LỜI MỞ ĐẦU
Vĩnh Phóc là một trong 11 tỉnh của vùng Đồng Bằng Sông Hồng, mét
trong 8 tỉnh của vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Phía bắc giáp Thái Nguyên,
Tuyên Quang. Phía nam giáp Hà Tây, Hà Nội. Phía tây giáp tỉnh Phú Thọ.
Phía đông giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh thuộc ngoại thành Hà Nội,
tỉnh là cầu nối giao thông quan trọng giữa các tỉnh miền ngược, tỉnh Vân Nam
(Trung Quốc) với thủ đô Hà Nội. Hiện nay Vĩnh Phóc đang chuyển mình
thành một trong những thành phố vệ tinh quanh thủ đô Hà Nội, phát triển
mạnh cả về kinh tế và xã hội.
Vĩnh Phóc có tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp, nông thôn với
1371 km
2
đất tự nhiên trong đó hơn 48% là diện tích đất nông nghiệp. Vĩnh
Phóc nằm trong vùng khí hậu gió mùa nóng Èm nhiệt độ thay đổi theo độ cao,
có cả 3 loại hình sinh thái đồng bằng - trung du - miền núi. Cho nên tỉnh có
khả năng phát triển tốt nhiều loại cây con của vùng Đồng bằng sông Hồng và
các tỉnh lân cận. Hơn nữa còn có thể nuôi trồng những cây con mang đặc
trưng của tỉnh.
CCKT của tỉnh trong những năm gần đây đang có sự chuyển hướng
hợp lý trong qui hoạch chung của vùng Đồng bằng sông Hồng và theo sự định
hướng của tỉnh. Nhưng xét trong nội bộ ngành nông nghiệp thì vẫn còn nhiều
điểm chưa đạt so với yêu cầu chung. Cụ thể, ngành trồng trọt vẫn là ngành
chiếm tỉ trọng cao về mọi mặt 61,1% thu nhập GDP của tỉnh, 85% diện tích
đất canh tác trong nông nghiệp là dành cho trồng trọt, 77,5% thời gian lao
động thực tế trong nông nghiệp dành cho hoạt động trồng trọt. Trong ngành
trồng trọt thì cây lúa lại là cây chiếm tỷ trọng lớn nhất về diện tích gieo trồng,
sản lượng và thu nhập. Các cây ăn quả, cây dược liệu, cây công nghiệp ngắn
ngày chưa được đầu tư và qui hoạch hợp lý.
Qua đặc điểm tình hình của tỉnh, nhất là sau thời gian thực tập, tìm hiểu
và học hái về Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phóc. Tôi
quyết định nghiên cứu đề tài:
thái vận động, biến đổi không ngừng. Là kết quả của quá trình phân công lao
động xã hội, CCKT phản ánh mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng
sản xuất của nền kinh tế. Một CCKT hợp lý phải có các bộ phận kết hợp hài
hoà, cho phép khai thác tối đa các nguồn lực của đất nước một cách có hiệu
quả, đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao và phát triển ổn định.
Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân.
Nền kinh tế quốc dân là một tổ hợp đa ngành, đa lĩnh vực. Trên các góc
độ khác nhau căn cứ vào phương thức sản xuất, trình độ phân công lao động
xã hội và đặc thù của các ngành, các vùng kinh tế khác nhau ta có thể phân
chia ra thành các loại cơ CCKT khác nhau. CCKT ngành trồng trọt là CCKT
của một tiểu ngành (phân ngành) nằm trong CCKT nói chung và CCKT nông
nghiệp, nông thôn nói riêng. Do vậy ta có thể định nghĩa:
CCKT ngành trồng trọt là tổng thể các mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau
theo tỷ lệ lượng và chất nhất định giữa các bộ phận cấu thành nên ngành
trồng trọt (các tiểu ngành của ngành trồng trọt), ở những thời điểm nhất
định.
