĩ mô một mặt chứng tỏ năng lực quản lý kinh tế
vĩ mô của nhà nước, mặt khác nó sẽ giảm bớt rủi ro cho các nhà đầu tư, và trực tiếp tác động
tới các chỉ tiêu hiệu quả của dự án đầu tư.
♣ Môi trường luật pháp: Môi trường pháp lí hoàn thiện, đầy đủ là yếu tố đảm bảo
quá trình thực hiện và quản lý hoạt động đầu tư hiệu quả. Một môi trường pháp lí hiệu quả là
một môi trường mà hệ thống luật pháp đầy đủ, hoàn thiện, có tính cưỡng chế cao, nhất quán
và ổn định. Môi trường pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư bao gồm: Luật đầu tư, quy
định về sở hữu trí tuệ, luật thuế, luật doanh nghiệp, luật xây dựng, luật tài nguyên và môi
trường….
♣ Vị trí và điều kiện tự nhiên: các nhân tố như vị trí địa lí, đặc điểm địa hình, tài
nguyên khí hậu, cũng có tác động tới hoạt động FDI vì nó sẽ quyết định lĩnh vực đầu tư,
khả năng sinh lời của dự án đầu tư. Một vị trí địa lý thuận lợi đồng nghĩa với việc điều kiện
sản xuất thuận lợi, dễ dàng, tiếp cận vùng nguyên liệu dễ dàng, thị trường rộng lớn…
♣ Đội ngũ lao động: bao gồm: số lượng, chất lượng đội ngũ lao động, và chi phí sử
dụng lao động. Như đã phân tích ở trên, lao động là nhân tố ít được di chuyển cùng dòng vốn
tranh độc quyền và cần sản xuất với quy mô lớn, đây chính là động lực để các công ty đa
quốc gia đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
♣ Các chính sách thúc đầy đầu tư ra nước ngoài. Chính phủ các nước có thể có những
chính sách để kìm hãm hay thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài. Bên cạnh đó, việc kí kết các hiệp
định song phương và đa phương về đầu tư sẽ là cơ sở đáng tin cậy thể hiện cam kết bảo vệ
các nhà đầu tư của nước mình khi đầu tư sang nước đối tác. Hiệp định này cũng mở ra những
điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư như chống phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước
với nhà đầu tư nước ngoài…Chính sách bảo hiểm đầu tư cũng là yếu tố tác động tới quyết
định của nhà đầu tư vì nhờ chính sách này, nhà đầu tư đã chuyển giao các rủi ro có khả năng
đe dọa tính hiệu quả của dự án đầu tư sang các nhà bảo hiểm, nhờ vậy, yên tâm đầu tư.
1.1.2.3.Môi trường đầu tư quốc tế
Xu hướng đối thoại thay cho đối đầu, liên kết kinh tế theo khối và mức độ ảnh hưởng và bành
trướng của các công ty đa quốc gia (TNCs) là những nhân tố chính của môi trường đầu tư
quốc tế ảnh hưởng tới dòng FDI
1.2. Một số vấn đề về khủng hoảng tài chính toàn cầu
1.2.1.Diễn biến, nguyên nhân và hậu quả của khủng hoảng tài chính toàn cầu
1.2.2.1. Các mốc chính của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu được cho là có nguyên nhân trực tiếp từ tình trạng bong
bóng của thị trường bất động sản ở Mỹ, vốn đã diễn ra ngay từ năm 2005.
Một số mốc quan trọng của cuộc khủng hoảng nhà đất tại Mỹ, trước khi con bệnh lây lan
sang lĩnh vực tài chính và đe dọa suy thoái kinh tế toàn cầu:
Từ năm 2002-2004: Giá nhà ở một số bang của Mỹ như Arizona, Califonia, Floria, Hawaio,
Nevada tăng bình quân 25% một năm và sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu
Năm 2005: Bong bóng bất động sản vỡ tung tại Mỹ vào tháng 8/2005. Thị trường bất động
sản tạm gián đoạn ở một vài bang của Mỹ, vào cuối mùa hè năm 2005 khi tỉ lệ lãi suất tăng từ
1% lên 5.35%, do có nhiều nhà kinh doanh bất động sản đánh giá thấp thị trường
Năm 2006: thị trường bất động sản tiếp tục đà suy giảm không phanh. Giá nhà giảm, hoạt
động kinh doanh bất động sản trầm lắng dẫ tới một lượng cung nhà tăng đáng kể.
Năm 2007: Kinh doanh bất động sản tiếp tục suy giảm. Số lượng nhà tồn đọng tăng cao nhất
kề từ năm 1989. Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 triệu tổ chức cho vay
Các mốc thời gian diễn ra liên tục, dồn dập báo hiệu một cuộc khủng hoảng tài chính có tầm
cỡ thế kỉ đang bùng nổ và lan nhanh như hiệu ứng Domino.
1.2.2.2. Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính
1.2.2.2.1. Bong bóng bất động sản
Bong bóng bất động sản- dường như là cụm từ được nhắc đến thường xuyên nhất trong giai
đoạn khủng hoảng tài chính, khi người ta cố tìm cách lí giải nguyên nhân nào đã dẫn tới cuộc
khủng hoảng như hiện nay. Bong bóng là gì? Lý giải vấn đề này có một định nghĩa và cách
nhìn khá xác đáng:
Bong bóng là:
1. Một chu kỳ kinh tế đặc trưng bởi quá trình mở rộng nhanh chóng sau một giai
đoạn thị trường thu nhỏ trầm lắng.
2. Hiện tượng giá tài sản tăng bùng phát, thường vượt ra ngoài giới hạn đảm bảo
của các hệ số tài chính cơ bản và xuất hiện ở một số ngành nhất định, tiếp sau
hiện tượng này là sự sụt giá rất nhanh và mạnh cùng làn sóng ồ ạt bán ra.
3. Là một học thuyết mô tả hiện tượng giá một loại hàng hóa vượt quá giá trị
chính xác của chúng và cứ tiếp tục tăng như vậy cho đến khi giá đột ngột rơi tự
do và quả bong bóng vỡ.
