văn học và phật học trên báo chí phật giáo việt nam trước năm 1945 - Pdf 24



ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THẢO
VĂN HỌC VÀ PHẬT HỌC
TRÊN BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TRƯỚC NĂM 1945 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 3 năm 2014
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thảo
KÝ HIỆU VÀ NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
1. TK. : Thế kỷ
2. VH&KHNV : Văn học và Khoa học Nhân văn
3. HT. : Hòa thượng
4. Nxb : Nhà xuất bản
5. TP. : Thành phố
6. tr. : Trang
7. Ví dụ [115, tr.339] : Tài liệu số 115 ở mục tài liệu tham khảo, trang 339
MỤC LỤC

DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

2.1.3. Vấn đề cảnh giới cực lạc và địa ngục 74
2.1.4. Vấn đề tồn tại của ngoại giới 82
2.2. Tư tưởng đạo đức Phật giáo trên báo chí Phật giáo trước 1945 91
2.2.1. Khuyến thiện và Nhân quả - nghiệp báo 92
2.2.2. Từ bi 97
2.2.3. Hiếu đạo 101
2.2.4. Lợi tha 104
2.3. Phật giáo với vấn đề dân tộc và đại chúng 108
2.3.1. Phật giáo với dân tộc 108
2.3.2. Phật giáo với đại chúng 116
Tiểu kết 123 Chương 3: VĂN HỌC TRÊN BÁO CHÍ
PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƯỚC 1945 125
3.1. Tổng quan về văn học trên báo chí Phật giáo trước 1945 125
3.2. Dịch kinh Phật - một loại hình dịch văn học đặc biệt 130
3.3. Giá trị nội dung của thơ văn trên báo chí Phật giáo trước 1945 148
3.3.1. Giáo dục tư tưởng đạo đức Phật giáo 148
3.3.2. Thể hiện tinh thần dân tộc 159
3.3.3. Thể hiện tinh thần nhân đạo 169
3.4. Giá trị nghệ thuật của thơ văn trên báo chí Phật giáo trước 1945 175
3.4.1. Giá trị nghệ thuật của thơ 175
3.4.1.1. Thể thơ 175
3.4.1.2. Ngôn ngữ thơ 177
3.4.2. Giá trị nghệ thuật của văn xuôi 184
3.4.2.1. Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật 184
3.4.2.2. Kết cấu tác phẩm 192
3.4.2.3. Ngôn ngữ kể chuyện và đối thoại 197
Tiểu kết 204

Sài Gòn, đã nhận thấy mối quan hệ đặc biệt của văn học và báo chí ở Việt Nam:
“Trong những nước văn minh, văn học ra đời trước báo chí, nhưng ở Việt Nam,
chính báo chí đã tạo nên nền văn học hiện đại” [95, tr.115].
Trong tình hình đó, từ những năm đầu TK.XX, những tư tưởng muốn chấn
hưng Phật giáo thỉnh thoảng được đăng trên các báo chí Quốc ngữ, nội dung chủ
yếu là đặt vấn đề chỉnh đốn và phát triển Phật giáo Việt Nam. Từ đó, các Hội
Nghiên cứu Phật học ra đời, cùng với nó là các tạp chí, tờ báo chuyên về Phật học
như: Từ bi âm, Duy tâm Phật học, Viên âm, Đuốc tuệ, Tiếng chuông sớm v.v góp
phần quan trọng tạo nên phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu TK.XX. Tuy nhiên,
có thể nói, báo chí Phật giáo lúc bấy giờ dù phổ biến còn hạn chế, không gây tiếng
vang lớn như báo chí thế tục, nhưng những vấn đề nó đặt ra rất gần gũi với văn hóa
dân tộc, với tâm linh người Việt, để từ đó có thể nuôi dưỡng một niềm tin sâu xa
cao quý trong lòng người dân Việt Nam.
2
Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của xã hội hiện đại, những tạp chí,
tờ báo Phật giáo ấy đã ít được quan tâm và đề cập đến. Sẽ đáng tiếc, nếu tình hình
này cứ kéo dài.
Với số lượng hàng chục tờ báo, báo chí Phật giáo trước 1945 thực sự là một
hiện tượng quan trọng trong đời sống tinh thần dân tộc. Có thể qua những tờ báo
này giúp ta hiểu được lịch sử và văn học Phật giáo trong giai đoạn quan trọng: nửa
đầu TK.XX. Chọn đề tài Văn học và Phật học trên báo chí Phật giáo Việt Nam
trước năm 1945 để nghiên cứu, chúng tôi hy vọng có thể tìm về cội nguồn báo chí
Phật giáo, hiểu được văn học và tư tưởng Phật học giai đoạn này, từ đó hy vọng có
thể khơi dậy những giá trị tinh hoa của Phật giáo và dân tộc đã được tạo nên từ xưa.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Từ trước đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về báo chí Việt
Nam trước 1945. Trong đó có không ít công trình đề cập về sự hình thành và phát