Ngnh trng trt bao gm nhiu tiu ngnh sn xut l ngnh sn xut cõy
lng thc (lỳa, ngụ, mu ), cõy n qu (cam, vi, tỏo ), cõy thc phm, cõy
hoa, cõy cụng nghip ngn ngy Sự phõn chia cỏc tiu ngnh l kt qa ca
s phõn cụng lao Ngành trồng trọt bao gồm nhiều tiểu ngành sản xuất là
ngành sản xuất cây lơng thực (lúa, ngô, màu ), cây ăn quả (cam, vải,
táo ), cây thực phẩm, cây hoa, cây công nghiệp ngắn ngày Sự phân
chia các tiểu ngành là kết qủa của sự phân công lao động xó hi trong cỏc
ngnh, lnh vc. Phõn cụng lao ng xó hi cng cao thỡ cỏc ngnh cng phõn
chia chi tit, sõu sc. Cỏc phõn ngnh ca mt ngnh cú quan h mt thit vi
nhau khụng th tỏch ri v cựng h tr nhau phỏt trin.
Vy CCKT ngnh trng trt c hỡnh thnh khỏch quan do s
phõn cụng lao ng xó hi, vn ng theo nhng quy lut t nhiờn v ph
thuc vo cỏc iu kin t nhiờn, kinh tế, xó hi cú nh hng trc tip
hoc giỏn tip ti ngnh trng trt. Mi qui lut vn ng ca CCKT
“Trong sự phân công LĐXH thì con số tỷ lệ là tất yếu không so tránh khỏi.
Một tất yếu thầm kín yên lặng”. Vì thế cơ cấu cụ thể của ngành trồng trọt
trong những điều kiện xác định nh thế nào? và xu hướng chuyển dịch của nó
ra sao? là phụ thuộc vào những yếu tố tác động đến ngành ở những hoàn
cảnh, điều kiện nhất định, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con
người. Do vậy nó mang tính khách quan.
Tính khách quan của CCKT ngành trồng trọt còn phản ánh rõ nét đặc
điểm của sản xuất ngành trồng trọt. Bởi vì, đối tượng của ngành là cây trồng
gắn với điều kiện đất đai, nước, khí hậu nhất định của một vùng. Và trong
tự nhiên đã hình thành nên một hệ sinh thái sẵn có phù hợp với những cây
trồng đặc trưng của vùng. Nh vùng có khí hậu nhiệt đới thì không thể hoặc
khó trồng các loại cây ôn đới; Vùng đất đồi đá sỏi thì không thể trồng lúa
nước; Từ đó, qua cơ cấu diện tích gieo trồng các loại cây và sản lượng của
chúng ta có thể nhận thấy tiÒm năng của vùng về tự nhiên, khí hậu để phát
triển các loại cây đó nh thế nào.
Vậy việc xác định CCKT cơ cấu ngành trồng trọt hợp lý chính là để
khai thác hiệu quả mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên, khí hậu của vùng để
đem lại lợi Ých cao và bền vững nhất.
2.2. CCKT ngành trồng trọt thể hiện trình độ canh tác và ứng dụng
khoa học kỹ thuật của ngành.
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là trong công
nghệ sinh học đã tạo ra những giống cây con mới có năng suất chất lượng
cao, đem lại hiệu quả kinh tế lớn. Mỗi loại cây con sản phẩm lại có một qui
trình canh tác, chăm sóc khác nhau. Do vậy, nếu một vùng sử dụng giống mới
vào sản xuất thì cơ cấu về diện tích giống cây mới đó sẽ tăng lên qua các các
năm. Giả sử là đất đai, khí hậu của vùng khi trồng giống mới đã được nghiên
cứu là thích hợp, và trong quá trình sản xuất không có thiên tai xảy ra. Khi so
sánh cơ cấu về sản lượng của giống cây trồng mới đó trên một ha đất canh tác
với mức trung bình sản lượng giống đó trên một ha canh tác, ta có thể thấy
được trình độ canh tác của vùng. Và nếu so sánh số lao động bình quân trên
nông nghiệp, nông thôn nhằm đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao. Tuy nhiên, việc
phân công lao đông xã hội và hợp tác sản xuất của ngành đã vượt khỏi phạm
vi của vùng, quốc gia và trở thành quốc tế. Thị trường thế giới nh mét chỉnh
thể phản ánh quá trình xã hội hoá trên phạm vi toàn cầu và đó là xu thế của
thời đại. Điều đó đòi hỏi sự phát triển của toàn nền kinh tế cũng như của
ngành, không chỉ dùa vào các yếu tố nội sinh, mà phải biết khai thác hiệu quả
các nguồn lực bên ngoài. Quá trình hợp tác đó không chỉ diễn ra ở một ngành
mà ở các ngành trên nhiều mặt như: xây dựng kết cấu hạ tầng; áp dụng khoa
học công nghệ; tiêu thụ; Đồng thời quá trình hợp tác đó cùng là quá trình
cạnh khốc liệt trong sản xuất kinh doanh để nâng cao năng suất, chất lượng
sản phẩm. Từ đó ngành trồng trọt phải tự hoàn thiện mình để theo kịp xu thế
của thời đại.
