kĩ thuật nguội ckdc bách khoa tp hồ chí minh - Pdf 24

PHẦN HỌC KỸ THUẬT NGUỘI
NỘI DUNG BÀI GIẢNG
Cán bộ giảng dạy: Ks. DƯ VĂN RÊ
Ban Giảng dạy thực hành –Khoa Cơ khí
Bài I. Tìm hiểu chung về nghề nguội
I. Các khái niệm chung
1. Định nghĩa
Nguội là phương pháp gia công cơ khí cắt gọt bằng tay, dùng sức người, với dụng cụ là
dụng cụ nguội và vật liệu gia công không được gia nhiệt ( nung nóng).
Gia công nguội đã có từ lâu đời (khoảng thế kỹ thứ 12) sau hai phương pháp gia công
đúc và gia công rèn, nó ra đời nhằm cung cấp các sản phẩn cơ khí dưới dạng cơ cấu, thiết bị và
máy mà hai phương pháp gia công trước đó không thế thực hiện được.
2. Phân loại nghề nguội
Theo sự phát triển của xã hội thì nghề nguội cũng được chia ra thành những nghề có
chuyên môn sâu và đã được công nhận trong danh bạ nhà nước như sau:
+ Nghề nguội dụng cụ : nghề nguội mà người thợ chỉ làm một công việc là dùng những
dụng cụ cắt gọt để chế tạo ra các chi tiết đúng theo những yêu cầu kỹ thuật của bản vẽ chi tiết,
các chi tiết đó có thể dùng để lắp thành cơ cấu, thiết bị hoặc máy, các chi tiết đó cũng có thể là
một sản phẩm hoàn chỉnh như làm khuôn, khi nói đến thợ khuôn thì chính là người ta nói đến thợ
nguội dụng cụ.
+ Nghề nguội lắp ráp : nghề nguội mà người thợ chỉ làm một công việc là dùng các chi
tiết đã được chế tạo để lắp chúng lại với nhau thành cơ cấu, thiết bị hoặc máy đúng theo các yêu
cầu kỹ thuật của bản vẽ lắp, trong quá trình thực hiện công việc thì người thợ nguội lắp ráp có khi
cần phải sửa chữa, hiệu chỉnh lại các chi tiết cho phù hợp với yêu cầu kỹ thuật của thiết bị hoặc
máy. Người ta có thể thấy thợ nguội lắp ráp rất nhiều ở các công ty lắp máy và thường gọi họ là
thợ lắp máy.
+ Nghề nguội sửa chữa : nghề nguội mà người thợ chỉ làm công việc là bảo trì các thiết
bị đang làm việc của một cơ sở sản xuất nào đó. Những việc làm của thợ nguội sửa chữa là bảo
dưỡng , sửa chữa phục hồi các thiết bị : châm dầu, hiệu chỉnh thông số, thay thế các chi tiết bị
hỏng, tháo lắp máy và sửa chữa phục hồi các chi tiết bị hỏng. ở trong các cơ sở sản xuất có thiết
bị công nghệ thì đều có thợ nguội sửa chữa ở các tổ cơ điện, phòng cơ điện.

tiết có kích thước khoảng 400-500mm, cỡ vừa với khả năng kẹp các chi tiết có kích thước
khoảng 200mm, cỡ nhỏ với khả năng kẹp kích thước khoảng 50mm.
Theo kết cấu và công dụng ta có các loại ê-tô sau:
+ Ê-tô bàn (ê-tô song hành) (hình 1-2)
Đây là loại ê tô thông dụng nhất, nó được đặt trên bàn và bắt chặt nhờ những vít kẹp, khi
mở và khép hai má kẹp của ê tô luôn luôn song song với nhau. Ê tô bà được chế tạo bằng
phương pháp đúc do đó không dùng để thực hiện những công việc có va đập quá lớn, ê tô dẽ bị
hỏng.
+ Ê-tô đứng (hình 1-3)
Ê tô đứng được lắp bên cạnh bàn nguội, hai má kẹp của ê tô đứng chuyển động tượng
đối với nhau nhờ một khớp bản lề do đó không bao giờ song song với nhau, nên khi kẹp kém ổn
định. Ê tô đứng thường được dùng để thực hiện những công việc cần tác dụng lực va đập lớn.

