VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG LINH CHI
VĂN HOÁ CÔNG SỞ TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Hành chính
Mã số : 60 38 20
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HÀNH CHÍNH
Hà Nội, năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu
trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu
bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận
văn chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Hoàng Linh Chi
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ CÔNG SỞ TRONG CÁC CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 10
1.1. Khái niệm văn hoá công sở 10
1.1.1. Khái niệm văn hoá 10
1.1.2 Khái niệm văn hoá công sở 13
1.1.3. Các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến văn hóa công sở 16
1.2. Nội dung của quy chế văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước 19
1.2.1 Sự cần thiết phải xây dựng quy chế văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước 19
1.2.2. Ý nghĩa của việc xây dựng quy chế văn hóa công sở 22
3.3.3. Nâng cao hiệu quả của thanh tra công vụ về thực trạng văn hoá công sở trong các cơ quan hành
chính nhà nước 84
3.3.4. Tăng cường cở sở vật chất, kỹ thuật và tài chính cho việc thực hiện văn hoá công sở trong các cơ
quan hành chính nhà nước 86
3.3.5. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức thực hiện văn hoá công sở cho cán bộ, công chức, viên
chức trong các cơ quan hành chính nhà nước 87
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC : Cán bộ, công chức
CBCCVC
CHXHCNVN
: Cán bộ, công chức, viên chức
: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
CQHCNN : Cơ quan hành chính Nhà nước
CQNN : Cơ quan Nhà nước
NQ-CP : Nghị quyết của Chính phủ
QĐ-TTg : Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
QH : Quốc hội
UBTVQH : Ủy ban Thường vụ Quốc hội
VHCS : Văn hóa công sở
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh hiện nay, việc đẩy mạnh thực hiện văn hoá công sở là
vấn đề quan trọng và cần thiết để góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng được
một nền hành chính trong sạch, minh bạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện
đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế,
xã hội trong giai đoạn mới. Thực tế cho thấy công tác cán bộ hết sức quan
những kĩ năng giao tiếp cần thiết với đồng nghiệp, với nhân dân; sử dụng lãng
phí thời gian làm việc, tài sản công; nhận thức của một số cán bộ, công chức
chậm được đổi mới. Để cải thiện những vấn đề còn hạn chế trên Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành hàng loạt các quyết định nhằm điều chỉnh các vấn đề
về: chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước các giai đoạn 2001-
2010, 2006-2010, 2011-2020; chương trình hành động của Chính phủ về thực
hành tiết kiệm chống lãng phí; các quy chế quản lý công sở trong các cơ quan
hành chính nhà nước; quy chế Văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà
nước Với mục đích đảm bảo tính nghiêm trang và hiệu quả hoạt động của các
CQHCNN; xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của CBCCVC trong hoạt
động công vụ, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ CBCCVC có phẩm chất
đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Từ cơ sở đó, việc tìm hiểu về văn hoá công sở tại các cơ quan hành
chính nhà nước ở nước ta hiện nay đã và đang là vấn đề cấp thiết cả về lý luận
và thực tiễn. Chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ, tôi hy vọng sẽ góp phần
vào việc thực hiện tốt hơn cho văn hoá công sở tại các CQHCNN, đáp ứng
yêu cầu cải cách hành chính nhà nước hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Văn hoá là đề tài được các nhà nghiên cứu khai thác rất nhiều, có thể kể
tới các tác phẩm của các tác giả: GS. Trần Ngọc Thêm (với các cuốn Cơ sở
5
văn hoá Việt Nam (2001), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam: cái nhìn hệ
thống - loại hình (2002) ), GS. Trần Quốc Vượng (Cơ sở văn hoá Việt Nam),
GS. Phan Ngọc (Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới (1994), Tuy
nhiên, chuyên đề "Văn hoá công sở" chưa được nghiên cứu nhiều. Học viện
Hành chính Quốc gia (nay là Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia) có
phát hành Giáo trình Kỹ thuật tổ chức công sở (2002) dùng để giảng dạy
trong nhà trường với tư cách là một môn học. Còn lại, chủ yếu là các bài viết,
đề tài chuyên đề rải rác trên các tạp chí chuyên ngành, như “Văn hóa tổ chức
và một số giải pháp phát triển văn hoá công sở” của tác giả Trần Thị Thanh
lịch sử”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 9 năm 2007.
- Đào Thị Ái Thi, “Xây dựng mô hình lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
kỹ năng giao tiếp của đội ngũ công chức hiện nay”, Tạp chí Tổ chức Nhà
nước tháng 9, năm 2007.