3. Nội dung CCKT trồng trọt theo ngành.
Còng nh các loại hình CCKT khác. Nội dung của CCKT ngành trồng
trọt bao gồm: Cơ cấu theo ngành, Cơ cấu kinh tế ngành trồng trọt theo vùng
và cơ cấu ngành trồng trọt theo thành phần kinh tế.
3.1. Cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành.
Cơ cấu kinh tế ngành trồng trọt theo ngành thể hiện mối quan hệ tỷ lệ
giữa các tiểu ngành. Trong ngành trồng trọt được chia ra thành nhóm ngành
sản xuất cây lương thực, nhóm cây thực phẩm, nhóm cây ăn quả, cây dược
liệu, Trong các nhóm ngành lại có thể phân ra thành các đơn vị nhỏ hơn nh
cây lương thực có thể phân ra làm cây lúa, ngô, khoai Sự phân chia trong
ngành trồng trọt chủ yếu dùa vào giá trị sử dụng của nó đối với nhu cầu xã hội
và dùa vào đặc tính sinh học, sinh trưởng, phát triển của từng loại cây trồng.
Cơ cấu trong nội bộ ngành là nội dung diễm ra sớm nhất, đóng vai trò
quyết định trong CCKT ngành trồng trọt. Dẫn đến sự chuyển dịch theo vùng,
lãnh thổ hình thành nên các vùng chuyên môn hoá, tập trung hoá cây trồng.
Sự hình thành này lại tác động ngược lại làm thay đổi cơ cấu diện tích, sản
lượng của các tiểu ngành trong ngành trồng trọt.
Trong cơ cấu theo ngành việc xác định cơ cấu giữa các loại cây là để
thành phần kinh tế trong các hoạt động kinh tế ngành trồng trọt ở từng địa
phương còng nh cả nước.
Tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh ngành trồng trọt hiện
nay có nhiều thành phần kinh tế nh: kinh tế hộ; hộ gia đình; kinh tế Nhà nước;
kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tập thể; Việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế
trong sản xuất kinh doanh của ngành là một tất yếu khách quan trọng nền kinh
tế thị trường với nhiều hình thức và mối quan hệ sở hữu trong sản xuất.
Ở Việt Nam hiện nay thì kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế chiếm
tỷ trọng cao và giữ ở những khâu then chốt trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Còn kinh tế hộ, kinh tế cá thể là thành phần kinh tế năng động dễ thích
ứng và là thành phần kinh tế cơ bản hình thành nên các thành phần kinh tế
khác như kinh tế tư nhân, trang trại, hợp tác xã
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế ngành trồng trọt hiện
nay là giảm dần sự tham gia của kinh tế Nhà nước. Chuyển dần từ hoạt động
sản xuất trực tiếp sang hoạt động dịch vụ và hỗ trợ của thành phần kinh tế
Nhà nước, kinh tế tập thể. khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh
tế còn lại, để có được một có cấu ngành trồng trọt đa dạng, cạnh tranh cùng
phát triển.
4. Ý nghĩa cơ cấu ngành trồng trọt hợp lý.
