Tài liệu đề tài về thực trạng hàng hóa công cộng và nâng cao hiệu quả sử dụng hàng hóa công cộng tại việt nam - Pdf 24

Phần 3: Hàng hóa công cộng

Đề tài:
HÀNG HÓA CÔNG CỘNG
1
Phần 3: Hàng hóa công cộng

Mục lục
A. Lời nói đầu
B. Nội dung
I. Lý thuyết về hàng hóa công cộng (HHCC)
1. Khái niệm và thuộc tính cơ bản của HHCC
2. Phân biệt các loại hàng hóa
2.1 HHCC thuần túy và hàng hóa cá nhân (HHCN) thuần túy
2.2 HHCC thuần túy và không thuần túy
2.3 Một số lưu ý về khái niệm HHCC
3. Nguyên nhân ra đời HHCC
4. Cung cấp HHCC
4.1 Các mô hình cung cấp HHCC điển hình trên thế giới
4.1.1 Mô hình “Nhà nước cung ứng tài chính và Nhà nước tổ chức cung
cấp HHCC”
4.1.2 Mô hình “Khu vực tư cung ứng tài chính và khu vực tư tổ chức
cung cấp HHCC”
4.1.3 Mô hình “Nhà nước và khu vực tư nhân cùng liên kết cung ứng tài
chính và tổ chức cung cấp HHCC”
4.1.4 Mô hình “Lấp chỗ trống”
4.2 Cung cấp HHCC và vấn đề tổn thất phúc lợi xã hội
4.2.1 Cung cấp HHCC thuần túy
4.2.2 Cung cấp HHCC không thuần túy
4.2.2.1 Cung cấp HHCC có thể loại trừ bằng giá
4.2.2.2 Cung cấp HHCC mà loại trừ rất tốn kém

Phần 3: Hàng hóa công cộng

A. LỜI NÓI ĐẦU
Thất bại của thị trường là những trường hợp mà thị trường cạnh tranh
không thể sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ ở mức hiệu quả xã hội. Có 5 loại thất
bại thị trường là:
•Độc quyền thị trường
•Ngoại ứng
•Hàng hóa công cộng
•Thông tin không hoàn hảo
•Bất ổn kinh tế
Cùng với vai trò phân phối lại thu nhập và cơ hội kinh tế cho mọi người và
bắt buộc người dân sử dụng hàng hóa khuyến dụng, những thất bại thị trường
chính là cơ sở quan trọng để Chính phủ can thiệp thị trường nhằm giúp thị
trường hoạt động có hiệu quả hơn và các kết quả kinh tế tạo ra công bằng hơn.
Một trong những thất bại thị trường mà ai cũng biết, tiêu dùng nó hàng
ngày nhưng chưa chắc đã hiểu hết về nó chính là hàng hóa công cộng (HHCC).
Bài thuyết trình sẽ cung cấp một số kiến thức về HHCC như khái niệm, phân
biệt HHCC, thực trạng cung cấp HHCC… Hi vọng các bạn sẽ có cái nhìn đầy
đủ hơn về HHCC và sự cần thiết của Chính phủ trong cung cấp và quản lý
HHCC.
B. Nội dung
I. Lý thuyết về HHCC
1. Khái niệm và thuộc tính cơ bản của HHCC
Theo Paul Samuelson( người Mỹ đầu tiên nhận giải Nobel năm 1970) thì,
hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa mà chi phí để nhận dịch vụ từ nó
đối với mỗi người là bằng 0, không thể cấm mọi người cùng sử dụng.
Theo Joseph Stighlitz( giáo sư đại học Columbia, nhận giải Nobel năm
2001), hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa mà việc một cá nhân này
đang hưởng thụ lợi ích do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những người khác

thấy rất rõ nếu so sánh 2 hàng hóa. Ví dụ nhà ở là hàng hóa cá nhân thì cái nhà
đó đã là của bạn thì người khác không được quyền sử dụng nếu không được bạn
đồng ý (đây là tính cạnh tranh), bạn có quyền không cho người khác vào (đây là
5
Phần 3: Hàng hóa công cộng