Giống như một bong bóng xà phòng mà trẻ con thường thích thổi, bong bóng
đầu tư hình thành và tạo cho người ta cảm giác nó sẽ tồn tại mãi mãi. Nhưng
bản chất những bong bóng xà phòng không được cấu tạo từ một vật liệu có
thực, vỡ là kết quả tất yếu. Khi sự "vỡ" xảy ra, tiền đầu tư theo ảo giác bong
bóng đó cũng sẽ bay theo gió.
Bong bóng vỡ tất yếu dẫn tới sự sụp đổ:
Sụp đổ là hiện tượng suy giảm nhanh và lớn của tổng giá trị toàn thị trường,
thông thường là gắn với sự "vỡ" của một bong bóng. Nguyên nhân của mối
quan hệ khăng khít này là vì khi bong bóng vỡ, sẽ có rất nhiều nhà đầu tư cố
gắng bán hết hàng hóa để rút tiền ra khỏi thị trường, những hành động này xảy
ra cùng một lúc, tạo ra những làn sóng bán ồ ạt trong khi không có, hoặc có rất
ít nhu cầu mua vào, kết quả là thua lỗ trầm trọng. Hành động bán một cách
hoảng loạn là biểu hiện chung của thị trường sau tiếng vỡ của bong bóng và là
Các MBS- chứng từ bảo đảm bằng các khoàn vay thế chấp: Các ngân hàng thương mại cho
người tiêu dùng vay tiền mua nhà với lãi suất thấp dưới dạng các khoàn vay dưới chuẩn. Sau
đó, hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Fredie Mac đổ vốn vào thị
trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản vay của các ngân hàng, sau đó biến chúng
thành các chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp- MBS, rồi bán lại cho các nhà
đầu tư, đặc biệt là các ngân hàng khổng lồ. Thị trường công cụ phái sinh MBS cũng diễn biến
hết sức sôi nổi. Đánh hơi thấy lợi nhuận, các tập đoàn bào hiểm lập tức phát hành các CDS-
loại hình dịch vụ trao đổi nợ tín dụng . các công ty bảo hiểm phát hành các CDS để bán lại
cho các nhà đầu tư nắm giữ MBS để thu được các khoản thu định kì kèm theo cam kết sẽt
thanh toán nợ cho bên mua CDS trong trường hợp bên thứ ba không tră được nợ. chính CDS
được coi là vũ khí hủy diệt thị trường tài chính vì có CDS, nghĩa là nhà đầu tư đã chuyển giao
rủi ro sang cho các công ty bảo hiểm nên nhà đầu tư càng sẵn sàng mua thêm MBS, và khi số
lượng MBS phát hành ngày càng nhiều thì nhu cầu các CDS càng nhiều. Việc này dẫn tới các
công ty bán bảo hiểm càng mạnh tay hơn trong việc bán các CDS ra thị trường, bất chấp khả
năng bảo đảm của mình. Hơn nữa, bản thân CDS cũng trở thành một công cụ tài chính phái
sinh và được mua bán trao đổi trên thị trường.
Và lúc này, thị trường tài chính như một quả bom hẹn giờ, chỉ chờ đúng thời điểm là phát nổ
và gây ra tác động khủng khiếp tới toàn bộ nền kinh tế thông qua sự phát triển đa dạng của thị
trường tài chính và sự phụ thuộc của toàn bộ nền kinh tế vào cỗ máy tài chính đang trục trặc
đó.
1.2.2.2.3. Khủng hoảng lòng tin của các nhà đầu tư
Sự khủng hoảng lòng tin của các nhà đầu tư tuy không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới
khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng chính nó là một tác nhân khiến cho cuộc khủng hoảng
ngày càng lan rộng và trầm trọng hơn. Một khi bong bóng bất động sản nổ tung, khả năng trả
nợ của những người đầu cơ nhà không còn, các ngân hàng phải trưng thu các ngôi nhà vốn là
tài sản bảo đảm của các khoản vay dưới chuẩn, để bán ra hòng thu lại tiền, cung nhà tăng đột
biến, giá bất động sản suy giảm nghiêm trọng…Lòng tin của nhà đầu tư về khả năng thnah
toán của ngân hàng bị suy giảm, càng tìm cách trốn chạy khỏi thị trường bất cứ giá nào, dẫn
tới tình trạng bán tháo chứng khoán trên toàn cầu, han chế cho vay của hàng loạt ngân hàng,
và từ đó tác động lan truyền ra toàn thế giới càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng hơn.
lượng vốn khổng lồ của các nhà đầu tư mua MBS, CDS, các ngân hàng thương mại không
bán các khoản vay của mình trước kia và cả các công ty bảo hiểm bảo lãnh cho các MBS bốc
hơi khỏi thị trường. Bong bóng bất động sản vỡ không chỉ tác động tới thị trường bất động
sản mà lan tỏa rộng khắp thông qua những mối quan hệ đan xen, nhằng nhịt giữa các chủ thể
tham gia vào thị trường tài chính toàn cầu. Vấn đề càng trở nên nghiêm trọng hơn khi mà sự
khan hiếm tín dụng hoành hành có thể dẫn tới nguy cơ không chỉ môt cuộc khủng hoảng tài
chính mà là sự suy thoái kinh tế toàn cầu. Sự mất lòng tin của các nhà đầu tư gây ra một tâm
lý bầy đàn hoảng loạn, các nhà đầu tư đua nhau bán tháo các công cụ đầu tư mạo hiểm để tìm
cách bảo tồn vốn.
1.2.2. Các biện pháp chống đỡ của chính phủ các nước và cộng đồng quốc tế
để giải cứu thị trường
Trước sự tụt dốc không phanh của thị trường bất động sản và sự bất ổn của thị trường tài
chính, Chính phủ Hoa Kì bắt buộc phải ra tay cứu nguy để ngăn chặn khủng hoảng kinh tế ở
phương diện rộng lớn. Chính phủ Mỹ đã lần lượt cú nguy cho bồn công ty khổng lồ có liên
quan trực tiếp tới cuộc khủng hoảng thị trường dây chuyền bất động sản – tài chính.