Hình 1-2. Ê tô bàn Hình 1-3. Ê tô đứng.
+ Ê-tô tay
Khi gia công các chi tiết có kích thước nhỏ, để xoay trở chi tiết khi gia công một các dễ
dàng và nhanh người ta dùng ê tô tay, để thay thế cho ê tô tay hiện nay người ta thường hay
dùng kềm bấm.
3. Máy khoan
Máy khoan là thiết bị dùng trong gia công nguội để tạo lỗ cơ bản, Theo kích thước máy
cũng như kích thước chi tiết gia công người ta có các kiểu máy khoan:
+ Máy khoan cần ( hình 1-4)
Đây là kiểu máy khoan có kích thước lớn nhất, nó có thể gia công các chi tiết năng đến
1000kg. Nó có một dầm ngang ( cần) xoay quanh trụ thân máy, trên dầm có đầu máy có thể di
chuyển ra vào. Máy khoan cần coù thể được dùng để khoét, ta rô.
+ Máy khoan đứng ( hình 1-5)
Máy khoan đứng dùng để gia công các chi tiết đến khoảng 100kg. Máy khoan đứng có
đầu máy lắp cố định trên trụ thân máy, chỉ có bàn máy là có thể dịch chuyển lên xuống và quay
quanh trụ thân máy.
+ Máy khoan bàn ( hình 1-6)


Hình 1-11. Thước cặp, thước đo chiều cao.
+ Pan me (hình 1-12)
Là dụng cụ đo có độ chính xác cao, giá trị đo của pan me là 1/100 đối với pan me cơ khí
và 1/1000 đối cới pan me điện tử. Tùy theo bề mặt cầ đo mà ta có pan me đo ngoài hoặc panme
đo trong. Mỗi một cái pan me có một khoảng đo bằng 25mm: từ 0 đến 25, từ 25 đến 50, từ 50
đến 75, . . .

Hình 1-12. Pan me và cách đo bằng Pan me
+ Đồng hồ so (hình 1-13)
Đồng hồ so là dụng cụ dùng để kiểm tra độ sai lệch, đồng hồ so có giá trị đo là 1/100 đến
1/1000.

Hình 1-13. Đồng hồ so và ứng dụng đồng hồ so.
+ Căn mẫu, căn lá ( hình 1-14)
Căn là những miếng thép được tôi cứng có khoảng cách giữa hai bề mặt đo rất chính
xác, khi cần kiểm tra một kích thước người ta ghép các miếng căn lại với nhau cho bằng đúng
với kích thước cần đo. Nếu các miếng căn mõng quá thì người ta ghép chúng vào thành một xấp
gọc là căn lá.

a) Căn mẫu và cách dùng căn mẫu b) Căn lá
Hình 1-14. Căn mẫu và căn lá
+ Góc mẫu, Ê ke ( Hình 1-15)
Tương tự như căn mẫu, góc mẫu là những miếng thép tôi cứng và được mài sao cho hai
mặt đo tạo với nhau một góc thật chính xác, khi cần kiểm tra một kích thước góc nào người ta
ghép các miếng góc mẫu lại với nhau. Nếu góc mẫu có kích thức góc đặc biệt : 30
o
, 45
o
, 60

chi tiết, nó dùng để gia công bán tinh và gia công tinh.( Hình 1-19)

Hình 1-19. Giũa.
+ Đục – Búa: Dụng cụ cắt bằng xung lực để hớt đi từng miếng vật liệu hoặc để chặt, cắt
vật liệu. (Hình 1-20)

Hình 1-20. Đục và búa.
+ Lưỡi cạo: Dụng cụ cắt đơn chỉ có một lưỡi cắt, dùng để hớt đi một lượng rất nhỏ vật
liệu ở vị trí chính xác. ( Hình 1-21)

