Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Bình Sơn tỉnh Quãng Ngãi theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa - Pdf 33

MỞ ĐẦU
1 - Lý do chọn đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành nói riêng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một nội dung
quan trọng của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay.
Trong những năm qua, cùng với chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, cơ cấu kinh tế ngành nước ta đã có những chuyển biến tích cực theo
hướng phát huy có hiệu quả lợi thế, tiềm năng của đất nước, đáp ứng nhu cầu
thị trường, tăng dần tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp và dịch vụ
trong. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu
đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào
năm 2020. Điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu, đề xuất giải pháp
nhằm đẩy nhanh hơn nữa quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở nước
ta trong thời gian tới.
Trên thực tế, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vấn đề này
dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Những nghiên cứu này, mặc dù đã
phần nào làm sáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn của quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, nhưng
vẫn còn nhiều khía cạnh chưa được giải quyết. Một trong những khía cạnh đó
là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở địa phương. Ở những địa
phương cụ thể, do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và bối
cảnh lịch sử nên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành có những đặc thù
riêng. Vì vậy, cần thiết phải có những nghiên cứu cụ thể đối với đối với quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở những địa phương này.
Huyện Bình Sơn, tỉnh Quãng Ngãi là một Huyện có nhiều tiềm năng, thế
mạnh để phát triển kinh tế - xã hội, nhưng vẫn chưa được khai thác và phát huy
một cách hiệu quả do cơ cấu kinh tế còn lạc hậu., trong những năm qua
CDCCKT đạt nhiều kết quả. Tuy vậy tốc độ chuyển dịch còn rất thấp.
CDCCKT chưa có quy hoạch tổng thể làm cho chất lượng, hiệu quả chuyển


Đề tài nghiên cứu các vấn đề về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng CNH, HĐH.


3.2. Khách thể nghiên cứu
- Đặc điểm chung của địa phương.
- Hợp tác xã nông nghiệp huyện Bình Sơn
- Vấn đề CDCCKT trên địa bàn
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng cơ cấu và quá trình CDCCKT trên địa bàn
huyện Bình Sơn trong giai đoạn 2010- 2012 và đề xuất một số giải pháp chủ
yếu đẩy nhanh quá trình CDCCKT theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đến năm 2015.
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2008 đến nay
5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp hạch toán kế toán, phân tích hoạt động kinh doanh.
- Phương pháp nghiên cứu kinh tế chuyên ngành.
Để đánh giá, so sánh, dự kiến kết quả, hiệu quả của các giải pháp
nghiên cứu trong đề tài, tôi sử dụng các chỉ tiêu System National Account
(SNA) của hệ thống tài khoản Quốc gia quy định thống nhất cho các nước
thuộc thành viên Liên hợp quốc có nền kinh tế thị trường. Trong đề tài có sử
dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế, kết quả nghiên cứu một số cây
trồng, con vật nuôi chủ yếu của các đề tài nghiên cứu khoa học làm kết quả so
sánh cho các giải pháp của đề tài.
6. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, tiểu luận
gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiển.

Ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Trong ngành công nghiệp bao
gồm: công nghiệp và xây dựng; ngành nông nghiệp bao gồm: nông, lâm, ngư
nghiệp; ngành dịch vụ bao gồm: thương mại, dịch vụ và bưu điện.


1.1.1.3 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình phát triển của các ngành
kinh tế dẫn đến sự tăn trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi quan
hệ tương quan giữa chúng trong nền kinh tế quốc dân.
Vậy “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự thay đổi có mục đích, có
định hướng trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn cùng với
việc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển dịch cơ cấu ngành từ
trạng thái này sang trạng thái khác hợp lý và có hiệu quả hơn”.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế gồm các nội dung cơ bản:
điều chỉnh cơ cấu các ngành trong toàn bộ nền kinh tế ( về tỷ trọng và vị trí
của từng ngành), xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành và chuyển dịch cơ cấu
nội bộ từng ngành.
Trong đó xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải xuất phát từ
việc đánh giá thực trạng nền kinh tế và xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
thế giới mà mỗi nước cần chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng:
Giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, không ngừng gia tăng công nghiệp và dịch vụ
theo xu hướng CNH, HĐH và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo xu thế
hội nhập kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu ngành cần phải được coi là nội dung cơ bản, lâu
dài trong quá trình CNH, HĐH. Nếu xác định phương hướng và giải pháp
chuyển dịch sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trong sự phát triển.
1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế.
Việc xác định và thực hiện các phương thức và biện pháp nhằm chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phù hợp là một trong những nhiệm vụ

động vì mục đích lợi nhuận (sản xuất hàng hóa công cộng, xây dựng cơ sở hạ
tầng…). Ngược lại, những định hướng thiếu cơ sở khách quan hoặc sự can
thiệp quá sâu của nhà nước trong quá trình thực hiện đều dẫn đến chỗ hình
thành cơ cấu ngành kém hiệu quả.


