MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC............................................................................................................1
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT............................................................4
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
1.Lí do chọn vấn đề.......................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu....................................................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................2
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu........................................2
5. Ý nghĩa thực tiễn.......................................................................................3
6. Kết cấu.......................................................................................................3
CHƯƠNG 1..........................................................................................................4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TRONG CÁC CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.........................................................4
1.1Khái niệm văn hóa công sở......................................................................4
1.1.1Khái niệm văn hóa.................................................................................4
1.1.2Khái niệm văn hóa công sở...................................................................5
1.1.3Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa công sở..........................................5
1.2. Nôi dung của quy chế văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính
nhà nước........................................................................................................7
1.2.1 Sự cần thiết của việc xây dựng quy chế văn hóa công sở trong các cơ
quan hành chính nhà nước.............................................................................7
1.2.2. Ý nghĩa của việc xây dựng quy chế văn hóa công sở..........................9
1.2.3. Đặc điểm của văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính của
nước ta hiện nay...........................................................................................10
1.3 Quy định của pháp luật về văn hóa công sở trong các cơ quan hành
chính nhà nước............................................................................................10
1.4. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về xây dựng và thực hiện văn
hoá công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước..................................17
3.2. Các giải pháp nâng cao văn hoá công sở trong các cơ quan hành chính
nhà nước ở nước ta hiện nay........................................................................34
3.2.1. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về văn hoá công sở.....................34
3.2.2. Nâng cao hiệu quả của thanh tra công vụ về thực trạng văn hoá công
sở trong cơ quan hành chính nhà nước........................................................35
3.2.3. Thường xuyên tổng kết, đánh giá thực tiễn về văn hoá công sở trong
cơ quan hành chính nhà nước......................................................................35
3.2.4. Tăng cường cở sở vật chất, kỹ thuật và tài chính cho việc thực hiện
văn hoá công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước...........................36
3.2.5. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức thực hiện văn hoá công sở
cho cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan hành chính nhà nước......36
KẾT LUẬN........................................................................................................38
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................39
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Từ, cụm từ viết tắt
CBCC
VC
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang đặt ra mục tiêu cải cách hành chính trong
toàn hệ thống để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, đặc biệt chú trọng tới xây
dựng văn hóa công sở trong các cơ quan , đơn vị. Theo đó, mỗi CBCC, VC
trong cơ quan cần phải tự rèn luyện và hoàn thiện mình từ trình độ chuyên môn
đến thái độ, cách giao tiếp ứng xử để thực sự trở thành công bộc của nhân dân.
Trong thời gian qua, với xứ mệnh là người đầy tớ của nhân dân, đại bộ
phận đội ngũ CBCC, VC đã hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình. Do
đó, đời sống nhân dân đã dần được cải thiện , mọi công việc của dân kịp thời
được giải quyết, đem lại lòng tin và mối quan hệ giữa nhà nước với dân. Qua
hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà nước ta khởi
xướng và lãnh đạo đã thu được nhiều thành quả quan trọng trên tất cả các lĩnh
vực, tạo cơ sở vững chắc cho xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng mối
quan hệ giao lưu, hợp tác với các nước trên thế giới. Đồng thời, sự giao thoa
giữa các nền văn hóa trong thời kỳ hội nhập kinh tế cũng mang theo những yếu
tố cả tích cực, cả tiêu cực. làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác cũng như mối
quan hệ trong môi trường làm việc.
Nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa công sở trong hoạt động hành
chính, Nhà nước ta đã kịp thời đưa ra những quy định nhằm tạo ra sự thống nhất
trong quá trình tổ chức triển khai và thực hiện của các cơ quan, đơn vị.
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện của các cơ quan đơn vị là chưa đủ mà
1
còn cần phải có sự kiểm tra, đánh giá một cách nghiêm túc và thường xuyên để bổ
sung những điểm còn thiếu sót và rút ra bài học kinh nghiệm. Do đó, tìm hiểu
nhận xét về tình hình triển khai thực hiện các quy định nhà nước về văn hóa công
sở tại một số cơ quan hành chính nhà nước đang là một vấn đề cấp thiết về cả lý
luận và thực tiễn.
2. Lịch sử nghiên cứu
Văn hoá là đề tài được các nhà nghiên cứu khai thác rất nhiều, có thể kể
công sở trong một số cơ quan hành chính nhà nước. Qua đó, tạo thêm nguồn dữ
liệu thực tiễn làm cơ sở cho việc hoạch định những chính sách, giải pháp phù
hợp nhằm khắc phục những hạn chế về văn hoá công sở trong các cơ quan hành
chính nhà ở nước ta. Kết quả nghiên cứu có thể trở thành tài liệu tham khảo cho
văn hoá quản lý hành chính công.