tính loại trừ). Còn công viên là hàng hóa công cộng, trong cùng 1 lúc có rất
nhiều người trong công viên nhưng bạn vẫn có thể tập thể dục hoặc đi dạo mà
không làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác, và nhân viên công viên cũng
không thể cho người khác vào mà không cho bạn vào.
2.2 HHCC thuần túy và HHCC không thuần túy
Như định nghĩa ở trên thì hàng hóa công cộng là hàng hóa có 2 thuộc tính
cơ bản là tính không cạnh tranh và tính không loại trừ. Hàng hóa công cộng nào
mang đầy đủ 2 đặc tính trên thì là hàng hóa công cộng thuần túy. Một lượng
hàng hóa công cộng khi cung cấp cho 1 cá nhân thì lập tức có thể tiêu dùng bởi
tất cả các cá nhân khác trong cộng đồng. ví dụ như :quốc phòng, đài phát thanh,
đèn chiếu sáng đường,…Ngược lại là hàng hóa cá nhân thuần túy thì nó chỉ tạo
ra lọi ích cho người mua nó chứ không phải bất kỳ ai. Nói cách khác hàng hóa
cá nhân thuần túy có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, vừa dễ dàng loại trừ tất cả
những ai không sẵn sàng thanh toán theo mức giá thị trường.
Vì hàng hóa công cộng thuần túy không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng
nên với một lượng hàng hóa công cộng thuần túy nhất định, chi phí biên để
phục vụ thêm một người sử dụng bằng 0. Tuy nhiên chi phí biên để sản xuất
HHCC vẫn lớn hơn 0 vì để sản xuất thêm HHCC đòi hỏi tốn nguồn lực của xã
hội
Trong thực tế rất ít hàng hóa công cộng thỏa mãn một cách chặt chẽ hai
thuộc tính nói trên và HHCC chỉ có 1 trong 2 thuộc tính trên được gọi là HHCC
không thuần túy. Chúng được coi là trung gian giũa HHCC thuần túy và hàng
hóa cá nhân thuần túy. Có 2 loại HHCC không thuần túy là HHCC có thể tắc
nghẽn và HHCC có thể loại trừ bằng giá.

thuần túy.
• Ranh giới phân định một hàng hóa là HHCC không phải là tuyệt đối, nó
có thể thay đổi theo điều kiện thị trường và tình trạng công nghệ. Có nhiều
HHCC không có tính loại trừ chỉ là do sự lạc hậu về công nghệ. Khi điều kiện
7
Phần 3: Hàng hóa công cộng

tiên tiến hơn, cho phép tìm ra những cách thức loại trừ đơn giản và rẻ tiền thì
HHCC đó sẽ trở thành HHCC có thể loại trừ. Ví dụ như chương trình truyền
hình khi truyền qua song là miễn phí nhưng hiện nay khi truyền qua hệ thống
dây cáp thì người sử dụng phải trả tiền mới có thể xem truyền hình qua hệ thống
cáp này.
• Có rất nhiều thứ không được coi là hàng hóa thông thường vẫn mang đầy
đủ thuộc tính của HHCC như an ninh xã hội, môi trường trong sạch…
• HHCC không nhất thiết phải do khu vực công sản xuất và HHCN không
nhất thiết phải do khu vực tư nhân sản xuất. Trong thực tế, có rât nhiều HHCN
do chính phủ cung cấp như các khu nhà tập thể, dịch vụ y tế cá nhân do bệnh
viện công thực hiện, giáo dục công… Ngược lại, có nhiều HHCC do khu vực tư
nhân sản xuất như các dự án cơ sở xây dựng cơ sở hạ tầng theo hình thức BOT.
Đây là hình thức mà các hãng tư nhân đầu tư thực hiện dự án, vận hành kết quả
dự án trong một thời gian để thu hồi vốn và lợi nhuận xong sau đó chuyển giao
cho nhà nước tiếp tục vận hành.
3. Nguyên nhân ra đời HHCC
Có thể thấy HHCC là hàng hóa hữu ích cho xã hội, không thể hoặc rất khó
khăn để chia nhỏ hàng hóa thành từng đơn vị tiêu dùng (khẩu phần) và lợi ích
tiêu dùng HHCC chỉ có thể hưởng thụ chung giữa tất cả mọi người, việc người
này tiêu dùng không làm giảm lợi ích thụ hưởng của người khác. Vì vậy nó
không dễ gì ngăn cản những cá nhân không đóng góp tài chính để cung cấp tiêu
dùng chúng, khi đó họ trở thành “kẻ ăn không”. Điều này đặc biệt khó khăn nếu
khu vực tư nhân đứng ra cung cấp hàng hóa này vì họ không có khả năng cưỡng