chuông sớm, Duy tâm Phật học, Tiến hóa, Pháp âm Phật học, Tam bảo, Bát nhã âm,
Quan âm, Tinh tiến. Về báo chí Phật giáo, tác giả chỉ trình bày tổng quát quá trình
hình thành, tôn chỉ hoạt động và những đóng góp chung của các tạp chí, tờ báo Phật
giáo đối với Phật giáo và dân tộc nửa đầu TK.XX. Ngoài ra, tác giả còn nhắc đến
vài nét những cuộc tranh luận, thảo luận giữa các tạp chí lúc bấy giờ về tư tưởng
Phật học và đường hướng chấn hưng Phật giáo. Nhìn chung, theo tác giả đúc kết, sự
ra đời của báo chí Phật giáo lúc bấy giờ đã làm Phật học trở nên dễ dàng phổ biến
hơn đối với đại chúng. Ai cũng có thể đọc hiểu Phật pháp bằng chữ Quốc ngữ. Cho
nên có thể nói sự thành công của báo chí Phật giáo cũng là sự thành công của chữ
Quốc ngữ [67, tr.771-772]. Có thể nói Việt Nam Phật giáo sử luận (tập III) là công
trình nghiên cứu sâu về báo chí và Phong trào chấn hưng Phật giáo. Tuy nhiên
trong công trình này còn một số tạp chí chưa được đề cập đến (Bồ đề, Phật pháp chỉ
Niết bàn) và nhất là văn học Phật giáo hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu.
- Công trình Triết học và tư tưởng của Giáo sư Trần Văn Giàu (Nxb. Thành
phố Hồ Chí Minh, 1988) đã dành một chương quan trọng cho việc nghiên cứu Phật
giáo nửa đầu TK.XX: Phong trào Chấn hưng Phật giáo và các vấn đề tư tưởng triết
học mà phong trào ấy đã nêu lên ở nước ta trong thời kỳ lịch sử giữa hai cuộc chiến
tranh thế giới [44, tr.320]. Trong chương này, tác giả đã khảo sát nhiều tờ báo, tạp
chí Phật giáo nổi tiếng như: Từ bi âm, Viên âm, Duy tâm Phật học, Đuốc tuệ…¸để
tìm hiểu tình hình Phật giáo trước 1945. Trong mục Mấy vấn đề tư tưởng cuộc vận
động Chấn hưng Phật giáo đã đề ra, Trần Văn Giàu đã chỉ ra những điểm tiến bộ
4
đặc biệt của Phật giáo đương thời thông qua cuộc thảo luận sôi nổi trên báo về
Thượng đế, linh hồn, Thiên đường, địa ngục… Có thể nói đây là công trình nghiên
cứu sớm nhất, công phu nhất của một nhà nghiên cứu mác-xít về báo chí Phật giáo
nửa đầu TK.XX. Trần Văn Giàu đã đánh giá cao tư tưởng yêu nước, khoa học của
nhiều tờ báo, tạp chí, sách vở Phật giáo giai đoạn này. Tuy nhiên công trình cũng