6. Kết cấu
Bài tiểu luận gồm 3 chương, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hoá công sở trong các cơ quan hành
chính nhà nước ở nước ta hiện nay
Chương 2: Thực trạng về văn hoá công sở trong các cơ quan hành chính
nhà nước ở nước ta hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao văn hoá công sở trong
các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TRONG CÁC CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 Khái niệm văn hóa công sở
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm khá phổ biến trong cuộc sống và cũng là đề tài
nghiên cứu bất tận của con người. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu một cách
đầy đủ và toàn diện về khái niệm này. Ở các góc độ khác nhau lại có những cách
định nghĩa về văn hóa khác nhau, vì vậy trong mỗi hoàn cảnh, mỗi thời điểm
con người luôn tìm cách định nghĩa văn hóa một cách phù hợp nhất với mục
đích sử dụng của mình.
Hiểu theo nghĩa rộng thì văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực
Văn hóa công sở được hiểu là những quy tắc, chuẩn mực ứng xử giữa
CBCC - người đại diện cho cơ quan hành chính nhà nước với công dân và giữa
CBCC với nhau, nhằm phát huy tối đa năng lực để đạt hiệu quả cao nhất trong
hoạt động công vụ. Văn hóa công sở còn là biểu hiện của một xã hội văn minh,
mọi hoạt động công vụ có nề nếp, kỷ cương. Mỗi người công chức đều thấy rõ
trách nhiệm của mình và luôn tự nguyện làm tròn nhiệm vụ, hoàn thành tốt phần
việc được giao.
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa công sở
• Tính chất, đặc điểm của cơ quan công quyền
Tính chất, đặc điểm của các cơ quan công quyền có sự khác biệt hơn so
với các cơ quan, đơn vị sản xuất, kinh doanh hay các đoàn thể quần chúng. Sự
khác biệt đó thể hiện ở một số điểm sau đây:
+ Các cơ quan này cũng như CBCC,viên chức là đại diện cho quyền lực
nhà nước cũng như sử dụng quyền lực nhà nước trong hoạt động công vụ, trong
hoạt động quan hệ với người dân. Chính vì vậy, mà những người CBCC được
đặt vào một vị trí với trọng trách cao hơn những người khác. Do đó những hành
vi, thái độ và cách ứng xử của họ trong khi làm việc cũng sẽ được nhìn nhận với
những yêu cầu cao hơn. Đồng thời, tại trụ sở của các cơ quan công quyền cần có
những điểm khác biệt để nhờ đó mọi người dân đều có thể phân biệt được đâu là
cơ quan công quyền (ví dụ như các cơ quan công quyền cần treo Quốc huy,
5
Quốc kỳ .... tại trụ sở chính ).
• Chỉ được làm những việc mà pháp luật cho phép.
Đối với các cơ quan không phải là cơ quan công quyền thì phạm vi hoạt
động được mở rộng hơn, các cơ quan, tổ chức và cá nhân đó được làm những
việc mà pháp luật không cấm. Do vậy, mà các CBCC, viên chức phải tuân thủ
các quy định có tính chất bắt buộc mang tính nguyên tắc nhiều hơn so với các
đơn vị, tổ chức kinh doanh ( ví dụ các doanh nghiệp trang phục của họ rất đa
những giá trị tốt đẹp, đồng thời cũng nhiều yếu tố lạc hậu, cổ hủ. Tất cả những
yếu tố đó đều ảnh hưởng và tác động đến quan niệm, nhận thức, thái độ và hành
vi của tùng CBCC, viên chức trong công sở.
• Điều kiện kinh tế - xã hội
Văn hóa công sở được tạo dụng từ nhận thức của con người và nguồn lực
để thực hiện. Sẽ rất khó khăn để xây dựng nên một công sở hiện đại, chuyên
nghiệp nếu thiếu đi nguồn lực tài chính. Vì thế, một trong những nguyên tắc xâu
dựng quy chế văn hóa công sở phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội.