nếu có, chỉ chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất, cung ứng HHCC. “Một
trong những điểm khác nhau chủ yếu giữa Mỹ và nhiều nước Tây Âu là Chính
phủ có vai trò hạn chế với danh nghĩa là người sản xuất HHCC”
[1]
. Thế nhưng,
Chính phủ Mỹ lại có tác động lớn đối với các quyết định sản xuất và cung cấp
các HHCC thông qua sự điều tiết bằng thuế, đơn đặt hàng hoặc trợ giá để có thể
làm thay đổi hành vi của các doanh nghiệp tư nhân (DNTN). Việc hạch toán
[1]
9
Phần 3: Hàng hóa công cộng

kinh tế đối với các HHCC do các DNNN sản xuất và cung cấp không phải dựa
trên sự điều tiết của giá cả thị trường. Do không có giá thị trường để đánh giá
những mặt hàng này, HHCC phải được đánh giá theo chi phí đầu vào làm ra
chúng. Ở Mỹ, các DNNN chủ yếu là các doanh nghiệp công ích, hoạt động
không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Số lượng các doanh nghiệp loại này không
nhiều, nên các công ty tư nhân đảm nhận cung ứng phần lớn các HHCC cho xã
hội. Ngoài các công cụ điều tiết vĩ mô để điều chỉnh hành vi của các DNTN sản
xuất và cung ứng HHCC như thuế, đơn đặt hàng, trợ giá , Chính phủ Mỹ còn
có chính sách mua HHCC của các hãng tư nhân để đáp ứng nhu cầu cho xã hội.
4.1.3 Mô hình “Nhà nước và khu vực tư nhân cùng liên kết cung ứng
tài chính và cung ứng HHCC”
Theo mô hình này, cả Nhà nước và tư nhân đều có thể liên kết, hợp tác sản
xuất, cung ứng HHCC cho xã hội. Cùng với sự khuyến khích khu vực tư đầu tư
vào các lĩnh vực của nền kinh tế, Nhà nước cũng muốn có một số doanh nghiệp
của mình như là một công cụ điều tiết trực tiếp việc sản xuất, cung ứng một số
HHCC quan trọng mà Nhà nước thấy cần thiết. Mô hình này được tiến hành phổ
biến ở New Zealand, Singapore… Trong nền kinh tế này thường xuất hiện các
hình thức cung ứng chủ yếu sau:

Cung ứng HHCC có đặc trưng rất cơ bản là khả năng tìm kiếm lợi nhuận
rất khó khăn, nếu như không muốn nói là không có lợi nhuận. Vì lẽ đó, doanh
nghiệp của hầu hết các quốc gia, đặc biệt là của khu vực tư, thường không
quan tâm đến các lĩnh vực hoạt động thuộc khu vực công mà sản phẩm làm ra
cung ứng cho xã hội là HHCC kể cả/mặc dù pháp luật của quốc gia đó vẫn
thừa nhận, cho phép hay khuyến khích các doanh nghiệp thuộc khu vực tư có
quyền đầu tư, cung ứng. Vì lý do đó, Nhà nước với tư cách là một là tổ chức
đặc biệt của quyền lực công - có đủ tư cách đại diện cho một quốc gia, đủ tài
chính và trách nhiệm thực hiện chức năng, vai trò xã hội của mình - phải đứng
ra cáng đáng, thực hiện vai trò, sứ mệnh để xã hội phát triển an toàn, bình
11
Phần 3: Hàng hóa công cộng