- Nguyễn Văn Minh, “Cải cách hành chính – những bài học vẫn mang
tính thời sự”.
Cho đến nay, đã có một số bài viết, hay một số công trình khoa học
nghiên cứu dưới góc độ khác nhau có liên quan đến vấn đề trên. Song cho tới
thời điểm này chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề Văn
hóa công sở trong các cơ quan hành chính ở nước ta hiện nay. Đây là đề tài
mới, nghiên cứu một cách độc lập nhằm đánh giá về cơ sở lý luận cũng như
thực trạng, từ đó đưa ra các giải pháp, phương hướng cụ thể để thực hiện có
hiệu quả văn hoá công sở tại các CQHCNN ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện các quy định
về văn hoá công sở tại các CQHCNN. Từ đó đưa ra những quan điểm và giải
pháp để nâng cao văn hoá công sở tại cơ quan hành chính nhà nước đạt hiệu
quả cao đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay;
7
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật, văn hoá công sở tại
các CQHCNN;
- Phân tích, đánh giá quá trình triển khai các quy định của pháp luật,
thực trạng về văn hoá công sở tại các CQHCNN ở nước ta hiện nay;
- Trên cơ sở quá trình phân tích, đánh giá thực trạng đó đề xuất những
phương hướng và giải pháp nâng cao văn hoá công sở tại các CQHCNN ở
nước ta hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Chương 2: Thực trạng về văn hoá công sở trong các cơ quan hành
chính nhà nước ở nước ta hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao văn hoá công sở
trong các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ CÔNG SỞ TRONG CÁC CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. Khái niệm văn hoá công sở
1.1.1. Khái niệm văn hoá
Văn hóa là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong đời sống
hàng ngày và là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ở các lĩnh vực.
Tuy nhiên, hiểu văn hoá một cách toàn diện và đầy đủ không đơn giản. Ở các
góc độ, nhận thức, hoàn cảnh, thời điểm khác nhau, văn hoá được định nghĩa
khác nhau, vì vậy, trong cuộc sống, con người thường tìm cách lý giải văn
hoá cho phù hợp với mục đích và phạm vi sử dụng.
Theo tiếng Hán -Việt, văn có nghĩa là “chữ”, là “nét vẽ”, còn hoá là “sự
biến đổi”. Còn theo tiếng Latin, thuật ngữ văn hoá - cultura có nghĩa là sự cày
cấy, vun trồng, nuôi dưỡng, chăm sóc. Như vậy, khái niệm văn hóa hàm chứa
sự thay đổi, biến đổi mà kết quả đem lại theo hướng tích cực. Văn hoá trong
Tiếng Việt được sử dụng làm danh từ (văn hoá giao tiếp, văn hoá vật chất,
văn hoá tinh thần, văn hoá cung đình …) hoặc làm tính từ (ứng xử có văn hoá,
di tích văn hoá…). Thực tế hiện nay có quan điểm cho rằng trên thế giới có
đến hơn 400 định nghĩa về văn hóa. Có thể chia các định nghĩa theo các nhóm
như: liệt kê, lịch sử và xã hội hóa, giá trị và chuẩn mực, tâm lý học và hành vi
học, cấu trúc và hoạt động, phái sinh… Rất nhiều cách tiếp cận về văn hóa
nhưng về cơ bản có hai cách tiếp cận khái niệm về văn hoá được nhiều nhà
nghiên cứu thừa nhận như sau:
Thứ nhất, văn hoá là những hoạt động sáng tạo ra những giá trị vật chất
và tinh thần của loài người, xuất phát từ nhu cầu của con người và nhằm làm
hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần- nói một
11
cách tổng quát; Ba là, tri thức, kiến thức khoa học; Bốn là, trình độ cao trong
sinh hoạt văn hoá xã hội, biểu hiện của văn minh; Năm là, nền văn hoá của
một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở tổng thể những di vật tìm
thấy được có những đặc điểm giống nhau.
Xuất phát từ cách tiếp cận và các cơ sở lý luận nêu trên có thể hiểu khái
niệm văn hoá như sau:
Văn hoá là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo, tích luỹ, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong hoạt động sản
xuất, nếp suy nghĩ, cách sống và sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và xã hội. Văn hoá có ý nghĩa khác nhau đối với các dân tộc khác
nhau, bởi vì khái niệm văn hoá bao gồm những chuẩn mức, giá trị, tập
quán.v.v
Trên tinh thần hiểu văn hoá theo nghĩa rộng, Tổ chức văn hoá, khoa
học, giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra định nghĩa như sau:
“Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của
đời sống (của các cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng
như đang diễn ra trong hiện tại qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ
thống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân
tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [60, tr. 23].