Ngành trồng trọt là ngành cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm chính
cho xã hội. Đó là hàng hoá thiết yếu cho cuộc sống, là nhân tố chính giúp tái
sản xuất sức lao động, phát triển kinh tế xã hội. Khi đời sống xã hội còn thấp
kém thì trồng trọt là ngành giúp đủ ăn, đảm bảo an ninh lương thực. Trong
quá trình phát triển kinh tế, trồng trọt là ngành tạo ra nguồn tích luỹ để phát
triển ngành công nghiệp, và ngành công nghệ cao. Trong sản xuất, nó là
ngành cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và công nghiệp dân
dụng. Hơn nữa sự chuyên môn hoá, tập trung hoá trong sản xuất ngành trồng
trọt không những đã tạo ra những vùng sản xuất hàng hoá lớn, hình thành nên
những vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp mà còn tăng thu nhập,
nâng cao đời sống xã hội nhân dân. Bởi vậy, phát triển ngành trồng trọt, xây
CD CCKT ngành trồng trọt theo vùng là sự chuyển dịch của các tiểu
ngành xét theo từng vùng hoặc của một tiểu ngành giữa các vùng. Yếu tố
quyết định đến sự CD CCKT ngành theo vùng là tiềm năng phát triển các
nhóm cây trồng của vùng, khả năng khai thác các tiềm năng, cơ chế, chính
sách, phong tục tập quán canh tác
Chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt theo thành phần kinh tế là sự thay
đổi tỷ lệ về sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế trong ngành. Cơ
sở của sự CD CCKT ngành trồng trọt theo thành phần kinh tế là sự tồn tại
khách quan do vai trò, vị trí của từng thành phần kinh tế trong kinh tế nông
thôn và sự vận động khách quan của nó trong nền kinh tế. Đối với cơ cấu
thành phần kinh tế, bên cạnh sự vận động khách quan thì sự định hướng về
mặt chính trị - xã hội theo các cơ sở khách quan, có tác động rất lớn đến
chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế nói chung và trong nông nghiệp nói
riêng.
2. Sự cần thiết CD CCKT ngành trồng trọt
CD CCKT ngành trồng trọt theo những mục tiêu xác định là một tất
yếu, cần thiết trong quá trình phát triển của ngành và nền kinh tế quốc dân.
Tính tất yếu đó xuất phát từ vị trí của nông nghiệp nông thôn và thực trạng cơ
cấu kinh tế ngành trồng trọt trong vùng, quốc gia. Ngành trồng trọt là ngành
sản xuất ra sản phẩm thiết yếu cho đời sống xã hội. Mét xã hội dù phát triển
cao đến đâu cũng cần một lượng lương thực, thực phẩm nhất định trên đầu
người và trên một vật nuôi. Do vậy yêu cầu về sản lượng của ngành có tính ổn
định tương đối trong mét giai đoạn nhất định. Khi kinh tế xã hội phát triển
nhu cầu của con người không phải chỉ “ăn no” mà còn phải “ăn ngon”. Do đó
đòi hỏi sự thay đổi về chất lượng sản phẩm trong ngành trồng trọt. Tất yếu
dẫn đến sự chuyển dịch và hình thành cơ cấu ngành mới, phù hợp hơn so với
cái cũ đã không thích ứng.
Trong cơ cấu kinh tế ngành trồng trọt hiện nay của nước ta tỷ trọng
của cây lúa và ngô vẫn chiếm phần lớn, khi lương thực đã được đảm bảo. Nh-
ng chất lượng của sản phẩm lúa không phù hợp với thị hiếu của thị trường
của thời đại, đó là công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới và công nghệ
sinh học, gồm có: Giống ưu việt, cao cấp sạch bệnh với việc nhân giống chọn
lọc đồng loạt gắn với bảo quản chế biến; Công nghệ canh tác tiên tiến; Vật
liệu bền vững (Nhà Plastic kiểm soát được 1 phần thành phần quang phổ và
cường độ ánh sáng; Lưới sợi Nilon mắt lưới phù hợp chống côn trùng, thoát
nhiệt tốt; Hệ thống dẫn nước tưới chính xác, bền, rẻ )
Điều khiển tự động bằng Computer các quá trình sản xuất từ canh tác
đến sơ chế, chọn lọc, bảo quản đóng gói, tưới tiết kiệm, điều khiển nhu cầu dinh
dưỡng cây trồng Sản phẩm đạt 4 tiêu chuẩn là: Dinh dưỡng, thẩm mỹ, an
toàn sinh thái và cạnh tranh được.