Để làm rõ điều này, chúng ta có thể so sánh một số yếu tố của văn hóa
công sở hiện nay với những thời kỳ trước, đặc biệt là vấn đề cảnh quan môi
trường. Trong những năm gần đâu khi nền kinh tế của đất nước có dấu hiệu
chuyển biến tích cực, nên trụ sở và môi trường làm việc của các cơ quan được
thay đổi rõ rệt, mọi người bắt đầu có ý thức xây dựng nền văn hóa công sở tại cơ
quan mình, trang phục của CBCC, viên chức cũng được chú ý và ngày cành đẹp
hơn, lịch sự và các phương tiện phục vụ công việc của CBCC được trang bị đầy
đủ và ngày càng hiện đại.
1.2. Nôi dung của quy chế văn hóa công sở trong các cơ quan hành
chính nhà nước
1.2.1 Sự cần thiết của việc xây dựng quy chế văn hóa công sở trong các
cơ quan hành chính nhà nước
Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển đồng nghĩa với sức cạnh
tranh ngày càng lớn, đòi hỏi con người phải năng động và chuyên nghiệp hơn
trong công việc và phải sáng tạo không ngừng để tìm ra cách làm việc đạt hiệu
quả cao nhất. Đồng thời cũng phải xây dựng cho bản thân những thói quen,
phong cách ứng xử làm việc một cách văn minh, lịch sự ở chốn công sở. Công
sở là nơi thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, với cơ quan hữu quan, đồng cấp
7
và cấp trên, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đâị nơi công sở chỉ đóng vai trò hỗ
làm, làm cho xong việc... Một số ít là do chưa biết nhận thức phải làm thế nào
để có những hành vi ứng xử văn minh, lịch sự nơi công sở.
Trải qua các thời kỳ lịch sử và những biến động của xã hội, văn hóa công
sở đang ngày càng hoàn thiện đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện
đại. Để xây dựng nét văn hóa riêng của mỗi cơ quan đơn vị cần phải có sự đồng
thuận và cố gắng trên tinh thần tự giác của các cá nhân trong từng cơ quan, đơn
vị. Xây dựng văn hóa công sở thực chất là xây dựng con người mới. Do đó, cơ
quan, tổ chức cần làm tốt chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ, phụ cấp, tạo môi
trường và động cơ làm việc cho CBCC. Hoàn thiện xây dựng văn hóa công sở
có ý nghĩa to lớn vì nó thể hiện chất lượng và hiệu quả khi xử lý giải quyết công
việc, xây dựng lề lối làm việc khoa học của đội ngũ CBCC nhằm góp phần vào
quá trình cải cách hành chính Nhà nước mà Đảng và Nhà nước đề ra. Đồng thời,
tạo nên nếp làm việc khoa học, tiến bộ, có kỷ cương, dân chủ, tạo được tinh thần
đoàn kết và khắc phục bệnh quan liêu của các cơ quan công quyền. Khi xây
dựng tốt môi trường văn hóa công sở sẽ tạo được niềm tin của CBCC, viên chức
với cơ quan, với nhân dân góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công sở.
Tính tự giác của CBCC, viên chức trong công việc sẽ làm cho chất lượng và
hiệu quả công việc càng được nâng cao hơn.
1.2.2. Ý nghĩa của việc xây dựng quy chế văn hóa công sở
Việc xây dựng Quy chế văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính
nhà nước có những ý nghĩa sau:
- Đó là sự thừa nhận một cách chính thức những giá trị nhất định của văn
hóa công sở, thể hiện rõ tư tưởng và thái độ chính trị về nội dung tương ứng.
- Việc hình thành các chuẩn mực bắt buộc của văn hóa công sở làm cơ sở
cho việc xây dựng hệ thống quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ thể thực
hiện, là biện pháp thiết thực đưa văn hóa công sở vào các hoạt động thừng nhật
của cơ quan nhà nước.