Đặc biệt, khi nghiên cứu về văn hoá, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh
tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh
ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức
sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là
sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, của
loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu và đòi hỏi của sự
sinh tồn” [21, tr. 431].
Như vậy, Hồ Chí Minh đã thấy văn hoá là cơ chế tổng hợp để hình
tính vật thể và phi vật thể. Nói như vậy, cũng có nghĩa rằng văn hoá có những
điều có thể cảm nhận được bằng các giác quan nhưng cũng có những điều mà
ta chỉ đánh giá qua nhận thức mà thôi.
Từ sự nhận thức trên có thể khái niệm văn hoá công sở như sau:
Văn hoá công sở là một dạng đặc thù của văn hoá xã hội, là một sự
pha trộn riêng biệt của các giá trị, niềm tin, chuẩn mực, vẻ đẹp và cách hành
xử trong hoạt động công sở, mà các thành viên trong công sở cùng tiếp nhận
để ứng xử với nhau trong nội bộ công sở và phục vụ cộng đồng với sự tác
động của hệ thống quan hệ thứ bậc mang tính quyền lực và tính xã hội, tạo
nên một dấu ấn riêng biệt, giúp phân biệt công sở này với công sở khác.
Văn hoá công sở ảnh hưởng đến các thành viên trong công sở một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp. Thông qua các quy định chính thức như Quy chế làm
việc, văn hoá là công cụ để các nhà quản lý hướng cách thức hành vi của đội
ngũ theo những kiểu nhất định. Đồng thời, văn hoá còn hiện diện và ảnh
hưởng đến nếp nghĩ, nếp làm của cán bộ, công chức thông qua hệ thống các
quy tắc xử sự mang tính thông lệ, không chính thức, không thành văn, nhưng
đôi khi có tính lâu bền và sức ảnh hưởng mạnh mẽ hơn bất cứ công cụ chính
thức nào. Văn hoá công sở như một môi trường văn hoá đặc thù với những
giá trị chuẩn mực văn hoá chi phối mọi hoạt động, các quan hệ trong nội bộ
công sở cũng như đối với công dân với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước
hay một cơ quan sự nghiệp, dịch vụ công.
Trên thực tế, để hiểu một cách thấu đáo về văn hoá công sở cũng là
điều phải bàn. Bởi lẽ, văn hoá công sở vốn là sự pha trộn riêng biệt có thể là
chuẩn mực của tổ chức này nhưng là phù phiếm của công sở kia. Do vậy, việc
xác định các biểu hiện của văn hoá công sở là một yêu cầu quan trọng để đánh
giá công sở. Cụ thể:
Thứ nhất, biểu tượng: biểu tượng là một công cụ thể hiện về ý chí, về
lịch sử và cũng là cách thức để khuếch trương hình ảnh của một tổ chức. Biểu
14
tượng của công sở có thể là lá cờ tổ quốc được treo theo quy định hiện hành
thấy và từ đó đánh giá được hết mức độ ảnh hưởng của chúng tới năng suất
lao động quản lý, tới hiệu quả hoạt động của công sở nói chung.
1.1.3. Các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến văn hóa công sở
• Tính chất, đặc điểm của cơ quan công quyền
Tính chất và đặc điểm của cơ quan công quyền khác biệt so với các cơ
quan, đơn vị sản xuất, kinh doanh hay các đoàn thể quần chúng. Sự khác biệt
này thể hiện ở các điểm sau:
- Các cơ quan này cũng như CBCC, VC là đại diện cho quyền lực nhà
nước cũng như được sử dụng quyền lực nhà nước trong hoạt động công vụ, cụ
thể là trong quan hệ với người dân (cá nhân, tổ chức).
Vì lẽ đó, các CBCC, VC thường được người dân gọi bằng một danh từ
thông thường là "người nhà nước". Vô hình chung, CBCC, VC được xã hội
đặt vào một vị trí với trọng trách cao hơn những người khác. Đương nhiên,
hình thức bên ngoài cũng như những hành vi, ứng xử trong khi làm việc cũng
sẽ được nhìn nhận với yêu cầu cao hơn. Đối với trụ sở cơ quan công quyền
cần phải có những điểm khác biệt để nhờ đó, người dân có thể phân biệt được
đâu là cơ quan công quyền, đâu không phải là cơ quan công quyền (ví dụ như
cơ quan công quyền ngoài biển tên cần treo Quốc huy, Quốc kỳ… tại cổng
chính hay toà nhà chính…).