1941), Viên âm (đình bản năm 1945, không phải năm 1936), Đuốc tuệ (đình bản
năm 1945, không phải năm 1939), Tam bảo (đình bản năm 1938, không phải năm
1939), Tiến hóa (đình bản năm 1941, không phải năm 1939). Ngoài ra, tên chủ
nhiệm một số tạp chí cũng ghi không chính xác: chủ nhiệm tạp chí Tiến hóa là Đỗ
Kiết Triệu, chứ không phải Đỗ Kiết Tuân; tạp chí Duy tâm Phật học, chủ nhiệm là
Nguyễn Văn Ân, chứ không phải là Nguyễn Văn An.
- Công trình Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945 (Nxb. Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2000) do Đỗ Quang Hưng chủ biên cũng có phần đề cập đến thời điểm ra
đời của báo chí Phật giáo trước 1945. Theo các tác giả (Đỗ Quang Hưng, Dương
Trung Quốc, Nguyễn Thành), báo chí Phật giáo Việt Nam ra đời từ phong trào
Chấn hưng Phật giáo. Phần phụ lục cuối sách, các tác giả đã thống kê, giới thiệu
ngắn gọn về quá trình xuất hiện và hoạt động của một số tạp chí, tờ báo Phật giáo
Việt Nam đương thời như: Viên âm, Đuốc tuệ, Quan âm, Tinh tiến v.v
- Công trình Báo chí ở Thành phố Hồ Chí Minh (100 câu hỏi đáp về Gia
Định - Sài Gòn TP. Hồ Chí Minh, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, năm 2007, Trương Ngọc
Tường, Nguyễn Ngọc Phan biên soạn) cho biết tạp chí Quốc ngữ Phật giáo đầu tiên
được xuất bản ở Sài Gòn là Pháp âm và trình bày khá đầy đủ về diện mạo, nội dung
của tạp chí này [121, tr.112]. Ngoài ra, công trình còn cho thấy vai trò của nhà báo
Xích Liên (sư Thiện Chiếu) đối với sự nghiệp chấn hưng và sự nghiệp báo chí Phật
giáo [121, tr.115]. Có thể nói, dù công trình này không nhấn mạnh nhiều đến báo
chí Phật giáo, nhưng các tác giả cũng đã góp phần khẳng định thêm cho chúng ta
thấy sự hiện hữu đầu tiên của báo chí Phật giáo Việt Nam giai đoạn trước 1945 và
những đóng góp của nhà báo Xích Liên đối với Phật giáo và dân tộc.
- Công trình Lược khảo Báo chí Phật giáo Việt Nam (1929-2008) của
Nguyễn Đại Đồng (Nxb. Tôn giáo, 2008) đã cho thấy rõ nét tình hình báo chí Phật
giáo Việt Nam từ khi ra đời năm 1929 (theo tác giả) cho đến năm 2008. Phần thứ
nhất, tác giả trình bày Báo chí Phật giáo từ khi ra đời đến Toàn quốc kháng chiến
(1929-1946) [34, tr.7]. Trong mục này, tác giả đã trình bày khá đầy đủ hoàn cảnh ra
đời, nhân sự lãnh đạo, các hoạt động và nội dung khái quát của báo chí Phật giáo