Hình 1-21. Cạo.
+ Đá mài: là dụng cụ cắt được chế tạo bằng cách kết dính các hạt mài thành những
thanh hình lăng trụ, dùng để gia công các bề mặt đã được nhiệt luyện đạt độ cứng mà các dụng
cụ cắt kể trên không cắt được.
+ Giấy nhám: Là dạng dụng cụ cắt được chế tạo bằng cách kết dính các hạt mài lên một
tấm vải hay giấy, dùng để gia công tăng độ bóng các mặt cong phức tạp.
+ Bột nghiền : là các hạt mài rời rạc được trộn trong dầu đặc, dùng để gia công các chi
tiết lắp bộ đôi chính xác với nhau.
+ Máy mài cầm tay: Là dụng cụ cắt cầm tay dẫn động bằng điện hay khí nén, nó dùng để
cắt gọt nhanh thay thế cho công việc giũa và đục.(Hình 1-22)

Hình 1-22. Máy mài cầm tay.
+ Mũi khoan: Là dụng cụ cắt dùng trên máy khoan, trong gia công nguội người ta dùng
mũi khoan ruột gà để tạo lỗ cơ bản.( Hình 1-23)
Hình 1-23. Mũi khoan ruột gà.
+ Lưỡi doa : Dụng cụ cắt có thể dùng tay hoạc máy khoan nhằm tăng độ chính xác và độ
bóng của lỗ.( Hình 1-24)

Hình 1-24. Các kiểu mũi doa.
+ Ta rô –Bàn ren: Dụng cụ cắt ren địng hình bằng tay dùng để tạo ren trong lỗ và trên
Hình 1-31. Các kiểu cảo.
+ Búa các loại: Búa dùng trong tháo lắp thường được làm bằng vật liệu mềm để tránh
gây hỏng chi tiết, ta có búa gỗ, búa cao su, búa nhựa, búa có đầu búa bằng thau, bằng chì, . . .
( Hình 1-32)

Hình 1-32. Các loại búa.
+ Ti tống: Ti tống là dụng cụ phụ dùng kèm theo búa thép để tháo các chi tiết được lắp
chặt với nhau như mối ghép bằng chốt.( Hình 1-33)

Hình 1-33. Ti tống.
IV. Cách chọn ê tô và cách gá chi tiết trên ê tô
1. Cách chọn ê tô ( Hình 1-34)
+ Chọn ê tô bàn
Tư thế khi chọn ê tô bàn : đứng tư thế nghiêm, thẳng người, mặt nhìn thẳng, bàn tay
thuận xếp các ngón duỗi thẳng, co khuỹu tay sao cho đầu ngón tay dài nhất chạm cằm. Ê tô nào
có chiều cao sao cho phần cao nhất của má kẹp vừa chạm bằng hoặc thấp hơn cùi chỏ một
khoảng 1-2cm là được.
+ Chọn ê tô đứng
Tư thế khi chọn ê tô đứng: đứng tư thế nghiêm, thẳng người, mặt nhìn thẳng, bàn tay
nắm chặt lại, co khuỹu tay sao cho nắm tay chạm cằm. Ê tô nào có chiều cao sao cho phần cao
nhát của má kẹp vừa chạm bằng hoặc thấp hơn cùi chỏ một khoảng 1-2 cm là được.

a) Cách chọn ê tô bàn. B) Cách chọn Ê tô đứng.
Hình 1-34. Cách chọn Ê tô.
2. Cách gá chi tiết trên ê tô
Chi tiết khi được gia công phải thật ổn định, muốn thế thì chi tiết phải được gá và kẹp
đúng nguyên tắc vợp lý.
+ Nguyên tắc gá chi tiết trên ê tô