- Tiến bộ khoa học - công nghệ không chỉ tạo ra những khả năng sản
xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển của một số ngành làm tăng tỷ trọng của
chúng trong tổng thể nền kinh tế quốc dân (làm chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế) mà còn tạo ra những nhu cầu mới đòi hỏi các ngành công nghiệp non
trẻ, công nghệ tiên tiến, do đó có triển vọng phát triển mạnh trong tương lai.
Tiến bộ khoa học- công nghệ cho phép tạo ra những sản phẩm có chất lượng
cao, giá thành rẻ do đó có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc
tế. Kết quả làm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo xu hướng xuất khẩu
thay thế nhập khẩu và hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới...
* Quá trình hình thành cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp - dịch vụ
- Trong nền sản xuất hàng hóa nhỏ lưu thông hàng hóa vận động theo
công thức: H- T- H.
Đến giai đoạn sản xuất hàng hóa TBCN đều vận động theo công thức
chung của tư bản: T- H....
Việc tư bản đem hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ là rất phức
tạp, vì vậy nhà tư bản công nghiệp tách một bộ phận ra chuyên làm công tác
lưu thông hàng hóa, làm nhiệm vụ cung cấp các yếu tố đầu vào dịch vụ và
tiêu thụ sản phẩm làm ra. Đó chính là sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp
chuyên đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa cho nhà tư bản công nghiệp từ nơi
sản xuất đến nơi tiêu dùng. Khi tư bản thương nghiệp xuất hiện, nó có vai trò
và lợi ích to lớn đối với xã hội. Chính vì vậy cùng với sự phát triển của kinh
tế hàng hóa từ đó mà ngành dịch vụ đã ra đời trên cơ sở đầu tiên của nó dưới
hình thức tư bản chuyên nghiệp.
Sự ra đời của ngành dịch vụ đã đánh dấu một bước chuyển của sự phát

chuyển dịch theo hướng CNH diễn ra ở các nước đang phát triển trọng tâm
của bước chuyển dịch xảy ra chủ yếu trong nội bộ khu vực sản xuất vật chất
theo hướng tăng giá trị sản xuất công nghiệp so với nông nghiệp. Xong trên
thực tế do ảnh hưởng rất mạnh của xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế và ảnh
hưởng sâu sắc của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại nên đã xuất hiện
khả năng tương đối phổ biến ở các nước đang phát triển, đồng thời có hai


bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói trên. Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế
đang phát triển, chính vì vậy để theo kịp xu thế của thời đại chúng ta phải tiến
hành CNH gắn với HĐH và cùng một lúc thực hiện đồng thời hai sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nói trên. Chính vì vậy mà chuyển dịch cơ cấu kinh tế
( trong đó chủ yếu là cơ cấu kinh tế ngành) được coi là một trong hai nội dung
cơ bản của quá trình CNH, HĐH của nước ta.
CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế từ lạc hậu, ít hiệu quả sang một cơ cấu ngành kinh tế ngày càng phù hợp
với xu hướng phát triển của nền sản xuất hiện đại do sự tác động của cuộc
cách mạng khoa học công nghệ. Đó là xu hướng tỷ trọng giá trị sản phẩm
công nghiệp ngày càng tăng ; nông nghiệp ngày càng giảm ; tỷ trọng giá trị
dịch vụ ngày càng tăng, tổng giá trị sản phẩm công - nông nghiệp ngày càng
giảm tương ứng.
Có thể nói trong một chừng mực đáng kể việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành theo hướng CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân là một quá trình thể
hiện mối quan hệ giữa mục đích và phương tiện và HĐH nền kinh tế quốc dân
là mục đích và cơ cấu kinh tế ngành và phương tiện
Sự nghiệp CNH được tiến hành ở Việt Nam trong nhiều năm nay.
Nhưng trước đây nó được thực hiện theo xu thế khép kín tự cấp, tự túc và chủ
quan nóng vội. Ngày nay CNH được thực hiện theo hệ thống định hướng
mạnh về xuất khẩu đi đôi với thay thế nhập khẩu có hiệu quả. Quá trình đó
không những tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp mà còn là