Mô hình công nghệ cao tiến tới đạt tới đỉnh cao của vẻ đẹp và đa dạng.
Khi kết hợp với du lịch sinh thái sẽ tạo ra làng, xã và một quốc gia đẹp, đầy
chất thẩm mỹ và tri thức. Hình thành loại hình du lịch tri thức với các tiêu
chuẩn là: Mô hình thiên nhiên cấu trúc theo nguyên lý hệ sinh thái; Đa dạng
sinh học; Giá trị thẩm mỹ cao: Kết hợp sản suất hoa, cây cảnh, dược liệu và
hương liệu, bài trí hài hoà; Thu hót tối đa các đối tượng tham quan: Các nhà
kinh tế, sinh viên, học sinh, nông dân, du khách quốc tế
Để đạt được cơ cấu cây trồng nh trên cần phải có sự tham gia nỗ lực
của tất cả các thành phần trong nền kinh tế.
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CDCCKT NGÀNH TRỒNG TRỌT
1. Nhóm điều kiện tự nhiên
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên bao gồm: Điều kiện đất đai, thời
tiết, khí hậu, nguồn nước, rừng, khoáng sản và các yếu tố sinh học khác.
Trong đó đất đai là nhân tố quan trọng nhất trong sản xuất ngành trồng trọt,
nó vừa là tư liệu sản xuất, vừa là đối tượng sản xuất của ngành, nó quyết định
năng suất của các loại cây. Thời tiết khí hậu là nhân tố quyết định cơ cấu loại
cây trồng và cơ cấu mùa vụ sản xuất. Còn rừng, thảm thực vật là môi trường
sống của cây trồng.
Các nhân tố điều kiện tự nhiên có tác động trực tiếp tới việc hình thành,
vận động và biến đổi cơ cấu kinh tế ngành trồng trọt. Nhưng sự ảnh hưởng
Trung Quốc một nước nằm cạnh Bắc Việt Nam với hơn 1,1 tỷ dân, nền
sản xuất trồng trọt được coi trọng hàng đầu với quan điểm “phi lương bất ổn”.
Bằng những biện pháp tác động để ổn định diện tích gieo trồng lương thực
nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích gieo trồng bằng con đường thâm
canh, chủ trương xây dựng các vùng lương thực hàng hoá trọng điểm có sự hỗ
trợ của nhà nước, cân bằng lợi Ých giữa vùng sản xuất lương thực với vùng
sản xuất vật chất Trung Quốc đã từng bước thoát khỏi tình trạng trì chệ của
những năm trước, giải quyết nạn đói triền miên trước đây, đẩy nhanh cải tiến,
quản lý kinh tế ngành trồng trọt, sử dụng rộng rãi các thành tựu khoa học
công nghệ cùng với chế độ khoán trong sản xuất. Trung Quốc đã đẩy nhanh
tốc độ phát triển của ngành, đa dạng hoá sản xuất, phát triển nhiều thành phần
kinh tế trong ngành trồng trọt, dần chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng
trồng trọt công nghệ cao với những thành tựu nh: Tháng 3 năm 1986 xây
dựng chương trình công nghệ cao High - Tech 86 với mục tiêu trung
tâm là tạo giống lúa lai, nhất là lúa lai hai dòng đạt năng xuất 12 -15 tấn/ha.
Đồng thời tạo giống siêu lúa năng xuất 12 tấn/ha + gen chống chịu sau từ biến
nạp gen. Thêm nữa chương trình đã phát triển công nghệ nhân giống nhanh,
sạch bệnh qui mô công nghiệp và tạo giống chuyển gen Cách làm của Trung
Quốc trong phát triển ngành trồng trọt công nghệ cao là: Sẵn sàng trả giá khá
cao cho nhập nội chọn gói giống, thiết bị và công nghệ với phương thức trả
giá mét lần cho công nghệ hoàn chỉnh sau đó nhân lên hàng nghìn mô hình
tương tự. Tập trung chuyên gia và tài chính cho nghiên cứu để tiếp thu và phổ
biến rộng các mô hình. Phát triển mô hình công nghệ gắn liền với giáo dục,
khuyến nông và sinh thái, du lịch tri thức
Tất cả các chuyển dịch và chương trình trên Trung Quốc luôn có sự chỉ
đạo của Chính phủ Trung Quốc. Vai trò của Chính phủ Trung Quốc với phát
triển ngành trồng trọt tiến tới trồng trọt công nghệ cao là rất rõ ràng.