Trong quá trình gia công chi tiết bằng các phương pháp gia công trên máy thì người ta
quan trong nhất là gá đặt. Hình dáng, kích thước và vị trí của các bề mặt khi gia công trên máy
hoàn toàn được xác định sau quá trình gá đặt, bởi vì vị trí của các thành phần công nghệ trong
hệ thống đã được hoàn toàn xác định.
Trái lại, trong quá trình gia công nguội thì các thành phần công nghệ của hệ thống hoàn
toàn không có mối ràng buộc với nhau. Do đó để có chuẩn khi gia công các bề mặt bằng phương
pháp nguội thì người ta phải vạch dấu mà theo các vết vạch đó người ta sẽ gia công. Vạch dấu
được gọi nôm na là vẽ, tương tự như khi học sinh phổ thông cắt các hình thủ công hoặc người
thợ may thiết kế một chi tiết trang phục.
2. Các phương pháp vạch dấu
+ Phương pháp vạch dấu vẽ trực tiếp
Đây là phương pháp vạch dấu bằng cách thực hiện một bản vẽ với tỉ lệ 1:1 của các bề
mặt cần gia công trên phôi (chi tiết ). Trong khi vẽ người ta chỉ dùng các kiến thức về vẽ hình học,
bỏ qua các quy định về đường nét, chữ số, vẽ quy ước. Vạch dất theo phương pháp này có
những đặc điểm:
- Chỉ dùng khi gia công số lượng chi tiết rất ít.
+ Chỉ thực hiện khi người vạch dấu có kiến thức về vẽ kỹ thuật.
+ Phương pháp vạch dấu chép hình
Trong phương pháp này người ta xác định các bề mặt gia công nhờ vào một chi tiết mẫu.
Mẫu có thể là mẫu thật ( khi hình dáng, kích thước và vật liệu là thật) hoặc là mẫu giả ( khi hình
dáng, kích thước là thật và vật liệu là giả). Người ta chỉ đặt mẫu lên phôi, sân siu vị trí cho đúng
rồi thực hiện công việc vạch dấu. Phương pháp này có những đặc điểm sau đây:
- Dùng khi gia công số lượng chi tiết nhiều.
- Dùng cho những người không có đủ kiến thức về vẽ kỹ thuật.
II. Dụng cụ dùng trong vạch dấu
1. Dụng cụ đo
Vạch dấu là công tác chuẩn bị, cho nên dụng cụ đo dùng trong vạch dấu không nhiều và
cũng rất đơn giản.( xem lại bài Tìm hiểu chung về nghề nguội)
+ Thước lá - thước cuộn
+ Thước cặp, thước đo chiều cao.


Hình 2-5 . Mũi đột và búa đột dấu.
+ Ê ke định tâm – côn định tâm: Dụng cụ dùng để xác định tâm của các bề mặt tròn.(Hình
2-6)

a) Ê ke định tâm. b) Côn định tâm.
Hình 2-6 . Ê ke định tâm và côn định tâm.
III. Trình tự vạch dấu.
1. Chuẩn bị bề mặt vạch dấu. ( Hình 2-7)
Với các vật liệu cơ khí thì thông thường có bề mặt rất cứng nên rất khó để lại các vết khi
vạch. Để nổi rỏ vác vết vạch người ta bôi lên bề mặt cần vạch dấu một lớp bột màu, bột màu
thường dùng là sơn, vôi quét tường, phấn viết bảng ngâm nước.
Hình 2-7 . Công đoạn bôi bột màu.
2. Thực hiện vạch dấu . ( Hình 2-8)
Dùng các dụng cụ đo và dụng cụ vạch dấu để thể hiện các bề mặt cần gia công với tỉ lệ
1:1 bằng một trong hai phương pháp nêu trên.

Hình 2-8 . Công đoạn vạch dấu.
3. Đột dấu
Các vết vạch dấu rất dễ bị mất đi trong quá trình vận chuyển, gá kẹp và cắt. Để lưu lại
các bề mặt đã vạch dấu một cách lâu dài người ta dùng mũi đột để đột những điểm dọc theo các
đường vạch dấu.
Bài III. Kỹ thuật cưa – giũa.
I. Kỹ thuật cưa.
1. Khái niệm (Hình 3-1)
Cưa là một phương pháp trong gia công nguội, dùng dụng cụ là cưa để cắt phôi hoặc để
cắt bỏ đi các lượng dư quá lớn.
Cưa là một khung sắt có tay nắm, lưỡi cưa được lắp trên khung cưa nhờ hai chốt: một
chốt giữ và một chốt căng có tay hồng.
Lưỡi cưa có thể được lắp lên khung theo hai hướng: lắp thuận và lắp nghịch.Trong gia