Sau những động thái cứu nguy cho thị trường, cuộc khủng hoảng tài chính phần nào đã bớt
nóng, và những thông tin về tình trạng bán lại, phá sản, thông tính , bị quốc hữu hóa, sát nhập
hay thua lỗ …của các ngân hàng, các định chế tài chính tạm thời đã lắng dịu…Nhưng lức
này, tất cả các quốc gia cần phải hiệp lực lại, cùng thực hiện những nỗ lực để giải cứu sự sụp
đổ của thị trường tài chính và ngăn chặn những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tới
suy thoái kinh tế toàn cầu.
Các biện pháp chống đỡ của thị trường các nước được chia ra thành hai nhóm giải pháp lớn
sau đây:
1.2.2.1. Các biện pháp nhằm bảo đảm và duy trì hoạt động của các tổ chức tài chính
Các tổ chức tài chính tín dụng chịu ảnh hưởng đầu tiên và nặng nề nhất của cuộc khủng
hoảng tài chính thế giới, vì thế, biện pháp đầu tiên được chính phủ các nước đặc biệt quan
tâm chính là duy trì hoạt động của các tổ chức tín dụng, ngăn chặn nguy cơ các tổ chức này bị
"khai tử" hàng loạt sẽ gây rối loạn cho toàn bộ nền kinh tế giống như khi mạch máu trong cơ
thể con người không thể đảm nhận được chức năng dẫn máu vậy.
Ngăn chặn nguy cơ rút tiền gửi hàng loạt của dân chúng tại các tổ chức tài chính trung
các trạm soát vé đường cao tốc…
Chính phủ Singapore đưa ra bốn giải pháp cụ thể:
Hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp bằng cách hỗ trợ trực tiếp cho người lao động có
thu nhập thấp trong doanh nghiệp> Biện pháp này một mặt không làm tăng thêm chi phí cho
doanh nghiệp do phải tăng lương cho người lao động, mặt khác, người lao động có thu nhập
thấp thì khoản hỗ trợ sẽ dùng để tiêu dùng, từ đó kích cầu tiêu dùng. Hỗ trợ tín dụng cho
doanh nghiệp thông qua hỗ trợ lãi suât vốn vay, mở rộng bảo lãnh cho doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
Giảm lương cho nhân sự cao cấp làm việc cho doanh nghiệp
Đẩy mạnh đào tạo và đào tạo lại cho nguồn nhân lực, hỗ trợ đào tạo cho người lao
động.
Trong trường hợp phải cắt giảm việc làm do tỉ lệ thất nghiệp gia tăng thì cắt giảm lao
động nước ngoài trước.
1.2.3. Tình hình kinh tế Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế
1.2.3.1. Diễn biến nền kinh tế Việt Nam trước thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính thế
giới phát nổ
Năm 2008 quả là một năm đầy khó khăn và biến cố với nền kinh tế Việt Nam, khi mà nền
kinh tế Việt Nam phải đối mặt với những bất ổn kinh tế từ chính nội tại do sức ép từ sự tăng
trưởng quá nóng từ năm 2007 và sự tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính thế
giới. Với kì vọng từ sự tăng trưởng kinh tế năm 2007, những hân hoan về sự tăng trưởng của
thị trường chứng khoán, từ số liệu đáng mừng trong thu hút FDI, Việt Nam bước vào năm
2008 với một sức ép rất lớn của tăng trưởng dường như quá sức với một nền kinh tế đang
phát triển. Kết quả là sự gia tăng giá cả bất thường của hàng loạt các mặt hàng, sự chững lại
của thị trường chứng khoán, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng đột biến và vượt qua ngưỡng một
con số được duy trì từ các năm trước, mục tiêu tăng trưởng đang bị đe dọa bởi tỉ lệ lạm phát
quá cao. Lãi suất ngân hàng leo thang từng ngày môt cách chóng mặt,để bù lại mức lạm phát.
Đã có lúc lãi suất ngân hàng lên mức đỉnh 24 - 25%/năm, lãi suất huy động cũng đạt đỉnh
20%/năm. Nhiều ngân hàng thương mại cho vay cầm chừng, doanh nghiệp vay vốn khó khăn
khi lãi suất quá cao thậm chí cao hơn nhiều so với tỉ suất lợi nhuận bình quân của doanh
nghiệp, trong khi các đầu vào khác đặc biệt là nguyên vật liệu cũng tăng với tốc độ chóng
1.2.2.1.1. ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới tới thị trường tài chính Việt Nam
Mức độ ảnh hưởng của thị trường tài chính thế giới tới thị trường tài chính VIệt Nam là chưa
nhiều bởi các lí do sau đây: thị trường tài chính Việt Nam tuy có độ mở nhất định song lại
chưa hội nhập sâu vào thị trường tài chính thế giới, dường như, thị trường tài chính Việt Nam
mới chỉ mở cửa cho dòng vào trong khi dòng tài chính ra thì còn rất hạn chế; Lí do thứ hai là
thị trường tài chính Việt Nam còn khá non trẻ, mới phát triển ở dạng sơ khai chứ chưa có
những mối quan hệ đan xen, ràng buộc phức tạp như các thị trường tài chính phức tạp khác,
vì thế, cho dù có xảy ra bong bóng bất động sản ở Việt Nam- đây vốn là một nguy cơ đã từng
dấy lên những quan ngại thì mức độ ảnh hưởng tới thị trường tài chính cũng không khủng
khiếp như vậy. Thị trường tài chính Việt Nam ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính chủ
yếu có thể xảy ra ở ba kênh sau:
Dự trữ ngoại hối của Việt Nam: Dự trữ ngoại hối của Việt Nam gửi chủ yếu tập
trung vào các ngân hàng TƯ của các quốc gia như Mỹ, Đức, Pháp, Anh… các tổ chức tài
chính quốc tế, chiếm 82%. 18% còn lại gửi vào các ngân hàng đầu tư thương mại quốc tế có
uy tín, được xếp hạng mức độ tín nhiệm cao Các ngân hàng vừa rồi bị phá sản ở Mỹ, Việt
Nam hoàn toàn không có quan hệ.Về dự trữ ngoại hối của Việt Nam, ngày 19/6/2008, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam đã công bố lần đầu tiên dự trữ ngoại hối ròng của Việt Nam là 20,7
tỷ USD. Từ đó đến nay, dự trữ ngoại hối Việt Nam tiếp tục tăng 1,2 tỷ USD. Mức tăng này
cho thấy sự phát triển ổn định, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và đặc biệt là doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.
