BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Đ
Ề TÀI: ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN MÔI
TRƯỜNG ĐẤT
LỚP: ĐH1QĐ1
Sinh viên thực hiện:Nhóm 7
Hà Nội,tháng 9 năm 2012
Mục lục:
2
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 7
STT CÁC THÀNH VIÊN NHIỆM VỤ
1 TÔ NGỌC VŨ
Sđ:0946661200
- Phân công công việc cho các thành
viên
- Tổng hợp tài liệu
- Thuyết trình
2 TRẦN THANH
TÙNG
- Làm slide
- Tìm kiếm các t ài liệu tổng quan về
phân bón và ô nhiễm môi trường đ ất
3 NGUYỄN NGỌC
TRANG
- Tìm kiếm tài liệu về tác động tích cực
của phân bón
4 ĐÀO DUNG HUYỀN - Tìm kiếm tài liệu về ô nhiễm môi trường
đất do ph n hữu cơ
lượng nông sản, đặc biệt là đối với cây lúa ở ViệtNam. Theo đánh giá
của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI), phân bón đóng góp
khoảng 30-35% tổng sản lượng cây trồng.
Tuy nhiên phân bón cũng chính là những loại hoá chất nếu được
sử dụng đúng theo quy định sẽ phát huy được những ưu thế, tác dụng
đem lại sự mầu mỡ cho đất đai, đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống
con người, gia súc. Ngược lại nếu không được sử dụng đúng theo quy
định, phân bón lại chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô
nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống. Trong đó
phải kể đến những tác động của phân bón đến hệ sinh thái đất và đặc
biệt là vấn đề ô nhiễm đất do sử dụng phân bón không hợp lý.Vì vậy,
nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:” ảnh hưởng của phân bón
đến môi trường đất”
4
A.TỔNG QUAN CHUNG:
1.Các khái niệm:
1.1. Phân bón
:
Phân bón là những chất hoặc hợp chất có chứa một hay nhiều
chất dinh dưỡng thiết yếu đối với cây trồng, giúp cây trồng sinh
trưởng, phát triển tốt cho năng suất và chất lượng cao hoặc làm tăng
độ phì nhiêu của đất. Hoặc có thể hiểu một cách đơn giản, phân bón là
“ thức ăn” do con người bổ sung cho cây trồng.
Phân bón thường được chia thành phân bón hữu cơ và vô cơ:,
Phân hữu cơ là hợp chất hữu cơ dùng làm trong nông nghiệp,
hình thành từ phân người hay động vật.
Phân hóa học hay phân vô cơ là những hóa chất chứa các chất
dinh dưỡng thiết yếu cho cây được bón vào cây nhằm tăng năng suất,
có các loại phân bón hóa học chính: phân đạm, phân lân, phân
huỷ chất thải của sinh vật), chất phóng xạ (U ran, Thori, Sr
90
, I
131
,
Cs
137
).
6
2.Hiện trạng sử dụng phân bón tại Việt Nam:
Hiện nay, ở các nước phát triển lượng phân bón hóa học sử
dụng có xu hướng giảm xuống thay vào đó là các loại phân vi sinh để
bảo vệ môi trường. Tuy nhiên thì ở các nước đang phát triển trong đó
có Việt Nam, phân vô cơ vẫn được sử dụng khá nhiều nhờ vào ưu thế
về chi phí và những hiệu quả nhanh chóng tác động lên cây trồng.
Năm 1997 đã bón 126,1 kg/ha, xấp xỉ mức trung bình của thế giới,
nhưng còn thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc.
Tuy nhiên ở một số vùng thâm canh tăng vụ cao thì lượng phân bón có
thể được sử dụng nhiều hơn.So với các nước sử dụng nhiều phân bón
trên thế giới, Việt Nam mới sử dụng phân bón ở mức 2% trong chi phí
đầu vào của sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên đây cũng là một khoản
chi phí tương đối lớn. Nhu cầu phân bón hằng năm của Việt Nam
khoảng 7,5 – 8 triệu tấn phân bón các loại trong đó loại phân NPK có
nhu cầu cao nhất khoảng 2,5 triệu tấn/năm, kế đến là phân urê 2 triệu
tấn năm, phân lân 1,3 triệu tấn/năm.7
Bảng 1.Lượng phân bón vô cơ sử dụng ở ViệtNam qua các năm
(Đơn vị tính: nghìn tấn N, P
nhiều kali hơn đạm hay lân nhưng do trong đất đã có tương đối nhiều
K hơn N và P nên lượng nhu cầu phân Kali thấp hơn hai loại còn lại.