muốn, tự phát, công nghệ chế biến nông sản và các ngành nghề nông thôn
phát triển chậm. Cơ cấu kinh tế nông thôn ngành nông nghiệp còn chiếm tỷ
trọng lớn, trong nông nghiệp thì tỷ trọng ngành trồng trọt còn ở mức cao.
Phần lớn sản phẩm nông nghiệp mới ở dạng sơ chế. Dịch vụ sản xuất còn
chưa theo kịp yêu cầu của sản xuất hàng hóa. Chất lượng và khả năng cạnh
tranh của nhiều sản phẩm ngành nông nghiệp còn thấp, kém hiệu quả. Giá trị
thu được trên mỗi đơn vị diện tích còn thấp. Công tác chuyển giao khoa học
công nghệ còn nhiều bất cập, hạn chế.


Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống ở nông thôn như: hệ
thống giao thông thủy lợi chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất hàng hóa quy
mô lớn, mức sống ở nông thôn và thành thị còn chênh lệch quá nhiều. Đó
chính là những vấn đề bức xúc đang đòi hỏi quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn hiện nay.
+ Hội nghị lần thứ V BCH TW Đảng Cộng sản khóa IX đã thông qua
Nghị quyết về: “ Đẩy nhanh CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ
2001- 2010”,Nghị quyết đã xác định nội dung tổng quát của CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn:
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hóa, gắn với công nghệ chế biến và thi trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí
hóa, thủy lợi hóa ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào các khâu sản
xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh
tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường” ( Nghi quyết TW 5 khóa IX
của Đảng).
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng của
giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ
trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng trong
kinh tế xã hội; quy hoạch phát triển nông thôn; bảo vệ môi trường sinh thái;
tổ chức sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn

canh) và nhiều sản phẩm phụ (do phát triển tổng hợp). Những mặt hàng phụ
đều phải thích ứng với mặt hàng chủ yếu để hình thành một cơ cấu sản xuất
hợp lý. Do đặc điểm này, hình thức tổ chức nông nghiệp hàng hóa và hình
thức chế biến sản phẩm rất khác nhau ở các vùng.
Sở dĩ phân công lao động trong nội bộ xí nghiệp công nghiệp chế biến
có thể gây ra những biến đổi quan trọng trong sự phân công xã hội, trong cơ
cấu sản xuất do 2 yếu tố sau đây tạo ra hiệu quả cao: Tổ chức nội bộ xí nghiệp
có khoa học và có trình độ quản lý kinh doanh sản xuất lớn.
Tính chất sản xuất lớn trước hết biểu hiện ở tổ chức nội bộ của đơn vị
cơ sở có căn cứ khoa học làm điều kiện cho sự phát huy tính chủ động kinh


doanh có hiệu quả. Điều này có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sự hình
thành cơ cấu tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế.
Tính chất sản xuất lớn còn thể hiện ở trình độ quản lý kinh doanh của
xí nghiệp, vừa phù hợp với dây chuyền sản xuất, vừa đảm bảo nguyên tắc
hiệu quả của hoạt động kinh doanh bù đủ chi phí và sản xuất có lãi theo
nguyên tắc sản phẩm đầu ra- chi phí đầu vào lãi.
Phân công lao động trong nội bộ xí nghiệp công nghiệp trên một cơ sở
tổ chức hợp lý và một trình độ quản lý kinh doanh kiểu sản xuất lớn có sức
thúc đẩy phân công xã hội phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu: nó thúc
đẩy mạnh mẽ sự phân công trong ngành công nghiệp, đó là những ngành liên
quan về sản xuất và tiêu thụ (phát triển công nghiệp dệt liên quan đến ngành
sản xuất nguyên liệu về dệt và may mặc; sự phân công nội bộ xí nghiệp chế
biến đường liên quan đến ngành trồng mía…)
Vì vậy, quá trình phát triển phân công lao động là quá trình hình thành
cơ cấu kinh tế giữa công nghiệp và nông nghiệp.
Xét vấn đề theo góc độ tái sản xuất hình thành cơ cấu kinh tế giữa công
nghiệp với nông nghiệp chính là quá trình hình thành thị trường trong nướcmột dấu hiệu quan trọng của sự chuyển biến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn.
Kết quả chủ yếu của phân công lao động xã hội ở giai đoạn này là hình thành