- Cưa mở rộng: sau khi đã đạt được cấp độ cưa cơ bản thì người cưa phải thực hiện một
đường cưa có bề rộng khoảng 1,5 – 2 lần bề rộng lưỡi cưa, Để thực hiện được cấp độ này thì
người cưa phải liên tục lách lưỡi cưa qua lại để mở rộng đường cưa, đồng thời phải giữ đúng
theo đường đã vạch.
- Cưa đường cong: Sau khi đã thực hiện được cấp độ cưa mở rộng thì ta nhận thấy rằng
lưỡi cưa có thể nghiêng được một chút trong rãnh đã cưa, có nghĩa là ta có thể thay đổi hướng
của đường cưa, chú ý là muốn chuyển hướng đường cưa về phía nào ta phải thực hiện lách lưỡi
cưa mở rộng đường cưa về phía đó nhiều hơn.
a. Cưa thẳng theo vạch dấu. b. Cưa mở rộng. c. Cưa đường cong.
Hình 3-3. Các kỹ thuật cưa cơ bản.
+ Các sai hỏng khi cưa ( Hình 3-4)- nguyên nhân-cách khắc phục
Trong thao tác cưa cơ bản người cưa thường cưa sai so với vết vạch dấu. Hiện tượng
này có thể do các nguyên nhân sau:
- Do đặt lưỡi cưa sai vị trí: Trong thao tác cưa, khi bắt đầu đường cưa, khi đẩy cưa tới và
lùi cưa về lưỡi cưa sẽ bị dịch chuyển sai vị trí vạch dấu, dẫn đến đường cưa bị sai. Để khắc phục
sai hỏng do nguyên nhân này thì khi bắt đầu đường cưa, người ta cho lưỡi cưa vào đúng vị trí
vạch dấu, tì ngón tay cái của bàn tay nghịch vào thân bên lưỡi cưa rồi kéo cưa tới lui để tạo một
vết hằn đúng vị trí đã vạch dấu, sau đó mới bắt đầu thao tác cưa.
- Do khung cưa bị nghiêng: Trong tư thế và thao tác cưa đúng thì mắt, vị trí cắt của lưỡi
cưa và khung cưa đồng phẳng. Do đó để quan sát được vị trí cắt của lưỡi cưa thì thay vì nghiêng
đầu để nhìn thì người ta thường có thói quen nghiêng khung cưa, từ d0ó dẫn đến lưỡi cưa cũng
bị nghiêng theo và đường cưa bị sai. Để tránh được sai hỏng do nguyên nhân này thì người cưa
phải giữ khung cưa thẳng với đường cưa như đã nhắc ở phần chú ý trong tư thế và thao tác khi
cưa.
- Do mòn me lưỡi cưa: Để tránh hiện tượng kẹt lưỡi cưa do phoi bụi lọt vào vị trí cắt hoặc
do giản nở nhiệt khi cưa, người ta chế tạo lưỡi cưa có các răng cắt được bẽ qua lại sang hai bên
được gọi là bẽ me lưỡi cưa. Nhưng có thể vì nhà chế tạo nhiệt luyện lưỡi cưa không đồng đều
hoặc do người cưa thao tác cưa không đúng (ép lưỡi cưa sang một bên khi cưa) làm cho lưỡi
cưa bị mòn me một bên dẫn đến khả năng cắt của hai bên me lưỡi cưa không giống nhau làm
cho đường cưa bị xéo. Để khắc phục sai hỏng do nguyên hân này thì tốt nhất nên thay lưỡi cưa
Hình 3-6 . Phân loại giũa theo mật độ răng.
Khi tra các giũa cần lưu ý :
- Chiều sâu tra cán
Chuôi giũa được tra vào cán với chiều sâu trong khoảng lớn hơn nửa chuôi và gần chạm
vai lưỡi giũa. nếu vai lưỡi giũa chạm vào cán thì cần phải thay cán mới hoặc phải chêm thêm gì
vào phần chuôi để có thể đóng cán chặt thêm khi bị lỏng, nếu phần chuôi tra vào cán quá ít thì
cần dùi lỗ cán giũa rông và sâu thêm một ít .
- Cách tra và tháo cán giũa ( Hình 3-7)
Khi tra các giũa ta lắp cán dính vào chuôi rồi dùng búa đánh vào đuôi cán hoặc cầm lưỡi
giũa và đánh phần cán xuống bàn nguội để tra chặt hơn.
Để tháo giũa ra khỏi cán thì ta có thể dùng búa hay một thanh cứng đánh vào vai cán
giũa hoặc đánh vai cán giũa vào cạnh bàn nguội.
Chú ý khi tra cán giũa phải cầm phần lưỡi , không cầm phần chuôi để đóng chặt nhằm
tránh tai nạn.