thường, tích cực, lành mạnh bằng cách thực hiện cung ứng HHCC thay thế các
doanh nghiệp thuần tuý khác.
Mô hình "lấp chỗ trống” được hình thành, phát triển và đề cập đến nhiều,
đặc biệt ở các nước phát triển nền kinh tế thị trường xã hội như Đức, Pháp,
Thuỵ Điển… Ở các quốc gia này, DNNN có mặt chủ yếu để “lấp chỗ trống”
trong sản xuất, cung ứng HHCC mà các DNTN không làm vì các lý do trên.
4.2 Cung cấp HHCC và vấn đề tổn thất phúc lợi xã hội
4.2.1 Cung cấp HHCC thuần túy.
Một trong những khó khăn khi cung cấp HHCC là không có một thị trường
để trao đổi mua bán hàng hóa này giống như thị trường tư nhân. Chúng ta có thể
cung cấp HHCC, như vậy có thể nói ta có thể vẽ được đường cung đối với
HHCC nhưng lợi ích và mức giá mà mỗi người sẵn sàng trả cho lợi ích mà
HHCC mang lại là rất khó để đo lường. Nhà kinh tế học Thụy Điển Erik
Lindahl đã đưa ra một mô hình nhằm tạo ra một mô hình nhằm tạo ra một giải
pháp theo kiểu thị trường cho HHCC thuần túy. Theo mô hình này, việc xác
định mức độ sẵn sàng chi trả của các cá nhân cho HHCC, Chính phủ có thể xác
định được một cơ chế đánh thuế tối ưu theo mức độ lợi ích mà cá nhân nhận

khó khăn thì động cơ trở thành kẻ ăn không càng lớn. Nếu tất cả các cá nhân
trong cộng đồng đều chọn chiến lược hành động như những kẻ ăn không thì kết
cục sẽ không có HHCC nào được cung cấp. Điều này đặc biệt khó khăn khi tư
nhân đứng ra cung cấp HHCC, vì họ không có khả năng cưỡng chế các cá nhân
phải trả tiền sử dụng HHCC mà họ cung cấp. Đây cũng chính là lý do khiến khu
vực tư nhân không muốn tham gia cung cấp HHCC thuần túy.
Chính phủ có thể khắc phục được vấn đề này bằng cách buộc các cá nhân
phải đóng góp bắt buộc thông qua thuế.
4.2.2 Cung cấp HHCC không thuần túy.
4.2.2.1 Đối với những HHCC có thể loại trừ bằng giá
13
Phần 3: Hàng hóa công cộng

Với những HHCC có thể loại trừ bằng giá thì quan điểm chung là nên dùng
giá để loại trừ bớt việc tiêu dùng nhằm tranh gây ra tắc nghẽn, đồng thời đảm
bảo các cá nhân sẽ sử dụng hiệu quả hàng hóa này.
Tuy quan điểm này là đúng đối với những hàng hóa nhanh bị tắc nghẽn,
nhưng nó có thể vẫn gây tổn thất phúc lợi cho xã hội nếu việc tiêu dùng hàng
hóa đó chưa đạt đến điểm tắc nghẽn. Lý do là khi chưa đến điểm tắc nghẽn
nghĩa là việc tiêu dùng chúng không có tính cạnh tranh và vẫn tạo ra phúc lợi xã
hội.
(Lưu ý: Q
e
và Q* đều chỉ lượng cầu cân bằng, E là giao điểm của đường
cầu và trục tung, A là giao điểm của đường cầu và đường giá)
Công suất thiết kế qua cầu là Q
c
thì điểm tắc nghẽn là Q
c
. Nếu số lượt qua

việc điều hành một hệ thống giá cả để loại trừ việc tiêu dùng HHCC là chi phí
giao dịch. Đó là toàn bộ những chi phí cần thiết để hoàn thành một giao dịch
kinh tế, chẳng hạn chi phí để duy trì hệ thống trạm thu phí trên đường cao tốc.
( Hình 2.15 giáo trình trang 94)
Xét một ví dụ về việc đi lại trên đường cao tốc. trường hợp này được mô tả
trong hình sau. Trục hoành thể hiện số lượt người đi lại trên đường đó trong một
ngày, trục tung thể hiện mức giá. Việc đi lại trên đường cao tốc có thể gây tắc
nghẽn, tức là chi phí biên cảu việc cung cấp sẽ lớn hơn 0 trước khi đạt mức tiêu
dùng tối đa. Điều này được mô tả bằng việc Q
c
(công suất thiết kế cảu con
đường) nhỏ hơn Q
m
(mức tiêu dùng tối đa khi việc đi lại trên đường là miễn
phí). Như vậy, mức tiêu dùng tối ưu nên dùng lại ở Q*, khi chi phí biên bắng lợi
ích biên.
Nếu chính phủ cung cấp công cộng dịch vụ này thì tổn thất mà xã hội phải
gánh chịu là phẩn diện tích EFQ
m
. Đây là phẩn tổn thất xảy ra do tiêu dùng quá
mức. Để tránh phần tổn thất này, cần dùng một cơ chế loại trừ bằng giá nào đó,
chẳng hạn đặt trạm thu phí ở tất cả các ngả đường dẫn vào con đường này. Tuy
nhiên điều đó làm chi giao dịch để làm điều đó tăng rất cao, làm mức lệ phí tăng
lên mức P
o
và số lượng đi lại trên tuyến đường này giảm xuống còn Q
o
.
15
Phần 3: Hàng hóa công cộng