Quan hệ giữa Ngân hàng Việt Nam với các ngân hàng quốc tế. Các ngân hàng Việt
Nam chưa mua cổ phiếu của nước ngoài, Với nước ngoài, các ngân hàng chỉ hợp tác dưới
dạng gửi tiền là chính. Cùng lắm thì mua một số giấy tờ có giá giống như trái phiếu kho bạc ở
Việt Nam, bởi nó có tính an toàn cao. Ngoải ra, Các ngân hàng trong nước chủ yếu giao dịch
với các ngân hàng thương mại. Trong khi đó, cuộc khủng hoảng ở nước ngoài tập trung ở các
ngân hàng đầu tư vì thế cũng ít chịu ảnh hưởng. Tuy nhiên, sau phản úng vào 3/10, Thủ tướng
có văn bản chỉ đạo ngân hàng rà soát các khoản tiền gửi ở nước ngoài. Một số ngân hàng Việt
Nam như Vietcombank đã rút bớt các khoản tiền gửi ở nước ngoài. Việc rút tiền này nhằm
đảm bảo an toàn cho khoản tiền gửi, mức thiệt hại do mất phần lãi suất là không đáng kể. Tuy
nhiên, với các tài khoản nestro,tài khoản nhằm phục vụ cho các nghiệp vụ bao thanh toán,
trên đà giảm sút. Ví dụ vào ngày 29/9/2008, khi nghe tin lần đầu Hạ nghị viện Mỹ không
thông qua kế hoạch cứu trợ tài chính 700 tỷ $, không chỉ có các thị trường chứng khoán lớn
trên thế giới giảm giao dịch, chỉ số chứng khoán giảm mà giao dịch trên sở Giao dịch thành
phố Hồ Chí Minh và sở giao dịch chứng khoán Hà Nội cũng hết sức trầm lắng.
1.2.2.1.2. ảnh hưởng của Khủng hoảng tài chính thế giới tới kinh tế Việt Nam
ảnh hưởng của Khủng hoảng tài chính tới nền kinh tế Việt Nam là có, tuy mức độ chậm hơn
và khó đoán định được hậu quả. Trước mắt, có thể thấy, khủng hoảng tài chính toàn cầu có
thể tác động tới các khía cạnh chủ yếu sau của nền kinh té Việt Nam:
Xuất nhập khẩu:
Theo số liệu của tổng cục thống kê, kim ngạch xuất khẩu của VIệt Nam liên tục giảm, trong
những tháng gần đây. Kim ngạch xuất khẩu tháng 7/2008 chỉ đạt 6.55 tỷ $, đến tháng 11/2008
chỉ còn 4.8 tỷ $, giảm 4.8% so với tháng 10 năm 2008. Đến tháng 12/2008 cũng chi đạt 4.9 tỷ
$. Tính chung cho cả năm 2008 thì tổng kim ngạch xuất khầu đạt 32.90 tỷ $, tăng khoảng
30% so với cùng kì, song nếu trừ yếu tố tăng giá của 5 mặt hàng là dầu thô, gạo, than đá, cao
su và cà phê thì tôc độ tăng kim ngạch xuất khẩu chì là 18%. Về thị trường, do nhu cầu tiêu
thụ giảm và khách hàng không có khả năng thanh toán, nên nhiều đơn đặt hàng xuất khẩu vào
Mỹ, Châu Âu, EU, Nhật với các mặt hàng: dệt may, hạt tiêu, hạt điều, đồ gỗ…đều giảm từ
l20-30%. Hàng thúy sản xuất khẩu vào Nga bị ứ động do không có khả năng thanh toán.
Nhiều hợp đồng xuất khẩu bị hoãn, hoặc phải lùi thời hạn. Việc kí kết các hợp đồng mới gặp
khó khăn, nhiều mặt hàng xuất khẩu giảm giá từ 20-40% so với tháng 9 năm 2008. Theo
thống kê tình hình nhập khẩu tháng 2/2009: Kim ngạch xuất khẩu tháng 2 ước đạt 4,3 tỷ
USD, tăng 15,5% so với tháng 1/2009; nhập khẩu khoảng 4,4 tỷ USD, tăng 32,2% so với
tháng 1. Tuy nhiên, xuất siêu trong 2 tháng đầu năm 2009 khoảng 295 triệu USD, bằng 3,7%
kim ngạch xuất khẩu. Mặc dù kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu trong tháng 2 đều tăng khá
so với tháng 1/2008 nhưng lại có sự sụt giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2008. Tính chung 2
tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 8 tỷ USD, giảm 5% so với cùng kỳ năm 2008; trong
đó xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 2,8 tỷ
USD, giảm gần 14% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
giảm sút so với cùng kỳ năm 2008, như các mặt hàng: cao su giảm hơn một nửa (50,5%); dây
điện và cáp điện giảm 44,6%; dầu thô giảm 42,4% về giá trị nhưng lại tăng 26,7% về lượng;
Nam và kiều bào từ thị trường Mỹ chiếm khoảng 40% tổng lượng kiều hối gửi về hàng năm.