- Tạo ra sự thống nhất trong việc áp dụng văn hóa công sở, góp phần đảm
Thực tế, trong nhiều năm qua sự độc đoán, chuyên quyền trong bộ máy
công quyền đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước,
ảnh hưởng đến trật tự xã hội, làm xuống cấp nét văn hóa công sở. Chính vì vậy,
việc lập lại kỉ cương, xây dựng tác phong cách ứng xử chuẩn mực của CBCC
trong hoạt động công vụ là một đòi hỏi vừa khách quan vừa cấp bách. Ngày
10
02/8/2007 Thủ tướng chính phủ ban hành Quy chế văn hóa công sở kèm theo
Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg. Quy chế gồm: 03 chương, 16 điều quy định
chi tiết các nội dung, phạm vi, đối tượng điều chỉnh và các nguyên tắc thực hiện,
quy định việc thực hiện văn hóa công sở phải tuân thủ theo các nguyên tắc; phù
hợp với truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và điều kiện kinh tế - xã hội; phù
hợp với định hướng xây dựng đội ngũ CBCC chuyên nghiệp, hiện đại; phù hợp
với các quy định của pháp luật và mục đích yêu cầu cải cách hành chính chủ
trương hiện đại hóa nền hành chính nhà nước. Theo Quy chế này, các nhân viên
cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương trong khi làm việc, tiếp xúc với
dân, giao tiếp, ứng xử phải hết sức nghiêm túc, lịch sự, biết tôn trọng người dân;
quy định cụ thể về trang phục, việc đeo thẻ khi thực hiện nhiệm vụ; việc bố trí
phòng làm việc, treo biển hiệu cơ quan... Ngoài ra, Quy chế còn quy định các
hành vi cấm như : cấm hút thuốc lá, không được nói tục, không sử dụng đồ uống
có cồn tại công sở (trừ trường hợp được sự đồng ý của thủ trưởng cơ quan)...
Quy chế văn hóa công sở là một quy chế hợp với lòng dân , thể hiện bản
chất ưu việt của nhà nước thật sự là nhà nước của dân, do dân vì dân.
Ngoài các nội dung đã được quy định trong Quy chế VHCS nêu trên, rất
nhiều nội dung được quy định rải rác tại một số văn bản khác:
- Quy định về việc hát Quốc ca: Việc chào cờ và hát Quốc ca chỉ mới bắt
buộc tại các đơn vị vũ trang, các trường phổ thông, trường dạy nghề và trung
học chuyên nghiệp, các Học viện, các trường Đại học vào sáng thứ 2 hàng tuần,
trước buổi học đầu tiên.
CBCC gặp gỡ, làm việc; khách đến liên hệ công tác phải đăng ký với bộ phận
thường trực cơ quan để được hướng dẫn vào công sở và phải chấp hành sự chỉ
dẫn của thường trực cơ quan.
- Quy hoạch xây dựng trụ sở làm việc.
Quy hoạch công sở cơ quan hành chính nhà nước các cấp thực hiện theo
nguyên tắc tập trung và phải đáp ứng được những yêu cầu như : phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu sử dụng, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của
mỗi vùng, miền đất nước. Đồng thời, phải khắc phục tình trạng phân tán, manh
mún, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân, các cơ quan, tổ chức giao dịch và thực
hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước và tạo môi trường
làm việc thuận lợi cho đội ngũ CBCC nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác
12
quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và hội nhập của đất nước.
- Quy định về quy tắc ứng xử của CBCC, viên chức
Để thống nhất về giao tiếp ứng xử của CBCC, VC trong quan hệ tại
CQNN, Bộ Nội vụ ban hành Quy tắc ứng xử của CBCC, VC làm việc trong bộ
máy chính quyền địa phương. Quy tắc này quy định các chuẩn mực xử sự của
CBCC, VC làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương trong thi hành nhiệm
vụ, công vụ, trong quan hệ xã hội; trách nhiệm của CBCC, VC của cơ quan, đơn
vị có thẩm quyền trong việc thực hiện và xử lý vi phạm.
Đối tượng điều chỉnh mở rộng hơn so với Quy chế VHCS, bao gồm:
Những người được quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh
CBCC năm 2003 làm việc trong các cơ quan thuộc UBND và HĐND cấp tỉnh,
cấp huyện; Những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh
CBCC năm 2003 làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước thuộc bộ
máy chính quyền địa phương; Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ
theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND cấp xã quy định tại điểm g
hiện văn minh, lịch sự trong giao tiếp, ứng xử, trang phục để người dân tin yêu.
Các hành vi bị cấm: lợi dụng chức vụ, quyền hạn, mạo danh, sử dụng các
tài sản, phương tiện công cho các hoạt động xã hội không thuộc hoạt động
nhiệm vụ, công vụ, tổ chức các hoạt động cưới hỏi, ma chay, mừng thọ, sinh
nhật, tân gia, thăng chức và các hoạt động khác của bản thân và gia đình vì mục
đích vụ lợi, CBCC, VC không được vi phạm các quy định về nội quy, quy tắc ở
nơi công cộng; không được vi phạm các chuẩn mực về thuần phong mỹ tục tại
nơi công cộng để bảo đảm sự văn minh, tiến bộ của xã hội.