Nếu tính trên mỗi ha: năm 1970 tổng lượng N, P, K đã bón 51,3 kg/ha
(tỷ lệ N: P2O5: K2O = 1,0: 0,61: 0,24); bình quân năm từ 1976 - 1980
đã bón 36,5 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5: K2O = 1,0: 0,36: 0,15); bình quân
từ năm 1981 - 1985 đã bón 62,7 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5: K2O=1,0: 0,29:
0,07). So với bình quân thế giới vào thời gian ấy là 95,5 kg/ha (tỷ lệ
N: P2O5: K2O = 1,0: 0,8: 0,35) thì mức bón và lượng P, K còn rất
thấp. Ở trung du và miền núi lại càng thấp.Tại Việt Nam, trong những
năm gần đây, xu thế sử dụng phân bón cũng có khá nhiều thay đổi. Do
yêu cầu cần bổ sung đồng bộ các chất dinh dưỡng cho cây nên người
nông dân đã chuyển sang sử dụng phân tổng hợp thay cho phân đơn.
Vì vậy, phân NPK, SA, DAP đang có xu hướng sử dụng tăng lên còn
phân urê đang có chiều hướng giảm trong cơ cấu phân bón sử dụng
của nước ta hằng năm.
8
B. TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐẤT:
1.Tác động tích cực:
1.1. Tác động tích cực của phân vô cơ:
- Cung cấp các chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng, năng cao
độ phì nhiêu cho đất
- Cải tạo đất
VD: dùng CaCO
3
để cải tạo đất
9
Tác dụng: + Cải thiện tính chất lý hóa của đất, làm tăng cường hoạt
động của vi sinh vật, nhất là đối với đất chua, mặn, bạc màu
+ Tăng khả năng đệm của đất chống lại sự axit hóa
+ Huy động photpho cho đất
nitơ…
+ Tăng số lượng vi sinh vật về cả số lượng và thành phần loài,
khi chết đi để lại một lượng sinh khối lớn cho đất
1.3. Tác động tích cực của phân vi sinh:
- Phân vi sinh chứa các vi khuẩn có khả năng chuyển
hoascacs chất dinh dưỡng dạng cố định sang dạng hòa tan như
photpho, kali…
10
- khả năng hấp thụ một số kim loại nặng giảm ô nhiễm cho
đất
- Tạo ra một nguồn sinh khối lớn cho đất sau khi chết
- Có tác động tốt đến tính cht vật lí-hóa-sinh của đất
- Thân thiện với môi trường
2. Tác động tiêu cực:
Nhìn tổng quát, phân bón thực sự là yếu tố thúc đẩy năng suất,
cung cấp tổng lượng lương thực cao ở nước ta hiện nay. Các nghiên
cứu về ảnh hưởng của phân bón đến môi trường chưa nhiều so với
những lợi ích mà nó đem lại, hơn nữa số liệu cũng chưa đầy đủ mà chỉ
nhằm vào một số khía cạnh. Dù sao, mặt trái của phân bón cũng bắt
đầu xuất hiện, đó là:
- Sử dụng tập trung, mất cân đối về phân hoá học ở một số vùng
bước đầu gây ra nhiễm bẩn nước mặt và nước ngầm về NH4+, NO3-…
- Sử dụng phân bón cao bắt đầu gây tích đọng kim loại Cu Zn,
Cd, Ni Ở một sốkhu vực nhỏ. Hiện tượng Cd tích đọng trong nước
và đất trồng trọt là tương đối rõ. Nguyên nhân không chỉ là do sử dụng
phân hoá học (các loại phân lân) mà còn do sử dụng phân hữu cơ,
đáng kể là phân rác và kể cả nguồn nước tưới chưa được kiểm soát đầy
đủ.