Theo đó, khi có khủng hoảng kinh tế, thì thu nhập của người Việt Nam tại nước ngoài nói
chung và tại Mỹ nói riêng chắc chắn bị ảnh hưởng, hơn nữa, đối tượng bị thất nghiệp đầu tiên
là lao động xuất khẩu ra nước ngoài, nên lượng kiều hồi về nước sẽ không giảm đi. Vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài: Phần này sẽ được phân tích kĩ hơn ở chương sau.
Tiêu dùng trong nước: thị trường tiêu thụ trên thế giới bị thu hẹp do tỉ lệ thất
nghiệp tăng cao và người dân thắt chặt chi tiêu khiến xuất khẩu của Việt Nam bị ảnh hưởng.
Xuất khẩu giảm tới lượt nó khiến cho sản xuất trong nước bị đình trệ, quy mô sản xuất bị thu
hẹp, tỉ lệ thất nghiệp trong nước tăng cao, dẫn tới thu nhập của người lao động bị ảnh hưởng.
Khi đó, nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng giảm theo. Như vậy, cầu tiêu dùng cả trong nước
và thế giới đều giảm khiến cho sản lượng tiêu thụ giảm và càng đẩy doanh nghiệp Việt Nam
vào tình thế khó khăn.
Ngành Du lịch giảm sút: Không có gì là khó hiểu khi ngành du lịch sẽ là một
trong những ngành đầu tiên chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. Vì đây vốn là
ngành kinh tế mà cầu tiêu dùng có độ nhạy cao so với mức thu nhập. Suy thoái kinh tế dẫn tới
sản xuất đình trệ, tỉ lệ thất nghiệp gia tăng, thu nhập của người lao động giảm sút, và họ buộc
phải thắt chặt chi tiêu do thu nhập giàm và lo ngại nguy cơ kinh tế tiếp tục suy thoái… Du
lịch sẽ nằm đầu tiên trong danh sách thắt chặt chi tiêu của đa số người lao động. Chính vì vậy,
lượng khách quốc tế nói chung và đặc biệt là khách từ Mỹ tới Việt Nam sẽ giảm sút, đồng
thời mức thi tiêu của họ tại thị trường Việt Nam cũng sẽ giảm, từ đó tác động tới nguồn thu
ngoại tệ. Theo số liệu của tổng cục thống kê, Tính đến tháng 12/2008, khách quốc tế đến Việt
Nam chỉ tăng có 1.1% so với năm 2007, mức thấp nhất trong nhiều năm. Hơn nữa, lượng
khách quốc tế đến Việt Nam có xu hướng giảm dần sau mỗi tháng trong những tháng liên tiếp
gần đây, mặc dù, theo thông lệ thì tháng 9 đến tháng 3 được coi là mua du lịch cao điểm.
CHƯƠNG II: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
ĐỐI VỚI DÒNG VỐN FDI VÀO VIỆT
NAM TRONG KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH
2.1. Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong
giai đoạn 1988-2008
% thực hiện
1990-1999 2849 41816 14.68 17049 40.77
2000 391 2839 7.26 2413 84.99
2001 555 3143 5.66 2450 77.95
2002 808 2999 3.71 2591 86.40
2003 791 3191 4.03 2650 83.05
2004 811 4548 5.61 2852 62.71
2005 970 6840 7.05 3309 48.38
2006 987 12004 12.16 3956 32.96
2007 1544 21348 13.83 4500 21.08
2008 1171 60217 51.42 11500 19.10
Tổng 10877 158945 14.61 53270 33.51
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ
USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉ bằng 81,8% năm
1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là các dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ.
Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á, một số dự án đầu tư đang
thực hiện đã bị hủy bỏ chủ yếu do những khó khăn về tài chính.
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồi
chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% so với năm 1999; năm
2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng 91,6% so với năm
2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm 2002. Và có xu hướng tăng nhanh từ
năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006
tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với
năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm 1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng
hoảng.
Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ USD vượt
73% vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu. Nhìn chung trong 5 năm
2001-2005, vốn FDI cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao hơn năm trước (tỷ trọng tăng
trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy mô vừa và nhỏ. Đặc biệt trong 2 năm
Thứ hai, FDI năm 2008 được đánh dấu bằng sự xuất hiện của các siêu dự
án, mà các siêuu dự án quy mô vốn lớn nên thời gian chuẩn bị và thực hiện đầu
tư dài, chẳng hạn như đối với các dự án xây dựng bất động sản, thông thường
thời gian xây dựng kéo dài từ 3 đến 5năm, thậm chí có dự án lên tới 7,8 năm,
VĐK đầu tư đã tính cho cả đời của dự án trong khi vốn FDI thực hiện sẽ được
huy động và giải ngân trong từng năm một.
Thứ ba, lạm phát tăng cao trong suốt năm 2007 và kéo dài cho tới tháng 9
năm 2008 mới chững lại và giảm xuống, trong những tháng cao điểm như tháng
3,4,5 năm 2008 tỉ lệ lên tới gần 5% dẫn tới việc giá cả nguyên vật liệu đầu vào
cho đầu tư tăng rất cao như giá thép, giá xi măng,vv… các doanh nghiệp đều bị
ảnh hưởng, nhiều doanh nghiệp đã dừng việc thi công để chờ giá giảm mới tiếp
tục đầu tư.
Thứ tư, có tình trạng mua bán giấy chứng nhận đầu tư và nhiều doanh
nghiệp FDI đăng kí dự án nhằm chiếm được những vị trí đẹp, những ưu đãi về
sau. Tuy nhiên việc này cũng chưa có 1 khẳng định chính thức từ phía bộ kế
hoạch đầu tư về thực trạng này.
Các nguyên nhân trên phần nào lí giải tại sao vốn đầu tư đăng kí và thực hiện
luôn tồn tại một khoảng cách. Tuy nhiên, dường như với Việt Nam, khoảng cách
đó đang ngày càng nới rộng ra, điều đó có thể lí giải bởi những khó khăn bất
thường mà nền kinh tế Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung phải đối mặt
trong năm 2008. Nhưng, có thể, những cam kết cải thiện môi trường đầu tư của
Việt Nam chưa được thể hiện bằng hành động hiệu quả và thỏa mãn được đòi
hỏi của nhà đầu tư.