1.2. Kinh nghiệm của Thái Lan:
Thái Lan là nước nằm trong khu vực Đông Nam Á có điều kiện tự
nhiên, xã hội tương tự nhau. Trong những năm thế kỷ XX Thái Lan vẫn là
tỉnh là 12.6 tấn/ha, 125 triệu đồng/ha lúa cả năm và 7 triệu đồng/ha vụ đông,
điều đó chứng tỏ mục tiêu 50 triệu đồng/ha/năm của cả tỉnh là có thể đạt
được.
Thái Bình đã thực hiện chuyển mạnh cơ cấu cây trồng với xu hướng
chuyển đổi diện tích trồng lúa năng xuất thấp sang các loại cây con khác có
giá trị cao. Năm 2003, cả tỉnh chuyển được 3.332 ha lúa năng xuất thấp sang
trồng cây ăn quả, thực phẩm, rau và thả cá. Hiện nay tất cả các huyện của tỉnh
đều có điển hình về cánh đồng 50 triệu đồng/ha và có diện tích cánh đồng đạt
50 triệu đồng/ha khá cao như Thái Thuỵ có 700 ha, Quỳnh Phụ có 80 ha, Kiến
Xương có 550 ha Hơn nữa, xu hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở các
huyện của Thái Bình cũng diễn ra rất mạnh mẽ điển hình là huyện Thái Thuỵ.
Huyện Thái Thụy trong năm 2003 huyện đã triển khai đề án chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, nâng cao giá trị sản xuất cây trồng trên 1 ha đất trồng, theo 2 hướng:
Thứ nhất: Tăng vụ thâm canh chuyên màu (lên 910 ha) trong đó đã
có 500 ha chuyên màu đạt 50 triệu đồng/ha trở lên. Hai năm vừa qua huyện đã
chuyển được hơn 400 ha chuyên màu và những cánh đồng chuyển đổi này
đÒu cho giá trị sản lượng từ 42 - 45 triệu đồng/ha.
Thứ hai: Chuyển từ loại hình trồng lúa 1 vụ bấp bênh sang 1 vụ lúa -
1 vụ cá hình thành “Gia trại” phát triển VAC.
Giải pháp cụ thể của huyện là: Quy vùng, lùa chọn và giới thiệu các
công thức luân canh phù hợp với từng loại đất của huyện; Tư vấn cho nông
dân, không Ðp buộc nhưng giáo dục và thay đổi nhận thức; Hỗ trợ chuyển
giao thiết bị kỹ thuật; Tổ trức tiêu thụ sản phẩm.
2.2. Các tỉnh còn lại:
Ở 10 tỉnh còn lại của ĐBSH chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt có xu
hướng chậm hơn và không đồng đều trong toàn ngành của cả tỉnh. Vẫn với
mục tiêu phấn đấu đạt 50 triệu đồng/ha/năm nhưng lại xuất hiện nhiều phương
thức chuyển đổi đa dạng cần học tập nh:
Tỉnh Hà Nam với dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi vùng
trũng. Hà Nam đã chuyển 1000 ha đất trũng sang nuôi cá kết hợp với trồng cây
các chính sách khuyến khích hỗ trợ cho người tham gia để giảm rủi do trong
quá trình sản xuất ngành trồng trọt và khi tham gia vào thị trường khu vực và
thế giới.
Ba là: Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn để chuyển từ chỉ
nhằm phát triển 1 loại cây trồng truyền thống sang phục vụ các loại cây trồng
mới, giống , mới. Tiến tới việc áp dụng các trương trình dự án trồng trọt công
nghệ cao vào sản xuất.
Bốn là: Nghiên cứu triển khai các công trình ứng dụng, ứng dụng rộng
rãi các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến vào các khâu trong sản xuất
trồng trọt. Kết hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, kết hợp máy móc với
việc đảm bảo đủ việc làm cho lao động trong ngành nhằm khuyến khích phát
triển nhanh các loại sản phẩm đặc trưng có giá trị cạnh tranh.