Tuy nhiên, chính yếu tố “quyền lực nhà nước” gây cho CBCC, VC tâm
lý “ỷ thế cậy quyền”, không có ý thức xây dựng một “thương hiệu” của công
sở, làm mất đi nét đẹp đáng lẽ phải xây dựng và vun đắp trong quá trình thực
thi công vụ.
- Chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép.
Đối với các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh thì phạm vi hoạt động
được mở rộng hơn rất nhiều - được phép làm những gì mà pháp luật không
16
cấm. Vì vậy, các cơ quan công quyền cũng như CBCC, VC phải tuân thủ
những quy định có tính chất bắt buộc, mang tính chất công thức nhiều hơn là
ở các đơn vị sản xuất kinh doanh (ví dụ: CBCC, VC tránh sử dụng các trang
VHCS. Ngoài ra, mức độ quan tâm của người đứng đầu cũng quyết định tầm
quan trọng các quy định VHCS so với các quy định khác. Phong cách của
người đứng đầu cơ quan công quyền sẽ có ảnh hưởng lớn tới hành vi của các
CBCC, VC khác. Chính nó sẽ tạo ra các trào lưu hay xu hướng, tạo nên
những cái mới trong công sở.
• Truyền thống văn hoá dân tộc
Khi xây dựng VHCS, không thể không chú ý đến yếu tố truyền thống
văn hoá dân tộc (quốc gia). Đây là yếu tố có tính chất nền tảng, tác động và
chi phối đến mọi thành viên trong công sở, từ lãnh đạo đến nhân viên. Là
người Việt Nam, bất cứ ai cũng mang trong mình những nét văn hoá truyền
thống đã được xây dựng, hình thành từ thế hệ này đến thế hệ khác, tạo nên
bản sắc riêng của văn hoá Việt Nam. Tuy nhiên, truyền thống văn hoá dân tộc
vừa có những yếu tố tiến bộ, tích cực, những giá trị tốt đẹp, đồng thời cũng có
không ít những yếu tố lỗi thời, lạc hậu, trì trệ. Tất cả những điều đó ít nhiều
đều ảnh hưởng và tác động đến quan niệm, nhận thức và thái độ, hành vi của
từng CBCC, VC trong công sở.
Văn hóa phương Tây thiên về lý lẽ và lôgic nên những con người sống
trong cộng đồng đó có cách ứng xử duy lý (thiên về lý lẽ). Văn hóa Việt Nam
có đặc trưng là duy tình (thiên về tình cảm) nên con người Việt Nam ứng xử
nặng về tình cảm. Nền văn minh nông nghiệp lúa nước tạo nên những nét
riêng trong văn hóa ứng xử của con người Việt Nam. Những truyền thống tốt
đẹp, tích cực như lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng cao… sẽ có
ảnh hưởng tốt đến VHCS, nhất là trong quan hệ ứng xử giữa các CBCC, VC
trong cơ quan. Tuy nhiên, cũng có những thói quen, tâm lý ảnh hưởng tiêu
18
cực đến VHCS như nể nang, dĩ hoà vi quý, tư duy gia đình Vấn đề đặt ra là
phải củng cố, xây dựng và phát huy những mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu
cực của văn hoá dân tộc.
• Điều kiện kinh tế - xã hội
VHCS được tạo dựng bởi cả nhận thức của con người và nguồn lực để
hoạt động của công sở góp phần tạo dựng niềm tin, sự đoàn kết nhất trí của cả
tập thể trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của cơ quan đơn
vị. Cách hành xử văn hóa chốn công sở thực tế mang lại rất nhiều lợi ích. Văn
hóa ứng xử nói chung và văn hóa ứng xử nơi công sở nói riêng chính là thước
đo sự văn minh của mỗi CBCC hay nói khác đi nó phản ánh sự nhận thức
cũng như ý thức của mỗi cá nhân trong môi trường làm việc nơi công sở. Con
người tác động đến việc hình thành văn hóa công sở đồng thời văn hóa với
những giá trị bền vững được kế thừa và tiếp thu có chọn lọc từ quá khứ đến
hiện tại, tương lai; từ môi trường bên trong đến bên ngoài công sở sẽ có tác
động trở lại góp phần hoàn thiện nhân cách, phẩm chất, đạo đức cho CBCC.