vùng có đặc điểm thổ nhưỡng khác nhau: 1) Vùng trung du bán sơn địa gồm
các xã phía tây giáp Trà Bồng, có nhiều núi đá, đất bazan; 2) Vùng châu thổ
dọc hai bên bờ sông Trà Bồng, gần sông, được phù sa bồi đắp hằng năm, xa
sông là đất pha cát; 3) Vùng đồi thấp nhấp nhô và những trảng cát rộng giáp
với tỉnh Quảng Nam, nối với bờ biển phía đông. Vùng này cũng có đất bazan
xen lẫn với sa khoáng.Núi đồi: Bình Sơn có nhiều núi cao thấp trải dài từ phía
đông huyện Trà Bồng ra đến bờ biển Đông: núi Đồng Tranh ở Thọ An cao
785m, các núi Chớp Vung, Thình Thình (Sâm Hội), Ba Bì, núi Đất, núi Răm,
núi Sơn, núi Lớn, núi Cổ Ngựa, núi Trì Bình (tục gọi là núi Cấm), Xuân An,
An Lộc, Tam Thao, An Hải, Kiền Kiền, núi Gió, Nam Châm, Cà Ty… cao
trên dưới 100m; hầu như xã nào cũng có đồi gò.


Sông suối: Sông Trà Bồng là một trong bốn con sông lớn của Quảng
Ngãi, phát nguyên từ vùng núi cao Trà Bồng chảy xuyên qua huyện Bình Sơn
khoảng 25km theo hướng đông - tây, đến thôn Giao Thủy (xã Bình Thới)
chảy theo hướng đông bắc rồi đổ ra cửa Sa Cần. Sông Trà Bồng từ xưa là
đường thủy quan trọng trong việc giao lưu xuôi - ngược; là một trong những
nguồn nước quan trọng nhất cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.
Bờ biển: Bình Sơn có bờ biển dài 54km và chính là đoạn bờ biển khúc
khuỷu nhất trong tỉnh Quảng Ngãi với nhiều mũi đất và vũng vịnh, có các cửa
biển Sa Cần, vũng Quýt (Dung Quất), cửa Sa Kỳ (giáp với huyện Sơn Tịnh),
các vịnh Việt Thanh, Nho Na. Các cửa biển và vịnh này, từ xưa đã phát triển
nghề đánh bắt, chế biến hải sản, vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. Từ đầu
thế kỷ XXI, Dung Quất được xây dựng thành cảng biển nước sâu, trong vùng
nội địa thì xây dựng Khu Kinh tế Dung Quất.
Đồng bằng: Hai bên bờ sông Trà Bồng là vùng đồng bằng tươi tốt nhất.
Các vùng xa sông đất đai thường cằn cỗi, thiếu nước. Đất canh tác ở Bình Sơn
thích hợp cho việc trồng lúa nước, khoai, sắn, mía, dâu, dưa hấu…
Về tình hình sử dụng đất năm 2005 như sau: 1) Đất nông nghiệp

Biểu đồ : Thực trạng về CDCCKT của huyện qua các năm
Chỉ
tiêu
Tổng
giá trị
SX
1. SX
Nông
nghiệp
Tỷ
trọng
2. CNTTCN
Tỷ
trọng
3. TM –
DV
Tỷ

ĐVT

Tr.đ

Tr.đ
%
Tr.đ
%
Tr.đ
%

Năm

98

98

-

203,5

232,2

226,8

104,27

0,8

0,9

0,9

-

298,3

430

324

105,03


2.2.2. Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp.
Cho đến nay nông nghiệp là ngành chính của địa phương, ngành CNTTCN mới chiếm tỷ trọng 0,9%, ngành nông nghiệp vẫn tồn tại song song
với các ngành mũi nhọn khác. Cụ thể gồm có các ngành trồng trọt, chăn nuôi,
thủy sản. Thực trạng về cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp của huyện thể hiện
ở bảng biểu sau : Các thống kê cơ bản về kinh tế 2008- 2011
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
Diện tích lúa cả năm
Ha
Diện tích màu cả năm
Ha
Sản lượng lương thực quy
tấn
thóc
Lương
thực
bình
Kg
quân/người
Diện tích cây công nghiệp:
- Mía
Ha
- Lạc
Ha
- Vừng (mè)
Ha
Sản lượng cây công nghiệp
- Mía
tấn
- Lạc