2.1.1.3. Quy mô bình quân các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong
giai đoạn 1988-2008
Bảng 2.2: Quy mô trung bình của một dự án FDI trong
Giai đoạn 1990-2008
Đơn vị: Triệu $
Năm số dự án FDI Đăng kí Tb vốn/ DA
1990-2007 9706 98728 10.172
5 Xây dựng tổ hợp nghỉ
dưỡng
Kiên Giang Tập đoàn Starbay Holding Ltd. 1.6
6 Khách sạn khu vui
chơi giải trí ẩm thực
Bà Rịa - Vũng Tàu Tập đoàn Good Choice 1.3
7
Dự án bất động sản
New City
Phú Yên New city Properties 4.3
8
Tổ hợp hóa dầu Long
Sơn
Long sơn- Vũng Tàu PVNp 18% Vinachem 11%
Công ty TNHH Vina SCG53%;
Công ty TNHH nhựa và hóa
chất Thái Lan 18%.
3.7
9
Đô thị đại học quốc
tế Berjaya
TP Hồ Chí Minh Malaisia 3.5
10
Gtel Mobile
GTel nắm giữ 60% cổ phần,
Vimpel - Com 40%
1.8
Tổng 44.28
Nguồn: />Mười dự án FDI trấn giữ vị trí đầu bảng về số vốn FDI đăng kí đã chiếm tới 73.4% tổng FDI
đăng kí vào Việt Nam trong năm 2008. Điều đáng nói là các dự án này chủ yếu nằm trong
Thủy sản 138 1.41 470 0.31
III Dịch vụ 2,524 25.75 57,182 38.18
Dịch vụ 1,438 14.67 3,333 2.23
GTVT-Bưu điện 235 2.40 6,255 4.18
Khách sạn-Du lịch 250 2.55 15,412 10.29
Tài chính-Ngân hàng 68 0.69 1,058 0.71
Văn hóa-Ytế-Giáo dục 294 3.00 1,759 1.17
XD Khu đô thị mới 14 0.14 8,225 5.49
XD Văn phòng-Căn hộ 189 1.93 19,362 12.93
XD hạ tầng KCX-KCN 36 0.37 1,781 1.19
Tổng số 9,803 100.00 149,775 100.00
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Đầu tư vào công nghiệp luôn chiếm tỉ trọng lớn cả về số dự án đầu tư và lượng vốn
đầu tư. Tính chung cho cả giai đoạn 1988-2008, số dự án FDI vào lĩnh vực công nghiệp là
6303 dự án trên tổng số 9803 dự án FDI còn hiệu lực, chiếm 64.3%, với tổng số vốn đăng kí
là 87.8 tỷ $ chiếm 58.62% số vốn FDI đăng kí. Phân tích trong nội ngành cho thấy, lĩnh vực
công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng chiếm tới 27.95% và 26.54% số vốn, tương ứng với
10.47% và 31.49% số vốn. Sự chênh lệch về tỉ trọng đối với số dự án và số vốn đầu tư đăng
kí là hoàn toàn phù hợp, nó cho thấy, các dự án công nghiệp nặng thường có quy mô vốn đầu
tư lớn hơn nhiều so với các dự án công nghiệp nhẹ. Đây cũng chính là các dự án có khả năng
tạo giá trị gia tăng cao và Việt Nam có lợi thế so sánh khi thu hút FDI. Nhờ vậy, cho đến nay
các dự án ĐTNN thuộc các lĩnh vực nêu trên (thăm dò và khai thác dầu khí, sản xuất các sản
phẩm công nghệ cao, sản phẩm điện và điện tử, sản xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may )
vẫn giữ vai trò quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và tạo nhiều việc làm
và nguồn thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp. Cơ cấu đầu tư có chuyển biến
tích cực theo hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và công
nghệ thông tin
Trong lĩnh vực Nông nghiệp: mặc dù FDI vào lĩnh vực Nông nghiệp là một trong
những nội dung được khuyến khích song do một số đặc điểm đầu tư vào Nông nghiệp mà
Công ty cổ phần 170 1.73 4130.87 2.76
Hợp đồng BOT,BT,BTO 9 0.09 1746.73 1.17
Công ty Mẹ - Con 1 0.01 98.01 0.07
Tổng 9803 100 149774.72 100.00
(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Phân theo hình thức đầu tư, ta thấy FDI vào Việt Nam chủ yếu thông qua hai con đường
chính đó là thành lập doanh nghiệp 100 vốn nước ngoài (chiếm 7574 dự án, tương ứng
77.26% với số vốn 87.6 tỷ $, chiếm 58.49% về số vốn) và liên doanh với một doanh nghiệp
trong nước (1822 dự án, chiếm 18.59% và 51.6 tỷ $ chiếm 34.44%). Trong khi đó, các hình
thức khác như công ty cổ phần, hợp đồng BOT, BTO, BT, hợp đồng hợp tác kinh doanh và
công ty mẹ con chỉ chiếm một tỉ lệ rất khiêm tốn cả về số lượng dự án và lượng vốn đăng kí.
Điều này cũng hoàn toàn bình thương bởi lẽ, hình thức công ty 100 vốn nước ngoài và liên
doanh là hai hình thức đầu tư FDI có nhiều ưu điểm hơn cả. Đối với hình thức 100% vốn
nước ngoài, thì nhà đầu tư chỉ phải tuân thủ những quy định về quản lý dự án đầu tư của
chính phủ nước sở tại, ngoài ra, nhà đầu tư được toàn quyền trong việc điều hành và quản lý
doanh nghiệp của mình, không bị ràng buộc hay bị bất kì sự ràng buộc nào khác, không mât
nhiều thời gian tìm tiếng nói chung.