- Đã thấy ảnh hưởng của phân hữu cơ đặc biệt là phân bắc và
phân chuồng đến sự tích lũy vi khuẩn gây bệnh, trứng và ấu trùng giun
giới là 100 : 33 : 17 (FAO, 1992). Việc ít bón phân Kali làm giảm khả
năng hấp đạm của cây. Do đó, tuy lượng phân hóa học được sử dụng ở
Việt Nam là rất ít so với trung bình của thế giới nhưng vẫn gây ảnh
hưởng rất lớn đến môi trường đất. Đồng thời việc tăng cường thâm
canh cũng làm giảm sút độ phì nhiêu của đất thông qua việc lấy đi các
chất dinh dưỡng mà không có biện pháp nào hoàn trả lại.
Sử dụng phân khoáng liên tục với liều lượng cao trong các hệ thống
nông nghiệp cũng làm axit hóa đất, và một phần qua quá trình nitrat
hóa khi sử dụng phân đạm. Nếu các ion NO3- trong đất nhiều hơn so
với nhu cầu của cây trồng, chúng sẽ bị rửa trôi. Tác động gây chua đất
của phân đạm được thể hiện trong kết quả thí nghiệm 4 năm ở nhà lưới
trên đất phù sa sông Hồng của bộ môn Thổ nhưỡng, Đại học Khoa học
Tự nhiên Hà Nội.
Hiện tượng chua hóa xảy ra với các đất phù sa của Việt Nam,
theo kết quả nghiên cứu của Phạm Quang Hà (2003) thì có hơn 68%
đất phù sa đang trên đà chua hóa, trong đó có khoảng 50% ở mức chua
12
và rất chua và do đó việc sử dụng phân bón đang rất được quan tâm để
tránh xu hướng chua hóa đất phù sa
- Sự gây chua trong đất do phân SA:
Quá trình nitrate hoá SA sinh ra trong đất 2 loại axit:
(NH4)2SO4 + 4O2 = 2HNO3 + H2SO4 + 2H2O
Ở đất chua, bón SA có khả năng đẩy ra một lượng độ chua trao đổi
lớn:
Ở đất không chua, NH4+bị hấp phụ vào keo đất và đẩy Ca2+ra,
do đó, bón SA làm cho đất mất vôi dần, lâu ngày làm cho đất hoá
chua:
Do bón vôi để cải thiện sự gây chua này, lượng tương đương
của CaO được dùng để đánh giá:
Bảng 3. Lượng CaO sử dụng để trung hòa đất bị chua hóa do 1kg N
thu
Khi mà các chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất ngày càng giảm (với
các biểu hiện như : đất ngày càng chua hơn; độ kiềm, độ no bazơ,
dung tích hấp thu giảm; hàm lượng mùn, các chất dinh dưỡng tổng số
và dễ tiêu, đa lượng và vi lượng trong đất ngày càng giảm…), thì các
cân bằng dinh dưỡng trong hệ thống đất - cây - môi trường bị phá vỡ.
Kéo theo, hàng loạt các độc tố trong đất gia tăng như Al3+, Fe3+,
Mn2+, H2S, SO42-, lân cố định. Nghiên cứu tình trạng này ở một số
vùng trung du và miền núi đã cho thấy, khi hàm lượng các nguyên tố
trung lượng và vi lượng giảm sẽ dẫn tới tình trạng thiếu B và Mo cho
cây họ đậu, thiếu Mg ở ngô, dứa, hồ tiêu và thiếu Zn, B, S đối với cây
cà phê năng suất cao.
2.2 Ô nhiễm đất do phân bón:
2.2.1 Ô nhiễm đất do phân hóa học:
Theo tính toán, mỗi năm ở nước ta có khoảng 60-70% lượng
phân đạm không được cây trồng hấp thụ, đang tác động tiêu cực đến
chính hệ sinh thái nông nghiệp như làm chai cứng đất, ô nhiễm nguồn
nước và có thể gây đột biến gen đối với một số loại cây trồng.
Phân ure chứa khoảng 44 – 48% N nguyên chất. Như vậy, với nhu cầu
sử dụng phân ure là 2 triệu tấn/năm, hằng năm, đất tiếp nhận thêm
khoảng 6.000 tấn N không được cây trồng hấp thụ.
Sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp
nên hiệu lực phân bón thấp, có trên 50% lượng đạm, 50% lượng kali
và xấp xỉ 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm
môi trường đất. Bón nhiều phân đạm vào thời kì muộn cho rau quả, đã
làm tăng đáng kể hàm lượng NO3- trong sản phẩm.
- Ô nhiễm do phân đạm:
Trong các loại thức ăn, nước uống được con người sử dụng
hàng ngày thì rau xanh đưa vào cơ thể một lượng NO3-lớn nhất. Sự
tích luỹ NO3- cao trong cây ít gây độc đối với cây trồng nhưng rất
sản. Ở bắp cải hàm lượng NO3- giảm sau khi bón N lần cuối 16 -21
ngày và biện pháp hoà đạm vào nước tưới sẽ rút ngắn thời gian cách ly
2 - 4 ngày so với biện pháp bón vùi (Bùi Quang Xuân, 1999).
Nhiều nghiên cứu ngoài nước cũng cho thấy phân N hoá học làm
tăng hàm lượng NO3- trong nông sản. M.E.Yarvan (1980) cho rằng
khi tăng lượng N bón từ 30 lên 180 kg/ha làm tăng hàm lượng NO3-
tương ứng trong củ cà rốt và cải củ từ 21,7 lên 40,6 và 263 lên 473
mg/kg. Phân đạm dạng NO3- làm cây tích luỹ NO3- cao hơn dạng
NH4+ (Schuphan, Bengtsson, Bosund, Hymo, 1967)
Tính trung bình, khi bón phân đạm vào đất, thực vật hấp thu
khoảng 50 – 60%, số còn lại phân tán vào các nguồn khác nhau.
16
Nitrat (NO3-) là yếu tố cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của
nhiều loài cây trồng. Nitrat trong dung dịch đất hữu dụng ngay cho
cây và cũng dễ dàng bị thấm hoặc rửa trôi. Các cây màu thường hút
thu N ở dạng nitrat. NH4+ có thể chuyển hoá thành dạng NO3- do sự
nitrate hoá (nitrification) do vi sinh vật đất Nitrosomonas và rồi
chuyển thành NO2- do vi sinh vật đất Nitrobacter.Dạng NO3- do từ
bón phân hoặc được tạo ra từ sự nitrat hoá thì rất dễ bị rửa trôi vì
không bị hấp phụ bởi keo đất mang điện tích dương.
Nếu bón quá nhiều phân hoá học là hợp chất nitơ, lượng hấp thu
của rễ thực vật tương đối nhỏ, đại bộ phận còn lưu lại trong đất, qua
phân giải chuyển hoá, biến thành muối nitrat trở thành nguồn ô nhiễm
cho mạch nước ngầm và các dòng sông. Cùng với tăng lên về số lượng
sử dụng phân hoá học, độ sâu và độ rộng của loại ô nhiễm này ngày
càng nghiêm trọng.Hàm lượng nitrat lớn trong đất không chỉ gây ra
những ảnh hưởng xấu lên hệ sinh
thái đất mà còn có thể bị rửa trôi, gây ra ô nhiêm nước ngầm, do nitrat
rất linh động và gần như không bị đất hấp phụ.
Lạm dụng phân bón không chỉ đe dọa sức khỏe con người, mà
loãng bằng nước để tưới cho cây trồng.
- 40% phân bắc trộn tro bếp cộng với vôi bột và ủ khoảng 10 –
14 ngày, sau đó bón cho cây trồng.
Cách bón phân tươi này đang gây ô nhiễm môi trường đất, nước
và cả không khí.Đặc biệt, thời gian tồn tại của các tác nhân gây ô
nhiễm sinh học tương đối dài trong môi trường đất
Ngoài ra, sử dụng nhiều phân hữu cơ trong điều kiện yếm khí,
quá trình khử chiếm ưu thế, sẽ tạo ra nhiều axít hữu cơ làm đất chua,
đồng thời tạo ra nhiều chất độc H2S, CH4, CO2.