- Quy định về thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính:
Theo một văn bản chỉ đạo gần đây của Thủ tướng Chính phủ, CBCC, VC
phải chấp hành và sử dụng có hiệu quả thời giờ làm việc theo quy định của pháp
luật, nội quy, quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị; không sử dụng thời giờ làm
việc vào việc riêng; không đi muộn, về sớm, không chơi games trong giờ làm
việc; không uống rượu, bia trước, trong giờ làm việc, kể cả vào bữa ăn giữa hai
ca trong ngày làm việc và ngày trực; phải có mặt đúng giờ tại công sở theo giờ
hành chính hoặc theo quy định cụ thể của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
- Quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng điện thoại.
14
Quy định thể các chức danh được trang bị 01 máy điện thoại cố định tại
nhà riêng (Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm VP Chủ tịch nước, Bộ
trưởng và các chức danh tương đương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thứ trưởng và
các chức danh tương đương, cán bộ giữ chức vụ có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh
đạo từ 1,1 trở lên của các cơ quan hành chính sự nghiệp, Giám đốc các sở ban
ngành và tương đương cấp tỉnh… và một số đối tượng được trang bị thêm 01
máy điện thoại di động).
Ngoài ra, căn cứ vào yêu cầu công tác, Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp
tỉnh… có thể quyết định trang bị điện thoại cho cán bộ trực tiếp đảm nhận các
nhiệm vụ đặc biệt, nhưng phải hạn chế và tuân thủ một số nguyên tắc nhất định.
căn cứ pháp lý để ban hành, phần mở đầu và có thể được bố cục theo phần,
chương, mục, điều, khoản, điểm hoặc được phân chia thành các phần, mục từ
lớn đến nhỏ theo một trình tự nhất định.
Kỹ thuật trình bày văn bản bao gồm khổ giấy, kiểu trình bày, định lề trang
văn bản, vị trí trình bày các thành phần thể thức, phông chữ, cỡ chữ, kiểu chữ và
các chi tiết trình bày khác,..
Trên cơ sở đó, ngày 13 tháng 11 năm 2008 Quốc hội khoá 12 đã thông
qua Luật số 22 về ban hành Luật cán bộ, công chức. Luật này quy định:
- Quản lý CBCC phải tuân theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách
nhiệm công việc là phân công, phân cấp rõ người sử dụng, đáng giá, phân loại
CBCC dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ. Thực
hiện bình đẳng giới.
- CBCC trong khi thi hành công vụ phải chấp hành quyết định của cấp trên.
- CBCC được nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ,
quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước. CBCC
làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu
số, vùng có kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn; làm việc trong các ngànhh, nghề
có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi
theo quy định của pháp luật.
- CBCC làm việc ở những ngành nghề có liên quan đến bí mật nhà nước
thì ít nhất trong thời hạn năm năm kể từ khi được quyết định nghỉ hưu hoặc thôi
việc thì không được làm việc cho tổ chức, cá nhân trong nước hoặc tổ chức, cá
nhân người nước ngoài hoặc liên doanh với người nước ngoài.
16
Như vậy, trong Luật CBCC đã quy định về cán bộ, công chức, công sở,
văn hoá công sở, môi trường làm việc. Đây là những điều kiện tốt tạo cơ sở cho
việc xây dựng đội ngũ CBCC vừa hồng vừa chuyên theo lời dạy của Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Cụ thể là mỗi công chức phải giỏi tay nghề, có đạo đức, hành
phải học tập chính là nền hành chính của nước Nhật – cường quốc đứng thứ 3
thế giới. Khi người dân đến các cơ quan nhà nước, nhân viên phải đứng lên chào
niềm nở, tươi cười, sau đó mời người dân ngồi. Chỉ sau khi người dân ngồi thì
nhân viên nhà nước mới được ngồi. Ngoài ra, luôn có các nhân viên hướng dẫn
người dân đến bàn làm việc nào, phòng nào, thủ tục hành chính ra sao, chứ
không để người dân tự tìm đến nơi cần giải quyết như ở chúng ta hiện nay.
Các nước Âu Mỹ tiên tiến, hay ngay cả như Hàn Quốc, Đài Loan hiện
nay, vào công sở, xưng hô là theo cấp bậc nghiêm chỉnh. Thậm chí là anh em,
cha con trong một gia đình nhưng khi đến công ty, phải xưng danh và cư xử, làm
việc đúng nội quy, phép tắc của công ty chứ đâu có lộn xộn được! Tại hội nghị,
hội thảo, người báo cáo chỉ cần rất ngắn gọn: Thưa quý bà, quý ông (Ladies and
Gentlemen!). Người xưa nói, y phục xứng kỳ đức là vậy! Thực tế tại Việt Nam
trong các hội nghị, hội thảo các đại biểu tham dự thường Kính thưa rất dài như:
Các chức vụ về Đảng, chính quyền…. gây mất thời gian.