daophatngaynay.com và giacngo.vn đã đề cập đến vai trò của báo chí Phật giáo
trong công cuộc chấn hưng cho đến hiện nay. Khi nói về vai trò của báo chí Phật
giáo trước 1945, tác giả chỉ nhấn mạnh đến tạp chí Pháp âm, Từ bi âm, Duy tâm
7
Phật học, Viên âm và báo Đuốc tuệ. Ngoài ra, tác giả cũng đề cập vài nét đến cuộc
tranh luận giữa các tạp chí về vấn đề Thượng đế sáng tạo, vấn đề linh hồn bất tử…
Qua bài viết, tác giả nhận định rằng báo chí Phật giáo trước 1945 đã làm sáng tỏ
trắng đen, phản bác những luận điểm sai lầm của một số người chưa hiểu rõ về đạo
Phật.
Trần Kiêm Đạt (2008) với bài viết “Sơ lược lịch sử báo chí Phật giáo Việt
Nam” đăng trên website phattuvietnam.net, cũng đã trình bày khái lược diện mạo
một số tạp chí, tờ báo Phật giáo trước 1945. Trong đó, tác giả khẳng định báo chí
Phật giáo Việt Nam thực sự khai sinh và phát triển từ khi có phong trào Chấn hưng
Phật giáo vào thập niên 1930. Nội dung bài viết phản ảnh thực tế Phật giáo trong
từng giai đoạn, đồng thời cũng đề cập đến những cuộc tranh luận giữa các tạp chí,
mà tiêu biểu là Duy tâm Phật học và Tiến hóa.
Bài viết “Báo xuân Phật giáo xưa” của Nguyễn Ngọc Phan (2012) đăng trên
website khoavanhoc-ngonngu.edu.vn đã trình bày những giai phẩm xuân mà báo chí
Phật giáo giai đoạn đầu TK.XX từng thể hiện, như Duy tâm Phật học, Đuốc tuệ, Từ
bi âm, Bát nhã âm v.v Tác giả cho rằng báo chí Phật giáo trong sự nghiệp xiển
dương Phật pháp và chấn hưng Phật giáo luôn gắn liền với nhân sinh thời cuộc, bộc
lộ những ưu tư trăn trở trước hoàn cảnh mất nước và sự cùng khổ của đồng bào.
Những bài viết qua báo mạng trên ít nhiều cũng đã chỉ ra được vai trò và giá
trị của báo chí Phật giáo đối với phong trào Chấn hưng Phật giáo và đối với dân tộc,
đồng thời cũng đề cập đến một vài vấn đề mà báo chí đương thời tranh luận sôi nổi.
Tuy nhiên, các bài viết chỉ dừng lại ở điểm khái quát sơ lược mà chưa đi sâu phân
tích về những tác động tư tưởng nhiều mặt của báo chí.

Nguyễn Đại Đồng cũng viết là Tam bảo chí), Tiến hóa (1938-1941), Quan âm
(1938-1943), Phật pháp chỉ Niết bàn (1941) và báo: Đuốc tuệ (1935-1945), Tinh
tiến (1945).
Các tờ báo, tạp chí này hiện nay đang lưu trữ chủ yếu ở Thư viện Quốc gia
(Hà Nội), bên cạnh đó là ở một số chùa và tủ sách tư nhân.
Từ những tờ báo, tạp chí Phật giáo này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu đặc
điểm, giá trị của tư tưởng Phật học và văn học.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành sưu tầm những tác phẩm, bài viết, tờ
báo, tạp chí và những công trình từ trước đến nay có liên quan đến mảng báo chí
9
Phật giáo Việt Nam trước 1945. Đồng thời, chúng tôi cũng sưu tầm tất cả những tạp
chí, tờ báo Phật giáo trước 1945. Đây là những tài liệu làm nền tảng cho việc nghiên
cứu một cách trung thực và chính xác.
Trong luận án này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu
sau:
5.1. Phƣơng pháp thống kê - phân loại
Dùng các phương pháp bổ trợ này nhằm mục đích thống kê, phân loại những
tài liệu có liên quan đến luận án đã sưu tầm được, từ đó góp phần tìm hiểu, thẩm
định giá trị đích thực của báo chí Phật giáo trước 1945.
5.2. Phƣơng pháp phân tích - so sánh - tổng hợp
Để đáp ứng nhu cầu của đề tài, luận án sử dụng xuyên suốt các phương pháp
chủ đạo: phân tích - so sánh - tổng hợp nhằm tìm ra những đặc điểm về nội dung tư
tưởng của các vấn đề Phật học, những giá trị nghệ thuật đặc sắc trong giáo lý nhà
Phật cùng những đặc điểm nội dung và giá trị nghệ thuật của thơ ca, văn xuôi đã thể
hiện trên báo chí Phật giáo trước 1945. Qua đó chứng minh sự đóng góp đích thực
của báo chí Phật giáo đương thời đối với Phật giáo và dân tộc. Trên cơ sở này, luận