Tóm lại: Đặc điểm tình hình của mỗi vùng, mỗi nước khác nhau nên con
đường, giải pháp cụ thể cho mỗi nơi cũng không giống nhau mà hết sức đa
dạng phong phú, nhưng hầu hết tất cả các nước, các vùng và lãnh thổ đều có
chung điểm xuất phát từ một nền kinh tế thuần nông, tù cấp, tự túc. Nhưng sau
một thời gian với các cách làm khác nhau họ đều đưa ngành trồng trọt nói riêng
và nền kinh tế nói chung phát triển lên tầm cao mới, đó là những bài học quí
báu để chúng ta học hỏi, kế thừa để áp dông vào điều kiện hiện nay của đất
nước
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NGÀNH TRỒNG TRỌT Ở VĨNH PHÓC
I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA TỈNH ẢNH HƯỞNG TỚI
CDCCKT NGÀNH TRỒNG TRỌT
1. Nhóm điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý:
Ngày 1 tháng 1 năm 1997 tỉnh Vĩnh Phóc được tách ra từ tỉnh Vĩnh
Phú. Hiện nay Vĩnh Phóc bao gồm 7 huyện và 2 thị xã. Vĩnh Phóc nằm trong
toạ độ 21
0
Việt Bắc, cửa ngõ phía Tây Bắc ĐBSH và nằm trên đường lưu thông của
vùng Tây Nam Trung Quốc với biển Đông. Lợi thế này tạo điều kiện cho
Vĩnh Phóc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội - khoa học kỹ thuật với cả
nước và Quốc tế.
1.2. Địa hình đất đai:
Với diện tích tự nhiên là 1.371 km
2
là 1 trong 10 tỉnh có diện tích thấp
nhất trong cả nước. Năm 2004 diện tích của tỉnh Vĩnh Phóc được phân theo
cơ cấu: ĐÊt nông nghiệp chiếm 48,19%, Đất lâm nghiệp chiếm 21,98%, Đất
chuyên dùng chiếm 15,19%, Đất ở chiếm 3,9%, còn lại là đất chưa sử dụng.
Trong tổng số 66.020 ha đất nông nghiệp thì đất dành cho canh tác trồng trọt
chiếm 95%, thuỷ sản chiếm 3,3%, còn lại là đất dành cho chăn nuôi. Điều đó
cho thấy trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp nông thôn, ngành trồng trọt là
ngành chiếm ưu thế lớn về diện tích, đây là tiềm năng phát triển của ngành.
Vĩnh Phóc là tỉnh có cả đồng bằng, trung du và miền núi. Địa hình
vùng cao thuộc dãy núi Tam Đảo với đỉnh cao nhất là 1.590 m, vùng trung du
bao gồm hệ thống đồi gò có độ cao trung bình từ 100 đến 150 m nằm cạnh
trung tâm tỉnh. Địa hình thấp dần xuống vùng đồng bằng với những cánh
đồng lóa nước rộng lớn thuộc huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc phía Nam của
tỉnh. Địa hình của tỉnh nghiêng dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và hướng
Đông Bắc xuống Tây Nam. Độ dốc bình quân khu vực miền núi là 20
0
- 30
0
khu vực trung du khoảng 10
0
- 15
0
.
nóng mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 11, chế độ gió thịnh hành vào mùa này
là gió Đông Nam. Mùa lạnh mưa Ýt từ giữa tháng 11 đến tháng 3 năm sau,
kéo theo gió lạnh, mưa rét và xuất hiện sương muối, chế độ gió thịnh hành là
gió Đông Bắc.
Từ đó có thể bố trí cả 2 loại cây trồng nhiệt đới và ôn đới, khả năng
bức xạ quang hợp hàng năm của cây khoảng 65 - 70 Kcal/năm, từ tháng 5
đến tháng 10 là thời kỳ có lượng bức xạ lớn hơn các tháng còn lại, điều này
làm tăng khả năng tích luỹ sinh khối của cây trồng. Những loại cây trồng
chính nh: Ngô, Cà Chua, Bắp Cải, Đậu Côve, các loại cây có thời kỳ sinh
trưởng nằm trong khoảng từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau thì luôn lợi cả về
nhiệt độ và thời gian quang hợp, đây là tiềm năng cho phát triển cây vụ đông
ở Vĩnh Phóc.