Trong khi đó, Doanh nghiệp liên doanh lại có lợi thế đó là, nhà đầu tư nước ngoài có thể tận
dụng những cơ sở hạ tầng sẵn có của Đối tác Việt Nam, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh,
dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các yếu tố của môi trường đầu tư nước tiếp nhận. Trong khi
đó, các hình thức đầu tư khác vốn có nhiều giới hạn ngăn cản: như hình thức hợp đồng hợp
tác kinh doanh thì chỉ mang tính ngắn hạn, thời vụ, không sử dụng được triệt để các ưu thế
của các bên, hợp đồng BOT, BTO, BT thì chủ yếu đối với các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng,
khai thác tài nguyên…mà các dự án này thường đòi hỏi vốn lớn, tỉ suất lợi nhuận thấp, thời
gian thu hồi vốn lâu, mà thường là không tìm được tiếng nói chung giữa nhà nước tiếp nhận
đầu tư với chủ đầu tư về vấn đề giá cả.
2.1.4. Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác đầu tư
Bảng 2.6: Vốn và cơ cấu FDI vào Việt Nam phân theo đối tác đầu tư
Đối tác đầu tư
1988-2006
dự án vốn ĐK
1 Malaysia 55 14.94 4.70 24.79
2 Đài Loan 132 8.64 11.27 14.34
3 Nhật Bản 105 7.29 8.97 12.09
4 Singapore 101 4.47 8.63 7.41
5 Brunei 19 4.40 1.62 7.30
6 Canada 9 4.24 0.77 7.03
7 Thái Lan 32 3.99 2.73 6.62
8 BritishVirginIslands 49 3.94 4.18 6.54
9 SƯp 3 2.20 0.26 3.65
10 Hàn Quốc 292 1.80 24.94 2.99
11 Hoa Kỳ 53 1.49 4.53 2.47
12 Khãc 321 2.87 27.41 4.77
Tổng 1171 60.27 100.00 100.00
Nguồn: Nguồn: Vụ Đầu tư nước ngoài- Bộ kế hoạch và Đầu tư
Riêng trong năm 2008 đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, trong
đó có 11 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư vốn trên 1 tỷ USD. Malaysia đứng đầu với
55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD, chiếm 4,7 về số dự án và 24,8 về vốn đầu tư đăng ký.
Đài Loan đứng thứ 2 có 132 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD, chiếm 11,3%về số dự án và
14,3% về vốn đầu tư đăng ký. Nhật Bản đứng thứ 3 có 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD,
chiếm 9,0% về số dự án và 12,1% về vốn đầu tư đăng ký dự án. Singapore đứng thứ 4 có 101
dự án, vốn đầu tư đăng ký 4,46 tỷ USD, chiếm 8,6% về số dự án và 7,4% về số vốn đăng ký.
Brunei đứng thứ 5 có 19 dự án, vốn đầu tư 4,4 tỷ USD, chiếm 7,3% về vốn đầu tư đăng ký
2.1.5. Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương.
Với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, dòng vốn đâu tư trực tiếp nước ngoài thường chảy về "chỗ
trũng"- các vùng, các địa phương có môi trường đầu tư thuận lợi hơn. Điều đó lí giải vì sao
các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi thuộc các vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam và phía Bắc vẫn là những địa phương dẫn đầu thu hút ĐTNN, trong đó 5 địa
phương dẫn đầu
Theo bảng số liệu, tính đến hết năm 2007, có 5 địa phương dẫn đầu trong thu hút FDI của cả
nước là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa- Vũng Tàu. Đây là các địa
phương có điều kiện kinh tế xã hội phát triển cùng với các chính sách thông thoáng trong thu
hút FDI.
Theo vùng kinh tế, Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Bắc thu hút được 2220 dự án với số vốn
lên tới trên 25 tỷ $, tương ứng 22.87% số dự án và 25.32% số vốn đăng kí còn hiệu lực.Trong
đó, dẫn đầu là Hà Nội với 987 dự án chiếm 10.17% số dự án FDI của cả nước, với số vốn
đăng kí là 12.4 tỷ $, chiếm 12.56 %. Tiếp theo lần lượt là Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hải Dương,
Hà Tây Bắc Ninh và Quảng Ninh
Vùng trọng điểm phía Nam là vùng kinh tế thu hút FDI lớn nhất trong cả nước, với 5293 dự
án tương ứng với 48.7 tỷ $ vốn đăng kí, theo đó, các dự án FDI tại vùng này chiếm tới
54.53% số dự án và 49.33% số vốn đăng kí. Đây cũng là vùng kinh tế có bốn trên năm địa
phương thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất trên cả nước, là Tp. Hồ Chí Minh,
Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa- Vũng Tàu Một mặt, đây là vùng kinh tế có điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hôi thuận lợi. Hơn nữa, điều này cũng thể hiện sự thành công trong việc
triển khai thực hiện Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của Chính phủ và Chỉ thị
19/2001/CT-TTg ngày 28/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thu hút và nâng
cao hiệu quả ĐTNN thời kỳ 2001-2005
Vùng trọng điểm miền Trung thu hút được 491 dự án với tổng vốn đăng ký 8,6 tỷ USD qua
20 năm thực hiện Luật Đầu tư. Trong đó: Phú Yên (39 dự án với tổng vốn đăng ký 1,9 tỷ
USD) hiện đứng đầu các tỉnh miền Trung với dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Vũng Rô có
vốn đăng ký 1,7 tỷ USD. Tiếp theo là Đà Nẵng (113 dự án với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ USD),