bày khái quát về mảng văn học trên báo chí Phật giáo, phân tích giá trị nội dung,
nghệ thuật của thơ và văn xuôi trên những tờ báo ấy (từ trang 125 đến trang 204).
Đề tài luận án là “Văn học và Phật học trên báo chí Phật giáo Việt Nam
trước năm 1945”. Luận án phải đặt từ “Văn học” trước là để cho phù hợp với mã
ngành Văn học Việt Nam, nhưng trong khi triển khai thì Phật học (chương 2) được
trình bày trước Văn học (chương 3). Làm như vậy vì trên báo chí Phật giáo, tư
tưởng Phật học là vấn đề trung tâm, quan trọng nhất, phải nghiên cứu Phật học
(chương 2) trước rồi mới đến Văn học (chương 3). Văn học vẫn là vấn đề đi sau tư
tưởng và chủ yếu là phương tiện truyền bá tư tưởng Phật học.
Cuối luận án là phần Kết luận (từ trang 205 đến trang 207), Danh mục báo chí
Phật giáo (trang 208), Thư mục tài liệu tham khảo (từ trang 209 đến trang 218) và
Danh mục các công trình của tác giả đã công bố (trang 219). Người viết có chuẩn bị
thêm phần Phụ lục (từ trang 220 đến trang 258), giới thiệu một số hình ảnh báo chí,
tổng danh mục thơ và văn trên báo chí Phật giáo trước 1945.
11
Chƣơng 1
PHONG TRÀO CHẤN HƢNG PHẬT GIÁO
VÀ BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƢỚC 1945

1.1. PHONG TRÀO CHẤN HƢNG PHẬT GIÁO TỪ CUỐI THẬP NIÊN 1920
ĐẾN 1945
1.1.1. Tình hình Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX
Đầu TK.XX, sau khi bình định được Việt Nam, Pháp thực hiện chính sách
nâng đỡ, tạo điều kiện cho đạo Công giáo phát triển. Chính quyền Pháp vì muốn
loại trừ ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo, nên đã quyết tâm loại bỏ chữ Hán mà
thay bằng chữ Pháp [84, tr.474].
Lúc bấy giờ, kinh sách Phật toàn là chữ Hán, do vậy dân chúng học tiếng

những kẻ ỷ lại thần quyền. Hoặc cho là một đạo hoang đường mê tín, chứa
những việc huyễn hoặc dị đoan, không hiểu Phật giáo có một cái triết lý rất
thâm thiết. Trải qua bao nhiêu thế kỷ đã bị chôn sâu trong cái não mê tín
của bọn ngu dân và bị khuất sau tấm lòng lợi dụng của một hạng tín đồ vô
học Nếu chẳng chấn hưng Phật giáo, chỉnh đốn Phật giáo lại, thì Phật giáo
cũng như các tôn giáo khác, sẽ theo một công lệ đào thải mà tiêu diệt trước
khi thế giới đại đồng [E, số 2, tr. 6-8].
Thời gian bị kìm hãm kéo dài cho đến năm 1920, giới tăng sĩ và trí thức
trong nước mới có cơ hội đứng ra hô hào, phát khởi phong trào Chấn hưng đạo Phật
Việt Nam. Từ đó, báo chí Phật giáo mới có cơ hội ra đời và được phổ biến rộng rãi
khắp nơi, đồng thời các kinh sách Phật giáo, nhờ phương tiện in ấn tiên tiến nên
cũng được xuất bản và lưu hành nhiều hơn.
Nhờ sự khởi sắc từ những thập niên đầu TK.XX mà sau này, việc đào tạo
tăng ni tại Việt Nam dần dần trở nên có quy củ. Hệ thống giáo dục được hình thành
và đi theo thứ bậc từ hệ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng đến đại học.
Quả thật, giai đoạn những năm đầu thế kỷ XX, dù đất nước bị chia làm ba kỳ,
dưới ba hình thức cai trị khác nhau, nhưng sự thống nhất về dân tộc, văn hóa và tôn
giáo lúc bấy giờ vẫn được duy trì và gìn giữ. Sự hiện diện của đạo Phật xuyên suốt
từ Bắc chí Nam đã là một yếu tố góp phần to lớn, nhằm đối kháng với việc chia cắt
đất nước để cai trị theo chủ trương của người Pháp. Hơn nữa, dù chịu ảnh hưởng
13
mạnh của quá trình Âu hóa, nhưng Phật giáo Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ qua
phong trào Chấn hưng Phật giáo.
Ðạo Phật trong giai đoạn kháng Pháp nửa đầu thế kỷ XX đã gắn kết với quần
chúng, đã hòa chung với lòng yêu nước của muôn dân, thể hiện bằng mục đích Tu
là tìm hạnh phúc cho tha nhân và góp phần thực thi sứ mệnh đem lại hòa bình cho
quê hương đất nước. Lúc này có nhiều vị tăng sĩ đã cởi áo cà sa để khoác chiến bào,