1.1 Y tế và du lịch y tế ở Cuba
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công nhận hệ thống y tế tốt nhất thế giới là
ở Cuba. Cuba có chuẩn y tế rất cao, hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn diện cho
mọi người dân, hoàn toàn miễn phí, cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế chất lượng
cao, ưu tiên phòng bệnh và chữa bệnh giai đoạn sớm.
Trọng tâm của hệ thống chăm sóc y tế đất nước vùng Caribbe này chính là
hệ thống bác sĩ gia đình. Một bác sĩ và đội ngũ y tá chịu trách nhiệm chăm sóc
sức khỏe cho khoảng 700 người (trong khi các bác sĩ ở Anh phải trông coi gấp
đôi). Ngay cả khi một bệnh nhân được xác định hoàn toàn không có bệnh tật,
bác sĩ cũng bất ngờ đến thăm họ mỗi năm một lần, nhằm quan sát cách sống của
người này và môi trường sống của họ. Hệ thống phòng khám 24/24 cũng là một
sáng kiến của Cuba. Vì vậy, tuổi thọ trung bình của Cuba khá cao là 78, ngang
với Hoa Kỳ. Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh của Cuba còn thấp hơn ở Hoa Kỳ. Cuba
16
Phần 3: Hàng hóa công cộng

chỉ có 200 bệnh nhân AIDS và gần như không có người dân nào bị nhiễm viêm
gan B.
Điều đặc biệt, Cuba được xem là một điểm đến du lịch chăm sóc sức khỏe
hấp dẫn nhất trên toàn thế giới, nhất là với những người tìm kiếm dịch vụ chăm
sóc sức khỏe chất lượng cao với chi phí thấp. Du lịch y tế là sự kết hợp độc đáo
giữa du lịch với khám chữa bệnh, trong thời gian này, bạn sẽ dành cho mình
một kỳ nghỉ trước hoặc sau khi điều trị. Khí hậu nhiệt đới của hòn đảo hình cá
sấu vươn dài trên bờ biển Caribe, trình độ của bác sĩ nơi đây, chi phí sinh hoạt
rất phải chăng và các bãi biển đẹp như thiên đường là những điều kiện thúc đẩy
du lịch y tế phát triển mạnh mẽ.
1.2 Nghiên cứu cơ bản ở Nhật Bản và Mỹ
Vào những năm 1980, khi người Nhật chỉ thiên về hỗ trợ nghiên cứu ứng
dụng và phát triển sản phẩm hơn là khoa học cơ bản nhưng họ đã chiếm lĩnh
nhiều thị trường công nghệ, kể cả những lĩnh vực rất tinh xảo như bộ nhớ truy

dự kiến đạt 1.547 tỷ USD, tăng 0,6% so với năm 2013 và động lực tăng trưởng
trong chi tiêu quân sự sẽ đến từ Nga, Trung Quốc và Trung Đông. Ngân sách
quốc phòng của Nga dự kiến sẽ tăng 44% trong 3 năm tới lên 98 tỷ USD vào
năm 2016. Riêng Trung Quốc, đến năm 2015, chi phí quốc phòng sẽ vượt tổng
chi của Anh, Đức và Pháp. Với đà như hiện nay, chi phí quốc phòng của Nga và
Trung Quốc trong năm 2014 dự kiến sẽ cao hơn tổng chi phí quốc phòng của
Liên minh châu Âu (EU). Cho dù vẫn là nước dẫn đầu về phí tổn trong lĩnh vực
quốc phòng, nhưng chi phí của Mỹ sẽ giảm xuống còn khoảng 575 tỷ USD vào
năm 2014 và 535 tỷ USD vào năm 2015 do cắt giảm chi tiêu.
2. Ở Việt Nam
2.1 Một số HHCC điển hình
2.1.1 Giáo dục
Nếu như năm 1945 nước ta còn 95% người dân mù chữ, thì đến thời điểm
này cả nước đã có hơn 97% người dân biết chữ. Năm 2000, Việt Nam đã đạt
18
Phần 3: Hàng hóa công cộng

chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học. Từ năm học 2002-2003, tỷ
lệ biết chữ của người lớn trong độ tuổi 15-24 đã đạt gần 95%, số năm đi học
trung bình của người dân đạt mức 7,3 năm. Việc dạy chữ dân tộc đã được đẩy
mạnh ở các địa phương, nhờ đó tỷ lệ người dân tộc thiểu số mù chữ giảm mạnh.
Bên cạnh việc không ngừng tăng tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục từ 8,6%
năm1985 tăng lên 12,3% năm 2003, Nhà nước ta đã tích cực vận động, thu hút
vốn ODA, tài trợ của các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước dưới hình thức
viện trợ không hoàn lại và cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi. Với mức chi cho
giáo dục - đào tạo hàng năm hiện nay tương đương 20% tổng chi ngân sách nhà
nước, Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới đầu tư cho giáo dục - đào
tạo cao nhất.
Năm 2012, tổng số tiền chi cho giáo dục là 170.349 tỷ đồng, tăng hơn so
với năm trước. Năm 2011, số tiền chi cho giáo dục là 151.200 tỷ đồng.

Đánh giá tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2013, Bộ Y tế cho
biết ngân sách toàn ngành ước thực hiện là 71.828 tỷ đồng. Bộ Y tế đưa ra dự
toán chi từ ngân sách nhà nước năm 2014 là 83.807 tỷ đồng.
2.1.3 Giao thông vận tải
Lĩnh vực cung ứng dịch vụ vận tải thu hút sự tham gia của các thành phần
kinh tế, chủ yếu là vận tải đường ô tô và đường sông, còn vận tải đường hàng
không và vận tải biển vẫn tập trung chủ yếu trong tay các công ty của nhà nước.
Vốn đầu tư cho ngành giao thông 3 năm (2009-2011) khoảng 181.324 tỷ
đồng, bình quân 60.441 tỷ đồng/năm, trong đó vốn TW chiếm 61% vốn địa
phương chiếm 39% (các dự án vốn TW thì NSNN chiếm 35,6%; TPCP 40,0%
và ngoài NS 24,3%).
Tỷ lệ đầu tư cho ngành GTVT so với GDP trong giai đoạn 2009 đến 2011
đạt bình quân cả nước là 3,1% (cao hơn giai đoạn 2000 đến 2006 đạt bình quân
cả nước là 2,8%).
Bảng 1.8. Tổng hợp vốn thực hiện đầu tư phát triển ngành GTVT
20
Phần 3: Hàng hóa công cộng