a) Đúng b) Sai.
Hình 3-7 . Cách tra và tháo cán giũa.
2. Tư thế- thao tác khi giũa kim loại
+ Tư thế ( Hình 3-8)
- Tư thế chân ( tương tự như tư thế chân khi cưa)
- Tư thế tay :
Tay thuận cầm cán giũa cắc gọn bằng cả bàn tay và 5 ngón tay, phần chuôi cầu của cán
giũa được đặt vào phần lõm giữa bàn tay.
Tay nghịch dặt trên đầu giũa, các ngón tay duỗi ra. Tùy theo chế độ gia công mà có thể
đặt cả bàn tay, vài ngón tay hoặc chỉ một ngón tay lên trên đầu giũa.

Hình 3-8 . Tư thế cầm cán giũa và đứng giũa.
+ Thao tác

Giũa ngang là thao tác giũa có hướng cắt theo chiều hẹp hơn của bề mặt gia công. Lúc
này số răng tham gia cắt đồng thời sẽ ít hơn khi giũa dọc, do đó lực cắt cho mỗi răng giũa lớn
hơn, dẫn đến chiều sâu cắt cũng lớn hơn. Giũa ngang có năng suất cắt cao hơn, nhưng do cắt
sâu và chiều dài tựa ngắn cho nên chất lượng bề mặt gia công kém. Giũa ngang thường dùng
để gia công phá thô.
- Giũa dọc
Giũa dọc là thao tác giũa có hướng cắt theo chiều rộng hơn của bề mặt gia công. Lúc
này số răng tham gia cắt đồng thời sẽ nhiều hơn khi giũa ngang, do đó lực cắt cho mỗi răng giũa
nhỏ hơn, dẫn đến chiều sâu cắt mõng hơn. Giũa dọc có năng suất cắt thấp, nhưng do cắt mõng
và chiều dài tựa lớn cho nên chất lượng bề mặt gia công tốt. Giũa dọc thường dùng để gia công
tinh.
- Giũa đan chéo
Giũa đan chéo là thao tác giũa theo hai hướng vuông góc với nhau( thông thường các
hướng giũa không theo chiều ngang hay chiều dọc). ở phương pháp này thì năng suất cắt và
chất lượng bề mặt gia công trung bình, nhưng do giũa theo hướng này là cắt trên đỉnh nhấp nhô
của hướng giũa trước đó gây ra . Giũa đan chéo thường dùng gia công đối với những người thợ
có tay nghề thấp.

a) Giũa ngang. b) Giũa dọc. c) Giũa đan chéo.
Hình 3- 10. Các phương pháp giũa.
- Đánh bóng bằng giũa
Sau khi gia công bằng các phương pháp giũa kể trên thì các vết cắt rất sâu, để sóa các
vết cắt đó người ta thực hiện đánh bóng bằng giũa. Khi thực hiện đánh bóng thì tư thế và thao
tác tương tự như khi giũa, chỉ khác ở chổ là không nhấc giũa lên khi lùi về và không đè giũa khi
cắt, giũa có chuyển động xoa trên bề mặt gia công.
Bài IV. Kỹ thuật đục kim loại
1. Khái niệm
Đục là phương pháp gia công nguội bằng cách hớt đi một lớp vật liệu trên bề mặt cần gia
công với dụng cụ là lưỡi đục và dụng cụ tạo lực là búa.
Đục là dụng cụ cắt gọt có dạng một hình lăng trụ dài khoảng 150 – 200mm, được làm