(1901), Lục tỉnh tân văn (1907), Đăng cổ tùng báo (1907), Đông Dương tạp chí
(1913), Nam phong tạp chí (1917), An Nam tạp chí (1926), Phụ nữ tân văn
(1929)… Những tờ báo này đã góp phần “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”
như khẩu hiệu của phong trào Duy Tân đầu TK.XX. Chính những tờ báo này cũng
góp phần thúc đẩy cho phong trào Chấn hưng Phật giáo diễn ra nhanh chóng và
phát triển mạnh trong đời sống xã hội.
Các nhà cách mạng tiêu biểu của phong trào Duy Tân, trong đó có Phan Chu
Trinh đã từng nhận định rằng Phật giáo hưng thịnh thì đất nước cũng sẽ hưng thịnh.
Có thể nói Phan Chu Trinh là người đặt niềm tin rất lớn vào sự đóng góp của một
nền Phật giáo phục hưng đối với nền hòa bình dân tộc, cho nên ông thường hô hào
việc chấn hưng đạo Phật để hỗ trợ cách mạng. Trong một buổi diễn thuyết, ông đã
từng nói:
Nước Đại Nam chúng ta ngày nay sở dĩ yếu hèn là vì thiếu tinh thần tôn
giáo, chúng ta không biết cương cường xả thân vì nghĩa, chỉ bo bo giữ cái
lối riêng của mình. Nay bà con thử xét, đời Trần sao dân tộc ta hùng dũng
như vậy: quân Nguyên thắng cả Á cả Âu, nuốt trọn Trung Hoa mà qua đến
nước ta thì bại tẩu; nào bị cướp sáo ở Chương Dương Độ, nào bị bắt trói ở
Bạch Đằng, như vậy chẳng phải là nhờ đạo Phật ở ta thời đó rất thịnh ư?
Nhờ cái tinh thần tôn giáo của ta ư? [67, tr.750].
Giai đoạn giữa năm 1935, có nhiều bài viết trên báo Tràng an lấy tên là H.T
luận bàn về Phong trào Phật giáo chấn hưng. Tác giả đã cho rằng có ba nguyên
nhân của sự phục hưng Phật giáo, đó là do lòng tự ái của dân tộc, niềm khát ngưỡng
một lý tưởng để theo và do nạn kinh tế khủng hoảng.
Thế nhưng lại còn có ý kiến cho rằng phong trào Chấn hưng Phật giáo ra đời
là do ý đồ mỵ dân của thực dân Pháp: chúng muốn đẩy dân ta đắm chìm trong tín
ngưỡng mê tín của tôn giáo, để họ quên đi sự chống đối ngoại bang. Theo Nguyễn
15
16
Phật giáo. Dharmapala thường hun đúc tinh thần chấn hưng Phật giáo của tín đồ
Phật giáo Ấn Độ bằng những lời kêu gọi trong mỗi thời thuyết pháp ở Ấn Độ: “Phật
giáo ở Ấn Độ đã bị truy phóng một thời gian dài 800 năm. Ngày nay, họ đã và đang
quay trở về Tổ quốc. Tất cả chúng ta hãy thức tỉnh siêu vượt chế độ, giai cấp và tín
điều, với mục đích duy nhất của Hội Đại Bồ đề là đem giáo lý của Đấng Phật đà
tặng mọi người dân Ấn Độ” [64, tr. 201].
Năm 1908, đại đức Dharmapala đã viết thư liên lạc với cư sĩ Dương Nhân
Sơn ở Trung Quốc để mời cộng tác và từ đó phong trào lan rộng nhanh chóng.
Tại Trung Quốc, cư sĩ Dương Nhân Sơn đã đứng lên thiết lập Kỳ Hoàn Tịnh
xá, triệu tập những học giả nghiên cứu Phật học bằng Hán văn, Anh văn và Pali.
Tiếp đó, năm 1912, HT. Thái Hư lập Phật học viện Vũ Xương, ra tạp chí Giác xã
năm 1918, sau đổi thành Hải triều âm, làm tiền đề cho nhiều Phật học viện ra đời.
Các hiệp hội Tăng Giáo dục, Phật giáo Hợp Tiến, Phật giáo Tổng hội, Phật giáo
Liên hiệp, Phật giáo Cư sĩ lâm liên tiếp ra đời khắp mọi nơi.
Những hoạt động tích cực để chấn hưng Phật giáo của các nhân vật Phật giáo
xuất chúng từ Tích Lan, Ấn Độ, Trung Quốc đã tác động đến các nước ở châu Á
khác như: Miến Điện, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam v.v Phong trào
đổi mới Phật sự từ các nước này cũng được diễn ra nhanh chóng và có hiệu quả. Có
thể nói, phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp và
mạnh mẽ từ phong trào Chấn hưng Phật giáo Trung Quốc, đặc biệt là những tư
tưởng cải cách Phật giáo của HT. Thái Hư.
Mặt khác, ở Việt Nam đầu TK.XX, do nhiều nguyên nhân về kinh tế, văn
hóa, xã hội và tư tưởng đã xuất hiện nhiều phong trào tôn giới mới. Những phong
trào tôn giáo này bắt nguồn từ Phật giáo, từ tín ngưỡng dân gian, hoặc từ “Tam
giáo” (Phật - Lão - Nho) rồi cải biên, trong đó có đạo Cao Đài do các ông Ngô
Minh Chiêu (1878-1930), Lê Văn Trung (1875-1934), Phạm Công Tắc (1893-
1959),… thành lập năm 1926; Phật giáo Hòa Hảo do ông Huỳnh Phú Sổ (1920-