giai đoạn 2009-2011
Đơn vi: tỷ đồng
T
T

m
Vốn
TW
Vốn
ĐP
Tổng
Vốn

3
20
11
35.10
2
19.5
00
54.60
2
2.535.
000
2,2%

Cộ
ng
110.5
76
70.7
48
181.3
24Bìn
h quân
36.85
9
23.5
83
60.44

- Thoát nước và xử lý nước thải: Hầu hết các đô thị tỉnh lị đã và
đang được đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước, hiện có 7 đô thị có trạm
xử lý nước thải sinh hoạt đang hoạt động với các công suất khác nhau, 11
đô thị đang triển khai các dự án xây dựng hệ thống thoát nước và 11 đô
thị khác đang triển khai công tác đấu thầu thiết kế hoặc thi công xây
dựng. Tổng công suất các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đô thị đạt
khoảng 315.000m3/ngày đêm.
- Dịch vụ về thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
đô thị: Tỉ lệ thu gom trung bình đạt 82%. Tỉ lệ thu hồi các thành phần có
khả năng tái chế và tái sử dụng khoảng 20-25%. Công tác phân loại CTR
tại hộ gia đình cũng đang ở giai đoạn triển khai thí điểm tại một số
phường, xã ở Hà Nội và TPHCM. Công nghệ xử lý CTR chủ yếu được sử
dụng hiện nay là chôn lấp và chế biến chất thải hữu cơ thành phân
compost; công nghệ đốt rác mới chỉ tập trung xử lý chất thải rắn nguy hại
y tế.
- Dịch vụ về cung cấp điện và chiếu sáng đô thị: Tại các đô thị loại
đặc biệt và loại I, II đã có 90% các tuyến đường chính cấp đô thị được
chiếu sáng, tại các đô thị loại III, IV, tỉ lệ này chiếm gần 80%. Các đô thị
22
Phần 3: Hàng hóa công cộng

loại IV và loại V tập trung chiếu sáng đường phố chính chủ yếu là những
đoạn quốc lộ, tỉnh lộ đi qua đô thị. Việc sử dụng rộng rãi nguồn sáng,
thiết bị chiếu sáng tiết kiệm điện cũng đã và đang được triển khai tại các
địa phương.
2.2 Thực trạng cung cấp hàng hóa công cộng ở Việt Nam
2.2.1 Hiệu quả cung cấp HHCC thấp
Các HHCC này nhìn chung không chỉ thiếu về số lượng, mà chất lượng
phục vụ còn thấp do khối lượng HHCC Nhà nước tiếp nhận cung ứng trực tiếp
còn quá lớn trong khi hệ thống cung cấp HHCC còn nhiều hạn chế về năng lực

hơn các lĩnh vực khác, song vẫn ở mức rất hạn chế, không bảo đảm được chi phí
cần thiết của các đơn vị nhà nước cung cấp HHCC. Mức ngân sách hạn hẹp như
vậy đã ảnh hướng rất lớn đến hiệu quả cung cấp HHCC, làm thu hẹp diện dịch
vụ được cung ứng cũng như chất lượng dịch vụ, trước hết là không đủ trả lương
thỏa đáng cho cán bộ, nhân viên trong các ngành cung ứng HHCC, nhất là các
giáo viên, cán bộ y tế, công nhân vệ sinh môi trường, tiếp đó là không đáp ứng
được yêu cầu phát triển. Trong khi ấy, nhu cầu của nhân dân về các lĩnh vực
này đang tăng lên nhanh chóng với đòi hỏi cao hơn về chất lượng khi mức sống
ngày một cải thiện. Thực trạng này dẫn đến những bất cập trong việc cung cấp
HHCC của Nhà nước, đồng thời làm phát sinh những hiện tượng tiêu cực, phá
huỷ nền tảng đạo đức của xã hội.
III. Đổi mới cung cấp HHCC
1. Sự cần thiết phải đổi mới cung cấp HHCC
Ở nhiều nước trên thế giới, khu vực nhà nước đã từng nắm độc quyền
trong lĩnh vực cung cấp HHCC và nhìn chung chất lượng cung ứng là vấn đề
gây nhiều bức xúc. Những thập kỷ qua đã chứng kiến việc nhà nước trực tiếp
tiến hành quá nhiều hoạt động, trong đó có hoạt động cung cấp HHCC, mà lẽ ra
có thể chuyển giao ở một mức độ nhất định cho thị trường và xã hội dân sự đảm
nhiệm. Kinh nghiệm từ các nước phát triển cho thấy một chính phủ ôm đồm quá
mức sẽ không đưa đến một xã hội phát triển. Do vậy, một trong những mục tiêu
cải cách đã được các nhà nước xác định rõ là chuyển một phần khá lớn chức
năng quản lý xã hội của chính phủ sang cho các tác nhân khác, và xã hội hóa
24
Phần 3: Hàng hóa công cộng

dịch vụ công là một xu thế lớn trong trào lưu cải cách nhà nước hiện nay ở phần
lớn các nước trên thế giới. Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng nhất trong đảm
bảo cung cấp dịch vụ công, nhưng không nhất thiết phải là người trực tiếp cung
cấp tất cả các dịch vụ đó. Vai trò của nhà nước cần thể hiện rõ hơn trong đẩy
mạnh quản lý cung cấp HHCC bằng luật pháp, chính sách và các biện pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status