289

745
129
Không nắm được

874
1.195
231

26.177
127
Không nắm được
490
25.399
34.079
232.919
400
1.200

43.294
2.120
71,32
1.231
53.402
74.438
556.446
1.187
38.526



2011
23.452
1.029(10)
762,6

2,5

92,9

3,5

173,5

81,2

74,1

7,8

9

11

16,8

222

5.700


Trên địa bàn huyện Bình Sơn có khu kinh tế Dung Quất đang hình
thành và phát triển, sẽ là động lực quan trọng để huyện phát triển mạnh về
công - thương nghiệp và dịch vụ.
Về điện, từ năm 2008 Bình Sơn có máy phát điện nhỏ, chủ yếu phục vụ
cho thị trấn Châu Ổ. Từ năm 2011 đến nay, điện lưới quốc gia đã đưa điện về
khắp các xã, thôn phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. Đến nay, đã có trên 100
% hộ gia đình dùng điện.
Trong tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp còn phải kể đến hoạt động
xây dựng cơ bản và giao thông - vận tải đã góp phần quan trọng thay đổi diện
mạo kinh tế, văn hóa của Bình Sơn.
Qua phân tích cơ cấu nội bộ ngành CN- TTCN và TM- DV có nhận
xét sau:
- Bình Sơn là một huyện nông nghiệp đang đấy mạnh tốc độ tăng CNTTCN và TM- DV. Qua các số liệu thống kê ở bảng trên cho thấy tốc độ phát
triển nhanh chóng của các ngành CN- TTCN thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dần
dần giảm tỷ trọng nông nghiệp.


- Ngoài phát triển ngành trồng trọt, chăn nuôi thủy sản xã đã tập trung
chú ý phát triển các ngành TM-DV làm cho cơ cấu các ngành này tăng lên
thực hiện một cơ cấu kinh tế tiến bộ.
- Trong nội bộ các ngành, ưu thế phát triển vẫn là các ngành thủ công, cơ
khí chế tạo, cơ khí sửa chữa, vật liệu xây dựng, nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản.
Căn cứ vào thực trạng này làm cơ sở phát triển CN- TTCN đến năm 2013.
2.2.4. Nhận xét chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển công
nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương mại – dịch vụ của huyện Bình Sơn.
2.2.4.1. Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong những năm qua, huyện Bình Sơn đã thực hiện chuyển dịch cơ
cấu kinh tế mang lại hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,
cơ cấu kinh tế đã dịch chuyển theo chiều hướng tiến bộ. Thu nhập bình quân
cho một lao động tăng nhanh, mức sống vật chất, tinh thần cho nhân dân được

Dung Quất được Chính phủ chọn để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của
cả nước và hiện đã đi vào hoạt động, đồng thời hình thành KKT Dung Quất
nối liền với KKT mở Chu Lai của Quảng Nam. Đây là lợi thế rất quan trọng,
tạo điều kiện để tỉnh phát triển nhanh công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đi
kèm theo chương trình phát triển lọc dầu của quốc gia, đồng thời góp phần
đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế tỉnh theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với định hướng phát triển theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, rõ ràng ngành công nghiệp có một vai trò rất
quan trọng, là động lực phát triển kinh tế của Huyen trong hiện tại cũng như
tương lai.
Với định hướng phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
Binh Sơn xác định công nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh có tính đột
phá. Tập trung phát triển công nghiệp ở KKT Dung Quất và các cụm công
nghiệp làng nghề. Phát huy lợi thế cảng biển nước sâu để phát triển ngành
công nghiệp nặng có ý nghĩa chiến lược, có giá trị tăng cao như: công nghiệp
lọc hóa dầu, gia công kim loại, đóng tàu, khai khoáng, năng lượng điện.