cổ tay), chiều cao đầu búa được nâng cao ngang tai không quá đầu, chiều sâu ngang thân người
không vượt quá lưng. Cách đập búa này thường được dùng để đục nhất.
- Đập búa bằng cánh tay
Trong cách thao tác này thì búa được nâng lên nhờ vào khớp khuỹu tay và khớp vai ( giữ
chắc khớp cổ tay), chiều cao đầu búa được nâng cao lên quá đầu, chiều sâu vượt quá lưng.
Cách đập búa này ít thường được dùng, chỉ dùng để đục chặt đứt, đập búa khi gò lực lớn.
a) Đập búa bằng cổ tay. b) Đập búa bằng khuỹu tay. c) Đập búa bằng
cánh tay.
Hình 4-4 . Các thao tác đập búa khi đục.
3. Kỹ thuật đục kim loại
Để đạt được năng suất cắt và chất lượng bề mặt gia công khi đục, người ta có hai vấn đề
phải làm:
+ Mài sắc lưỡi đục
Không như trong gia công máy: Thông số cắt của các dụng cụ được xác định khi mài
lưỡi cắt. Trong gia công nguội người ta chỉ có một thông số cắt duy nhất có thể xác định khi mài
sắc lưỡi cắt là góc sắc. Tùy theo đặc tính của bề mặt gia công mà người ta có thể mài một mặt
bên hoặc hai mặt bên của lưỡi đục, góc sắc còn lại của lưỡi đục phụ thuộc vào vật liệu gia công
và chế độ gia công:
- Khi gia công tinh mõng hoặc gia công vật liệu mềm người ta mài lưỡi đục có góc sắc
nhỏ lại ( mõng mép hơn).
- Khi gia công thô hoặc gia công vật liệu cứng người ta mài lưỡi đục có góc sắc lớn ( dày
mép hơn).
* Thao tác mài lưỡi đục trên máy mài hai đá: (Hình 4-5)
. Tay thuận cầm thân dưới của đục bằng ngón tay cái và ba ngón kế tiếp, ngón tay út
chặn lấy chuôi đục.
. Tay nghịch cầm đỡ phần thân trên của đục có hai nhiệm vụ là: tì lưỡi đục vào đá
và điều chỉnh góc sắc khi mài.
. Lưỡi đục được đặt ngược từ phía dưới lên, không được đặt suôi từ trên xuống hoặc
mài bằng mặt đầu của đá để tránh vỡ đá gây tai nạn.


mũi khoan, nhãn mác nhà chế tạo, Mũi khoan chuôi trụ được lắp trên máy thông qua một bộ phận
kẹp gọi là cối kẹp mũi khoan . ( Hình 5-2)

Hình 5-2 . Mũi khoan chuôi trụ và cối kẹp mũi khoan.

+ Mũi khoan chuôi côn có chuôi hình côn với góc côn được tiêu chuẩn hoá gọi là côn
Morse, đoạn hình trụ ở giữa lưỡi cắt và chuôi có ghi các thông số của mũi khoan, mũi khoan có
thể được lắp trực tiếp trên máy hoặc thông qua một hoặc nhiều chi tiết chuyển đổi gọi là áo côn.(
Hình 5-3)

Hình 5-3 . Mũi khoan chuôi côn và các kiểu áo côn.

2. Kỹ thuật
+ Gá đặt chi tiết
- Gá đặt chi tiết trực tiếp trên bàn máy
Khi gia công lỗ trên máy khoan cần, máy khoan đứng và máy khoan bàn, chi tiết có thể
được đặt trục tiếp trên bàn máy và được kẹp chặt nhờ các chi tiết kẹp chặt là bu lông, vấu kẹp
( Hình 5-4). Cách gá kẹp này vững chắc nhất, nhưng cần lưu ý thoát mũi khoan không cho cắt
vào mặt bàn máy khi khoan lỗ thông bằng cách cho mũi khoan lọt rãnh bàn máy nếu mũi khoan
có đường kính nhỏ hơn rãnh bàn máy hoặc kê chi tiết cao lên khỏi mặt bàn máy một khoảng
thoát mũi khoan.