Quảng Nam (15 dự án với tổng vốn đăng ký 1,1 tỷ USD) đã có nhiều tiến bộ trong thu hút
vốn đầu tư nước ngoài, nhất là đầu tư vào xây dựng các khu du lịch, trung tâm nghỉ dưỡng,
vui chơi đạt tiêu chuẩn quốc tế, bước đầu đã góp phần giảm tình trạng “cháy” buồng, phòng
cho khách du lịch, nhưng nhìn chung vẫn còn dưới mức nhu cầu và tiềm năng của vùng. Nhìn
chung, đây là khu vực có điều kiện tự nhiên phức tạp và khắc nghiệt hơn so với hai vùng kinh
tế phía Bắc và phía Nam, tuy nhiên lại có lợi thế rất lớn về thu hút Đầu tư trong lĩnh vực du
lịch, dịch vụ. Tây Nguyên cũng ở trạng thái thu hút vốn ĐTNN còn khiêm tốn như vùng
Đông Bắc và Tây Bắc, trong đó, tuy Lâm Đồng (93 dự án với tổng vốn đăng ký 318,4 triệu
Hàng nông sản 17.7 16.1 14.3 13.3 12.8 13.7 13.4 }14.8
Hàng lâm sản 1.1 1.2 1.2 1 0.7 0.8 0.8
Hàng thủy sản 10.1 12.1 12.1 10.8 9.1 8.4 8.4 7.8
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Phân tích có thể đưa ra một số kết luận sau về tình hình xuất khẩu của Việt Nam trong những
năm qua và trong năm 2009:
Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam tập trung vào ba loại hàng hóa chính: Nguyên
liệu thô; nông lâm thủy sản và hàng công nghiệp chế biến. Đây là các loại hàng hóa có giá trị
thấp, mang tính chất tiêu dùng thông thường. Nguyên liệu thô chủ yếu phục vụ cho ngành
công nghiệp năng lượng và có cầu tiêu dùng là cầu thứ phát, phụ thuộc vào cầu tiêu dùng các
loại hàng hóa khác. Vì thế, nhu cầu nguyên liệu thô sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất bởi cuộc
khủng hoảng tài chính thế giới, vì nhu cầu thị trường tiêu dùng thấp khiến các ngành công
nghiệp bị đình đốn. Hơn nữa, trước sức ép của khủng hoảng, giá của các loại nguyên liệu thô
cũng giảm khiển cho kim ngạch xuất khẩu loại hàng này giảm. Đối với nông lâm thủy sản thì
lại khác, đây là nhóm hàng hóa có cầu ít co giãn so với thu nhập do nó là mặt hàng thiết yếu,
vì thế, nhu cầu loại hàng này ít bị ảnh hưởng nhất bởi cuộc khủng hoảng, trong khi đó, đối
với các sản phẩm công nghiệp chế biến: như da giày, dệt may, đồ gỗ…thì cuộc khủng hoảng
tài chính dẫn tới thu nhập của người lao động giảm có thể dẫn tới hai xu hướng chính: xu
hướng thứ nhất: Nhu cầu tiêu thụ giảm do thu nhập của người tiêu dùng giảm sút, họ phải
thắt chặt chi tiêu do lo ngại cuộc khủng hoảng sẽ còn kéo dài và nguy cơ thất nghiệp đe dọa
ngay trước mắt, và xu hướng thứ hai, dường như đi ngược lại xu hướng thứ nhất: Đó là một
bộ phận người lao động có thu nhập bị giảm sút sẽ cơ cấu lại giỏ hàng tiêu dùng trước kia của
họ, vốn tập trung vào các nhóm hàng hóa tiêu dùng xa xỉ và giá trị cao sang các hàng hóa tiêu
dùng thông dụng và giá trị thấp hơn- vốn là thị trường của Việt Nam. Điều này sẽ khiến cho
nhu cầu các sản phẩm công nghiệp chế biến của Việt Nam tăng thêm. Như vậy, chưa thể biết
được xu hướng nào sẽ tác động mạnh hơn tới nhóm hàng thứ ba này.
Phân tích cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam dựa trên bảng số liệu ở trên, thì nhóm
hàng nguyên liệu thô chiếm khoảng 35 tổng kim ngạch xuất khẩu trong khi nhóm hàng công
nghiệp chế biến chiếm 45, Như vậy, có thể nói, xuất khẩu của Việt Nam chắc chắn sẽ bị ảnh
hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, và mức độ ảnh hưởng nặng nhất sẽ ở nhóm
2.2.1.3. Những hạn chế của môi trường đầu tư ở Việt Nam vẫn chưa khắc phục được
Theo báo cáo “Cảm nhận về môi trường kinh doanh của Việt Nam “ được thực hiện vào năm
2008, có 254 doanh nghiệp tham gia điều tra, trong đó có 77 là doanh nghiệp trong nước, 23
là doanh nghiệp nước ngoài; có 30,3 tổng số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất, 45,3
thuộc lĩnh vực dịch vụ, 31,9 thuộc lĩnh vực thương mại và 16,1 thuộc ngành khác. Có 14 tiêu
chí được đưa ra để các doanh nghiệp đánh giá về môi trường kinh doanh của Việt Nam, bằng
cách thức cho điểm theo thang điểm từ 1-4 trong đó 1 là thấp nhất và 4 là tốt nhất.
Một số vấn đề được phản ánh trong nghiên cứu” Cảm nhận về môi trường kinh doanh của
Việt Nam”
Bảng 2.11: Cảm nhận về môi trường kinh doanh ở Việt Nam
stt
Các chỉ tiêu
Các doanh
nghiệp DN nước ngoài DN trong nước
1 Cơ sở hạ tầng 1.94 1.77 1.98
2 Bảo vệ sở hữu trí tuệ 1.97 1.90 1.99
3 Hệ thống tòa án 2.11 1.82 2.18
4 Dịch vụ hành chính 2.14 1.92 2.21
5 Nguồn lao động có tay nghề 2.18 2.40 2.21
6 Tiếp cận đất đai 2.23 2.17 2.24
7 Tiếp cận ngoại hối 2.30 2.37 2.27
8 Khung pháp lý 2.31 2.13 2.37
9 Hệ thống thuế 2.34 2.27 2.36
10 Tiếp cận hành chính 2.35 2.22 2.39
11 Chi phí hoạt động kinh doanh 2.38 2.54 2.34
12 Quản lý kinh tế Vĩ mô 2.40 2.31 2.43
13 Khả năng cạnh tranh 2.43 2.58 2.38
14 Tiếp cận thông tin 2.45 2.26 2.51
Cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đều khá thống nhất về việc đánh giá