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20 - 25
0
C, riêng vùng núi Tam Đảo
nhiệt độ thấp hơn khoảng 17
0
C. Độ Èm trung bình từ 80 - 85%, sè giê nắng
từ 1400 - 1500 giờ/năm, riêng vùng nói Tam Đảo từ 1000 - 1200 giờ/năm,
lượng mưa bình quân năm khoảng 1500 - 1700 mm nhưng phân bố không đều
trong các tháng: Từ tháng 5 đến tháng 9 lượng mưa trung bình tháng trên 200
mm, tháng 10 lượng mưa trung bình tháng trên 100 mm, còn lại 6 tháng thiếu
nước, lượng mưa dưới 100 mm/tháng nhưng lại có mưa phùn vào các tháng
và mùa đông lạnh nên lượng mưa thấp nhất trong năm vào tháng 12 và tháng
1 (thấp nhất 32 mm/tháng).
Hơn nữa thời tiết, khí hậu và lượng mưa trong tỉnh cũng không tương
đồng, phía Nam khô và nóng hơn phía Bắc. Tất cả các đặc điểm trên vừa là
thuận lợi để phát triển, vừa là khó khăn cần khắc phục với ngành trồng trọt
và kinh tế nông nghiệp của tỉnh nói chung.
1.4. Nguồn nước và chế độ thuỷ văn
ruộng qua hệ thống bơm Liễn Sơn.
Hệ thống Sông Cà Lồ: Bắt nguồn từ núi Tam Đảo và núi Sóc Sơn chảy
theo hướng Tây Nam Đông Bắc qua Bình Xuyên, Mê Linh đến Kim Anh, Đa
Phóc (Hà Nội) và đổ ra sông Cầu dài 86 km. Lưu lượng nước 36 m
3
/giây,
phù sa không đáng kể. Kết hợp với sông Cà Lồ và một số suối nhá, hệ thống
Sông Phan là nguồn cung cấp nước cho 1 số xã ven nói Tam Đảo.
Hai hệ thống sông trên là nguồn cung cấp chính cho tưới tiêu của tỉnh.
Ngoài ra tỉnh còn có các hồ lớn nh: Đại Lải, Vân Trục, Xạ Hương, Làng Hà
với tổng diện tích mặt nước 679,5 ha, dung tích 53,22 triệu m
3
; Cùng các đầm
nh: Đầm Vạc, Đầm Dưng với diện tích mặt 460 ha và dung tích 23 triệu m
3
là
nguồn cung cấp và dự trữ nước lớn cho tỉnh vào mùa khô.
Hệ thống công trình thuỷ lợi Liễn Sơn - Bạch Hạc, Lập Thạch, Mê
Linh, và hệ thống Xạ Hương (Bình Xuyên). Hàng năm đã cung cấp nước tưới
cho 80 - 85% diện tích gieo trồng của tỉnh và loại bỏ tình trạng ngập úng diện
rộng trên địa bàn.
Ngoài tầng nước mặt từ các sông suối trên, Vĩnh Phóc còn có 4 tầng
nước chứa nước địa chất thuỷ văn đó là: Tầng chứa nước Prorozoni cấu tạo
bởi các đá biến chất cao, tầng nước này có chất lượng tốt, lưu lượng 5 lít/giây
có thể khai thác đóng chai; Tầng chứa nước Mêzozoi, cấu tạo bởi đá phun
trào triat, chất lượng nước không đều có nơi nhiễm sắt, lưu lượng nhỏ; Tầng
chứa nước Kainozon, có độ sâu 4 - 5 m, đây là tầng chứa nước quan trọng để
khai thác, có tiềm năng lớn nhưng lưu lượng không lớn; Tầng chứa nước đứt
gãy trong các đá phá huỷ, nước tập trung với tiềm năng lớn, chất lượng tốt
nhưng ở địa tầng sâu khó khai thác thủ công.