Trong đó, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp (CN) như chế
biến nông, lâm, thủy sản; khai thác chế biến khoáng sản và vật liệu xây dựng;
CN hóa chất; cơ, kim khí và điện tử tin học; CN điện, nước; dệt may; TTCN làng nghề; phát triển KKT, các KCN của tỉnh. Đặc biệt là tập trung đẩy mạnh
đầu tư phát triển Dung Quất theo hướng trở thành một KKT tổng hợp đa ngành,
đa lĩnh vực với ngành kinh tế mũi nhọn là lọc hóa dầu và luyện cán thép, đóng
tàu biển, các ngành CN có quy mô lớn gắn với cảng biển nước sâu Dung Quất,
sân bay Chu Lai và đô thị - dịch vụ Vạn Tường, đô thị Nam Dốc Sỏi.
Bên cạnh đó, tận dụng những lợi thế về biển, trong thời gian gần đây
huyện Binh Son đã xác định phải phát triển kinh tế biển trở thành một ngành
kinh tế mũi nhọn tại một số địa phương như cảng biển Sa Kỳ....
Qua đó thấy được vị trí, vai trò của các ngành kinh tế ở nước ta trong
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.

những yếu tố mất cân đối về kinh tế ngày càng trầm trọng và nhiều vấn đề
kinh tế - xã hội bức xúc không được giải quyết. Thực tế lịch sử cho thấy ngày
càng rõ hơn tính bất hợp lý và kém hiệu quả của một số chính sách cơ cấu mà
chúng ta đã thực hiện trong hơn 20 năm qua. Đầu những năm 80, quan điểm
về CNH đã được điều chỉnh cơ bản theo hướng coi nội dung chính của CNH
trong những năm 80 là “ tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn XHCN, ra sức
đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng…”
Nông nghiệp từng bước được đặt đúng vào vị trí của nó. Việc phát triển
nông nghiệp tập trung vào thực hiện ba nhiệm vụ cơ bản: bảo đảm lương
thực-thực phẩm, tiến tới có lương thực dự trữ, bảo đảm nguyên liệu cho sản
xuất hàng tiêu dùng, cung cấp sản phẩm xuất khẩu. Trong những năm tiếp
theo, nông - lâm - ngư nghiệp tiếp tục được phát triển. Đại hội lần thứ VII
( 1991) xác định: “Phát triển nông- lâm- ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế
biến, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế xã hội”.
Công cuộc đổi mới những năm qua cũng lấy nông thôn làm địa bàn trọng
điểm và nông nghiệp làm khâu đột phá. Đại hội Đảng VIII (1996) xác định;


“phát triển toàn diện nông- lâm- ngư nghiệp hình thành các vùng tập trung
chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hóa
nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo về an toàn lương thực trong xã
hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong
và ngoài nước”. Đến Đại hội Đảng IX năm 2001 xác định: “Đẩy mạnh CNH,
HĐH nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng
hóa lớn phù hợp với yêu cầu của thị trường và điều kiện sinh thái của từng
vùng chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động, kéo việc làm thu hút
nhiều lao động ở nông thôn. Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào
sản xuất nông nghiệp, đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ
và thu nhập trên một đơn vị diện tích, tăng năng suất lao động, nâng cao chất

thông qua công nghiệp chế biến.
Mặt khác sự phát triển của công nghiệp còn góp phần phát triển ngành
xây dựng, thông tin liên lạc, kinh tế đối ngoại và bắt đầu tác động vào giao
thông vận tải và môi trường sinh thái.
* Vị trí vai trò của ngành dịch vụ.
Khu vực dịch vụ hiện nay đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng,
chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng sản phẩm quốc nội ở nhiều quốc gia
trên thê giới.
Có rất nhiều cách phân loại dịch vụ tùy thuộc vào tính chất và đối
tượng phục vụ như: dịch vụ có tính chất xã hội và dịch vụ cá nhân; dịch vị có
tính chất sản xuất và dịch vụ phi sản xuất; dịch vụ thị trường và dịch vụ phi
thị trường…( dịch vụ thị trường có thể nhân ra thành dịch vụ cho người tiêu
dùng và dịch vụ cho người sản xuất- dịch vụ này rất quan trọng thúc đẩy nền
sản xuất phát triển mạnh); dịch vụ du lịch- giải trí…
Có thể khẳng định rằng dịch vụ có tầm quan trọng đặc biệt đối với các
nước đang phát triển, thực hiện chính sách CNH, HĐH đất nước như dịch vụ
chuyển giao công nghệ, dịch vụ thông tin, dịch vụ du lịch.
Từ thực tế của sự phát triển xã hội có thể chia ngành dịch vụ ra các
nhóm sau:


Trích đoạn Nhóm giải pháp về vốn nâng cao chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh Nhóm giải pháp khoa học kỹ thuật:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status