Các dụng cụ gá kẹp thường gặp. a) kẹp đúng b) kẹp sai
Hình 5-4 . Các dụng cụ kẹp và cách gá kẹp chi tiết trực tiếp trên bàn máy khi khoan.
- Gá đặt chi tiết thông qua đồ gá
Tùy theo sản lượng của chi tiết gia công mà người ta dùng loại đồ gá thích hợp: đồ gá
vạn năng gồm có các loại ê tô hoặc đồ gá chuyên dùng

- Mài hớt lưng mặt phẳng
- Mài hớt lưng mặt cong

Hình 5-9 . Cách mài mũi khoan trên máy mài hai đá.
+ Chế độ cắt khi khoan
- Tốc độ cắt
Tốc độ cắt khi khoan phụ thuộc chính vào vật liệu làm mũi khoan, số vòng quay của mũi
khoan được chọn theo công thức sau:
N £
D
V
π
][1000

Trong đó :
. N : số vòng quay của mũi khoan (vòng/phút)
. [V] : Vân tốc cắt cho phép của vật liệu làm dao ( mét/phút)
. D : đường kính mũi khoan (mm) (Hình 5-10)

Hình 5- 10. Đo đường kính mũi khoan bằng Pan me.
* Chú ý : tùy theo vật liệu gia công mà người ta có thể tăng hoặc giảm số vòng quay cho
thích hợp:
. Gia công vật liệu mềm có thể tăng số vòng quay của mũi khoan
. Gia công vật liệu cứng cần phải giảm bớt số vòng quay của mũi khoan.
- Lượng tiến dao
Để lấy hết vật liệu trong lỗ khoan thì sau mỗi vòng quay thì mũi khoan phải tiến thêm một
khoảng gọi là tiến dao, lượng tiến dao quyết định năng suất, chất lượng bề mặt lỗ khoan và nó
phụ thuộc vào năng suất của máy khoan.
Tiến dao lớn cho năng suất cao nhưng chất lượng bề mặt lỗ khoan kém và đòi hỏi máy
có công suất cao.


Hình 5-12 . Các kiểu bàn ren và tay quay bàn ren.
2. Kỹ thuật
+ Gia công trục ren
- Chuẩn bị: Gia công trục tròn có đường kính theo kích thước danh nghĩa của ren ( thông
thường thì đường kính trục nhỏ hơn kích thước danh nghĩa của ren do phần vát đỉnh ren), vát
đầu trục để khi bắt đầu cắt ren dễ hơn.
- Thao tác: ( Hình 5-13)
. Kẹp chặt trục ( thường để trục ở vị trí thẳng đứng). Lắp bàn ren vào tay quay cho chặt.
. Tay thuận cầm lấy bàn ren tại ổ kẹp của tay quay đặt vào đầu trục, ấn nhẹ bàn ren
xuống đầu trục và quay theo chiều vặn vào của ren cho bàn ren cắt vào trục khoảng 1 – 2 ren.
. Dùng hai tay nắm lấy hai tay quay của bàn ren để thục hiện công việc cắt ren, quay theo
chiều vặn vào khoảng 1 vòng tròn thì trả ngược ra hơn phần mới vừa cắt để bẻ phoi.

Hình 5-13 . Thao tác cắt ren ngoài bằng bàn ren.
. Sau khi đã cắt xong ren thì quay ngược ra để lấy bàn ren.
* Chú ý:
. Phải thường xuyên trả ngược bàn ren để làm bóng mặt ren và không bị cắt ngược
(cháy ren)
. Dể ren thẳng theo trục thì cần chú ý điều chỉnh bàn ren vuông góc với trục.
+ Gia công lỗ ren
- Chuẩn bị: Khoan lỗ có đường kính thích hợp. Đường kính mũi khoan có thể được tính
toán theo lý thuyết hoặc tra theo bảng. Nều vật liệu cứng thì ta có thể cho đường kính lỗ lớn hơn
một chút. Vát miện lỗ bằng mũi khoét chuyên dùng hoặc bằng mũi khoan có kích thước lớn hơn.
- Thao tác: (Hình 5-14)
. Kẹp chặt chi tiết cần làm ren. Lắp chặt ta rô vào cán ( chú ý đúng thứ tự cậy ta rô trong
bộ có nhiều cây)
. Tay thuận cầm lấy ổ kẹp ta rô đặt ta rô vào lỗ, ấn nhẹ ta rô vào lỗ và quay ta rô theo
chiều vặn vào của ren để cho ta rô cắt vào lỗ khoảng 1 – 2 ren.
. Dùng cả hai tay nắm lấy hai tay quay của ta rô để thực hiện công việc cắt ren, quay theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status