Xây dựng văn hóa công sở chính là xây dựng một môi trường làm việc hiện
đại, chuyên nghiệp, thân thiện và hiệu quả. Từ đó tạo bầu không khí cởi mở
giúp CBCC hứng khởi làm việc đưa chất lượng và hiệu quả công việc lên cao.
Xây dựng văn hóa công sở văn minh, tiến bộ, hiện đại là vô cùng quan
trọng. Tuy nhiên, văn hóa công sở đã thực sự được các cấp các ngành chú
trọng, CBCC tự giác tuân thủ và không ngừng xây dựng hay chưa? Thiết
nghĩ, nếu vấn đề này được các nhà lãnh đạo thực sự đầu tư và gương mẫu
thực hiện, CBCC tự quản, tự giác và có ý thức xây dựng, giữ gìn thì hiệu quả
hoạt động của cơ quan đơn vị sẽ thực sự lớn. Bởi cách thức ứng xử chính là
dầu bôi trơn cho cả một tổ chức. Cách thức ửng xử đơn giản như biết cười,
biết nói lời cảm ơn, biết xin phép hay nói lời xin lỗi…
20
Mặc dù văn hóa công sở hiện nay đã được hình thành về cơ bản nhưng
thực hiện hay không còn tùy thuộc vào ý thức của mỗi CBCC cũng như phụ thuộc
vào nhận thức đúng đắn về phương thức để có ứng xử văn minh tại công sở.
Hiện nay vẫn tồn tại khá nhiều hạn chế trong văn hóa công sở như: đi
làm muộn, đi họp muộn, nói chuyện riêng trong giờ họp, trang phục không phù
hợp khi đến công sở, tác phong làm việc không chuyên nghiệp, chưa giữ vệ
sinh chung, hút thuốc lá, thiếu ý thức trách nhiệm với công việc được giao…
đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả công việc, đến đồng nghiệp, đến bộ mặt của cả
tắc và chuẩn mực văn hóa của công sở. Với ý nghĩa đó, thực hiện tốt văn hóa
công sở chính là làm cho cán bộ, công chức, viên chức hoàn thiện mình.
1.2.2. Ý nghĩa của việc xây dựng quy chế văn hóa công sở
Việc xây dựng Quy chế VHCS trong các CQNN có ý nghĩa sau:
Thứ nhất, đó là sự thừa nhận một cách chính thức những giá trị nhất định
của VHCS; thể hiện rõ tư tưởng và thái độ chính trị về nội dung tương ứng.
Thứ hai, việc hình thành các chuẩn mực bắt buộc của VHCS làm cơ sở
cho việc xây dựng hệ thống quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ thể thực
hiện; là biện pháp thiết thực đưa VHCS vào hoạt động thường nhật của CQNN.
Cuối cùng, việc xây dựng Quy chế VHCS tạo ra sự thống nhất trong
việc áp dụng VHCS, góp phần bảo đảm tính đồng bộ của hoạt động quản lý
nhà nước; khắc phục sự tuỳ nghi hay ngẫu hứng khi thực hiện.
Như đã phân tích, khái niệm về VHCS khá rộng, vì vậy các quy định
VHCS rất đa dạng và phong phú, bao trùm nhiều vấn đề, một số quy định đã
được điều chỉnh bởi các văn bản có hiệu lực pháp lý cao: luật, pháp lệnh…
Hơn nữa, các quy định VHCS bị tác động bởi nhiều yếu tố, khách quan có,
chủ quan có. Do vậy, để “quy chế hóa” - biến các quan điểm, nhận thức về
VHCS thành Quy chế VHCS áp dụng thống nhất trong các CQNN và CBCC,
VC không đơn giản. Các vấn đề lý luận như vậy, còn thực trạng các quy định
22
về VHCS và việc áp dụng, thực hiện Quy chế VHCS tại các CQNN ra sao là
vấn đề cần được tìm hiểu trong Chương 2 của nghiên cứu này.
1.2.3. Đặc điểm của văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà
nước ở nước ta hiện nay
Hành vi điều hành và hoạt động của công sở được biểu hiện thông qua
tinh thần tự quản, tính tự giác của cán bộ, công chức, viên chức làm việc
trong công sở cao hay thấp. Đây là vấn đề cần được quan tâm vì thể hiện ý
thức của mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải xem công việc của cơ quan
như công việc của gia đình mình và có trách nhiệm cao trong công việc. Có
như vậy hiệu quả làm việc mới cao được. Hiện nay ở một số cơ quan, tinh