Chức vụ cơ quan của người đó là gì phải nói đúng chức danh. Là giám
đốc thì phải Thưa giám đốc, hay chủ tịch thì Thưa chủ tịch, kèm theo tên của họ.
Điều này các nước tiên tiến đã làm tốt, kể cả các nước châu Á như Đài Loan,
Hàn Quốc.
Từ kinh nghiệm về văn hoá công sở của một số nước vừa nêu ở trên cho
thấy văn hoá công sở đã ra đời từ rất lâu và phát triển trong quá trình tiến hành
cải cách hành chính nhà nước. Văn hoá công sở đã trở thành nền tảng không thể
thiếu trong sự phát triển chung của xã hội, điều đó cũng có nghĩa là đến công sở
có thể biết được bộ máy hành chính của nhà nước đó phát triển như thế nào, cho
dù nhà nước đó phát triển theo mô hình nào. Bên cạnh đó, cũng cần xem xét đến
những yếu tố ảnh hưởng, điều kiện, hoàn cản chủa từng cơ quan để xây dụng
nền văn hóa công sở phù hợp.
18
19
lớn tuổi hơn, người mới đến chào người đã đến trước, người từ ngoài vào chào
người đã ở trong phòng làm việc.
Chào khách đến liên hệ công việc: Khi tiếp khách (cấp trên, cấp dưới hoặc
ngang cấp) hoặc khách (nhân dân) đến liên hệ công việc, điều đầu tiên là chào
bằng tiếng nói như; chào chú, chào bác, chào anh, chào chị…Nếu đang bận rộn
hoặc khách đông thì có thể gật đầu chào chung hoặc chào bằng nụ cười thiện
cảm.
Trang phục công sở: trang phục và cách trang điểm của cán bộ, công
chức, viên chức chính là yếu tố gây ấn tượng cho người đối diện. Cán bộ, công
chức, viên chức sẽ không gây được thiện cảm với thủ trưởng, với đồng nghiệp
nếu bộ trang phục công sở trông thật nhàu nát hay quá sặc sỡ, cũng khó có thể
thành công trong giao tiếp với đối tác với bề ngoài như vậy. Trong điều kiện
hiện nay, chúng ta chưa trang bị đồng phục làm việc nơi công sở cho cán bộ,
công chức thì chúng ta cần chú ý một só cách ăn mặc nơi công sở như sau:
không mặc áo quần màu sắc hoa hòe sặc sỡ, may cầu kỳ, màu quá chói mắt như;
đỏ, vàng chóe, xanh lá cây rực rỡ…., không nên đến công sở với bộ đồ nhàu nát.
Không mặc quần áo quá chật, vải quá mỏng, quá ôm sát, vào người (nhất là đối
với nữ cán bộ, công chức, viên chức) như: áo pull, quần jean, váy quá ngắn, áo
không cổ hoặc cổ áo quá rộng, … Tốt nhất nên dùng sơ mi, quần âu hay comple,
màu sắc trang nhã phù hợp. Khi dự lễ những nơi trang trọng nữ nên mặc áo dài
hoặc comple, nam nên thắc cà vạt hoặc mặc veston thêm phần lịch sự hơn.
Giao tiếp điện thoại ở công sở cần chú ý: biết rõ mình muốn nói về nội
dung gì và chắc rằng bạn có đủ tài liệu để diễn đạt điều bạn muốn nói để tiết
kiệm được thời gian cho mình và cho cả người nghe. Điều chỉnh cách nói
chuyện cho thích hợp với từng đối tượng. Hạn chế nói chuyện riêng. Khi sử
dụng điện thoại di động ở công sở, cần để chế dộ rung trong khi dự họp, nhất là
những cuộc họp quan trọng.
cho hoạt động tiếp công dân. Trong đó quy định cụ thể việc tiếp công dân tại các
cơ quan cấp trung ương, địa phương tại các CQHCNN.
Ngoài ra, Chính phủ còn ban hành Nghị định 64/2014/NĐ-CP ngày
26/6/2014 về việc hướng dẫn Luật tiếp công dân 2013, có hiệu lực ngày
15/8/2014. Nghị định này quy định chi tiết về việc tiếp công dân tại các cơ quan
thuộc Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công lập; nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ
21