2.2.3 Ô nhiễm nguyên tố vi lượng:
18
Các nguyên tố vi lượng thuộc nhóm các chất có hoạt tính sinh
hóa, có tác dụng trực tiếp với các cơ thể sống. Hiểm họa của sự ô
nhiễm bới dạng ít di động của các hợp chất của các nguyên tố có hoạt
tính sinh học tăng lên khi hàm lượng mùn trong đất cao và khả năng
hấp phụ của đất cao. Sự tích tụ của các dạng này trong đất có thể của
các quá trình sau:
- Sự thay thế đồng hình trong các mạng khoáng sét
- Sự hấp phụ các ion kim loại bởi khoáng sét, đặc biệt là họ alophan
- Cộng kết với các oxit và và hidroxit mới kết tủa, đặc biệt là Fe
- Tạo thành các hợp chất phức cơ kim ít linh động
2.2.4 Ô nhiễm kim loại nặng:
Kim loại nặng có xu hướng tích lũy trong đất, đặc biệt ở lớp đất gần
bề mặt. Do vậy, mức độ độc hại về lâu dài phải được chú ý đến. Tính
độc của kim loại nặng biểu hiện ở chỗ gây nên sự sụt giảm số lượng và
sự đa dạng của vi sinh vật đất, ảnh hưởng lên vi sinh vật có lợi cho đất
(ví dụ vi sinh vật cải thiện sự hô hấp của đất, phân hủy chất hữu cơ, cố
định nitơ…). Kim loại nặng còn có tác dụng gián tiếp làm giảm sự
phân hủy thuốc trừ sâu và những chất hữu cơ khác thông qua việc tiêu
diệt các loại vi khuẩn và nấm mà trong điều kiện bình thường, sẽ chịu
nuôi từ thức ăn tổng hợp là khá phổ biến. Thức ăn dạng này có nhiều
khoáng vi lượng. Hàm lượng kim loại nặng
trong phân sẽ xâm nhập vào đất trồng và tồn lưu trong các loại nông
sản đặc biệt là đối với các loại rau ăn lá như cải ngọt, cải xanh, xà
lách.Hàm lượng kim loại nặng trong bùn thải sinh hoạt là cao nhất.
Phân chuồng chứa kim loại nặng ở mức là nguồn cung cấp dinh dưỡng
vi lượng cho cây. Với phân lân, đặc biệt là supe lân có chứa một lượng
kim loại nặng nhất định, chủ yếu là Cd nhưng lượng sử dụng chưa cao
nên nguy cơ ô nhiễm đất và nông sản bởi Cd là chưa có.Ngoài ra, quá
trình sản xuất phân hóa học bằng nguyên liệu không tinh khiết có thể
đem lại một số nguyên tố có hại. Ví dụ, công nghiệp sản xuất phân lân
liên tục với sốlượng nhiều sẽ làm tăng hàm lượng các nguyên tố As,
Cd, trong đất. Nếu sử dụng phân đạm dạng cyanamit canxi (CaCN2)
có thể tồn lưu trong đất gây hại cho cây trồng.
Các kim loại độc hại có thể tồn tại trong đất dưới nhiều dạng
khác nhau, (hấp phụ, liên kết) với các hợp chất hữu cơ, vô cơ hoặc tạo
20
thành các chất phức hợp (chelat). Khả năng dễ tiêu của chúng đối với
thực vật phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: pH, khả năng trao đổi cation
(CEC) và sự phụ thuộc lẫn ngau vào các kim loại khác. Các đất có
CEC cao, chúng bị giữ lại nhiều trên các phức hệ hấp phụ. Các kim
loại nặng có khả năng linh động lớn ở đất chua (pH < 5,5). Do đó, việc
sử dụng phân bón hóa học có độ chua sinh lí sẽ góp phần đẩy nhanh
việc chua hóa đất, khiến cho các kim loại nặng trở nên linh động hơn.
Các kim loại nặng được tích luỹ trong các cơ thể sinh vật theo các
chuỗi thức ăn và nước uống.