thời lo độc thiện, có khi lạc vào cái chủ nghĩa yếm thế nên không biết nghĩa vụ và
trách nhiệm của mình; mình đã chẳng biết thời làm sao truyền bá ra cho người khác
biết được?”.
Nhìn chung, trước bối cảnh trong và ngoài nước như thế, nhiều tăng sĩ cùng
nhân sĩ trí thức yêu nước có nhiệt tâm, có tín tâm với đạo Phật đã tìm mọi cách chấn
hưng Phật giáo để khôi phục lại truyền thống tín ngưỡng, đạo lý và phong tục tập
quán của dân tộc, đồng thời qua đó đoàn kết tập hợp lực lượng để chống Pháp,
18
giành độc lập cho dân tộc. Công cuộc này đã làm thay đổi rất nhiều về nội dung và
hình thức hoạt động của Phật giáo Việt Nam.
1.1.3. Hoạt động của phong trào Chấn hƣng Phật giáo
Có thể nói, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam được khởi đầu từ các
đô thị Nam Kỳ với những đóng góp quan trọng của HT. Khánh Hòa và sư Thiện
Chiếu, để sau đó lan ra Trung và Bắc Kỳ.
1.1.3.1. Phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ
Từ năm 1920, mặc dù trong cả nước, tình hình Phật giáo không có gì sáng
sủa nhưng tại Nam Kỳ, rải rác ở các nơi, nhiều vị có tâm huyết vẫn duy trì các đạo
tràng tu học Phật pháp và thuyết giảng tại các chùa lớn, như: HT. Thích Từ Phong
giảng dạy Phật pháp cho tăng sĩ tại chùa Giác Hải. Hòa thượng còn tổ chức khắc
bản in kinh và khuyến khích việc phiên dịch kinh Phật ra chữ Quốc ngữ. Từ năm
1922, Hòa thượng đã cho xuất bản bộ Quy Nguyên Trực Chỉ do chính mình phiên
dịch ra Quốc ngữ. HT. Khánh Hòa thì thuyết giảng Phật pháp cho chư tăng tại chùa
Tiên Linh. HT. Chí Thành quy tụ tăng sĩ về giảng dạy Phật pháp hàng năm tại chùa
Phi Lai. Hòa thượng còn tổ chức thành lập trường Phật học dành cho ni giới tại
chùa Giác Hoa (Bạc Liêu) và đã thu hút được trên một trăm học ni về tham học. Tại
Trà Vinh, HT. Huệ Quang giảng dạy Phật pháp tại chùa Long Hòa; HT. Khánh Anh
giảng tại chùa Long An. Cả hai đạo tràng đều có từ bốn mươi đến một trăm học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status