2.2.5 Các halogen:
Trong số các halogen chỉ có clo là ở dạng đa lượng trong đất
còn flo và iod là những nguyên tố vi lượng quan trọng. Đáng chú ý
trong những năm gần đây là flo, lượng dư flo trong đất có ảnh hưởng
nhiều một loại nguyên tố nào đó mà không thể hấp thụ các nguyên tố
cần thiết khác do đó làm cho cây bị yếu đi vì mất cân đối dinh dưỡng
và rất dễ bị các loại bệnh tấn công.
Phân hóa học ngăn cản sự hấp thụ các dưỡng chất cần thiết.
Quanh vùng lông hút của rễ cây, keo đất từ mùn hữu cơ chuyển hầu
hết các chất khoáng từ dung dịch đất sang hệ thống rễ cây và đi vào
cây trồng. Những hạt mùn sẽ có hấp lực đối với các nguyên tốdinh
dưỡng như đạm, lân, kali, và các nguyên tố kim loại khác. Khi phân
hóa học được
bón vào đất năm này qua năm khác sẽ gây nên sự thay đổi cơ bản cấu
trúc của các hạt mùn hữu cơ và khi sử dụng liên tiếp, quá nhiều các
phần tử phân bón được đưa vào đất đểmong đạt được sự phát triển
mạnh và nhanh của cây trồng. Khi có quá nhiều phân tử bám quanh
các hạt mùn làm cho hệ thống lông hút của bộ rễ bị bội thực một loại
nguyên tố và không còn khả năng hấp thu các chất khoáng khác mà
cây thực sự cần nữa.
Phân hóa học còn tiêu diệt các tập đoàn vi sinh vật. Đất cần
phải được coi như một vật thể sống. Khi phân hóa học được sử dụng
năm này qua năm khác, các axit được tạo thành sẽ phá hủy các chất
mùn hữu cơ phì nhiêu được tạo ra từ sự phân rã của các cơ
thể sinh vật đất đã chết. Các chất mùn này có tính năng liên kết các
hạt đá li ti với nhau tạo nên sự phì nhiêu của đất canh tác. Trên bề mặt
của các vùng đất canh tác thường bón phân hóa học, các hạt đá không
có keo mùn hữu cơ liên kết lại thường tạo thành một lớp
rắn, ít hay nhiều không thấm nước, lớp rắn trên bề mặt này làm cho
nước mưa hoặc nước tưới không thấm xuống đất được mà chảy ra các
ao hồ hoặc sông suối. Như vậy lớp chất rắn bề mặt này đã ngăn cản
không cho nước thấm xuống, đồng thời cũng không cho nước
ở dưới ngấm lên trên để thoát hơi. Lớp đất phía dưới trở thành bị ngộp
và có tính axit. Trong lớp đất thiếu khí và có tính axit này, mật độ vi
2.4 M
ột số biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường đất và phát triển
nông nghiệp bền vững:
- Nâng cao lợi ích của sản xuất nông nghiệp như đảm bảo một số
lượng nông nghiệp tương xứng, đáp ứng được nhu cầu sống của lượng
dân số mà hệ thống đó hướng tới.
- Tăng năng suất nông nghiệp thông qua việc tăng cường sử
dụng các kiểu gen có năng suất cao, chống chịu sâu bệnh và thích ứng
các điều kiện khó khăn, duy trì độ phì của đất, tính đa dạng của cây
trồng, áp dụng luân canh cây trồng, sử dụng hệ thống cây hàng năm,
cây lâu năm, nghề cá, chăn nuôi tổng hợp.
23
- Bảo vệ và cải thiện môi trường sống cho con người và các sinh
vật khác như chống ô nhiễm nguồn nước, giảm và loại bỏ sử dụng chất
độc để trừ sâu bệnh, giảm sử dụng phân khoáng.
- Tăng cường các hoạt động phi nông nghiệp khác, tạo thêm
công ăn việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng … nhằm nâng cao dần đời
sống người dân.Đối với Việt Nam phát triển các hệ thống nông nghiệp
bền vững cần chú ý:
- Áp dụng các biện pháp canh tác chống xói mòn.
- Đa dạng hóa cây trồng dưới hình thức: trồng xan, gối vụ, luân
canh.
- Áp dụng hệ thống nông lâm kết hợp, lâm ngư kết hợp với các
mô hình đa dạng, phong phú.
24