NHÓM NGỮ VĂN THCS QUẢNG NINH
CÂU HỎI VẬN DỤNG THẤP
Câu 1
Những cảm nhận tinh tế của Hữu Thỉnh trước vẻ đẹp của thiên nhiên trong khoảnh
khắc giao mùa qua bài thơ Sang thu.
(Ngữ văn 9 tập 2, NXBGD, 2010, trang 70)
ĐÁP ÁN
* Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận văn học, kết hợp các thao tác lập luận để
làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục rõ ràng, mạch lạc; lập luận chặt chẽ, lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục; diễn đạt, văn
phong trong sáng; dùng từ, đặt câu chuẩn xác, không mắc lỗi chính tả.
* Yêu cầu về nội dung kiến thức:
Bài viết cần đảm bảo các nội dung sau:
1. Mở bài:
Giới thiệu tác phẩm Sang thu của Hữu Thỉnh và vấn đề nghị luận.
2. Thân bài:
2.1. Cảm nhận tinh tế của Hữu Thỉnh về không gian làng quê lúc sang thu (khổ 1):
- Tín hiệu sang thu:
+ hương ổi, mùi hương quen thuộc của làng quê.
+ gió se - phả, gợi sự chuyển động nhẹ nhàng của làn gió heo may - nét riêng biệt của
mùa thu Bắc Bộ mang theo hương ổi lan tỏa khắp không gian.
+ sương - chùng chình: sương được nhân hóa trở nên có hồn đang bước đi nhẹ nhàng
nơi đường quê ngõ xóm.
- Cảm xúc của nhà thơ:
+ Bỗng: cảm xúc ngỡ ngàng, ngạc nhiên, bất ngờ trước những tín hiệu báo thu sang.
+ Hình như: tâm trạng buâng khuâng, xao xuyến, chưa rõ ràng trong cảm nhận.
- Nhận xét: dấu hiệu thu sang được tác giả cảm nhận tinh tế từ những gì vô hình, mờ
nhạt bằng nhiều giác quan. Qua đó thể hiện tình cảm yêu mùa thu, yêu làng quê của tác
giả.
2.2. Cảm nhận tinh tế của Hữu Thỉnh về không gian đất trời lúc sang thu (khổ 2):
3. Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận và liên hệ bản thân.
Câu 2
Cảm nhận của em về bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy.
ĐÁP ÁN
* Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận văn học;
- Bố cục rõ ràng, mạch lạc; lập luận chặt chẽ, lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục; diễn đạt,
văn phong trong sáng; dùng từ, đặt câu chuẩn xác, không mắc lỗi chính tả.
*Yêu cầu về nội dung kiến thức:
Học sinh có thể trình bày theo nhiều hướng khác nhau nhưng cơ bản đảm bảo các
nội dung sau:
1. Mở bài: giới thiệu tác phẩm Ánh trăng của Nguyễn Duy
2. Thân bài:
* Hình ảnh vầng trăng trong cảm xúc của nhà thơ:
- Vầng trăng trong quá khứ (khổ 1, 2):
+ Hồi nhỏ: vầng trăng là hình ảnh của thiên nhiên trần trụi và hồn nhiên tươi mát, là
người bạn tuổi thơ chứng kiến bao trò chơi trong những đêm trăng sáng.
+ Hồi chiến tranh: khi là người lính, vầng trăng soi sáng, đồng hành trong những
đêm ở rừng. Trăng trở thành người bạn tri kỉ, tình nghĩa khiến con người ngỡ không
bao giờ quên.
- Vầng trăng trong hiện tại (khổ 3,4,5):
+ Hoàn cảnh sống thay đổi, chiến tranh kết thúc, người lính trở về được sống trong
hòa bình với cuộc sống hiện đại, tiện nghi.
+ Thái độ của con người đã thay đổi, vô tình, lãng quên vầng trăng năm xưa "vầng
trăng đi qua ngõ/ như người dưng qua đường" bởi vì thời gian, điều kiện sống đã khác
biệt, trăng được thay bằng ánh điện cửa gương.
+ Cuộc gặp gỡ bất ngờ với vầng trăng: khi thình lình đèn điện tắt, vầng trăng làm
thức dậy trong tâm trí con người biết bao cảm xúc Ngửa mặt lên nhìn mặt/ có cái gì
rưng rưng. Con người xót xa, ân hận, day dứt. Rồi những kỉ niệm của vầng trăng năm
xưa lại trở về trong tâm trí như là đồng là bể / như là sông là rừng.
* Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh viết đúng kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
- Bố cục rõ ràng; diễn đạt lưu loát; trình bày sạch đẹp; ít lỗi câu, từ, chính tả.
*Yêu cầu về nội dung:
a.Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu vị trí của đoạn thơ
- Nhận xét, đánh giá đoạn thơ là lời tâm niệm chân thành, lời gửi gắm tha thiết của
nhà thơ Thanh Hải với cuộc đời.
b.Thân bài: Học sinh cần làm sáng tỏ được các sau:
- Lời tâm niệm của nhà thơ là khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống của đất
nước, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé của mình cho cuộc đời chung.
+ Ước nguyện được hóa thân làm con chim hót gọi xuân về, đem đến những niềm
vui, một cành hoa dâng hương sắc cho đời, một nốt trầm trong bản hòa ca vang
động của đất trời có độ dư vang, lan xa làm xao xuyến lòng người
+ Cái "ta" đã thay cho cái "tôi", ước nguyện của riêng mình đã hòa với khát vọng
chung của dân tộc
+ Với Thanh Hải, hóa thân là để hiến dâng, là để phục vụ cho cho một mục đích cao
cả: được làm "Một mùa xuân nho nhỏ" hiến những gì đẹp đẽ nhất của bản thân mình
cho mùa xuân của cuộc đời, cho cách mạng, cho đất nước, cho nhân dân (liên hệ với
cuộc đời tác giả)
+ Niềm khát khao được dâng hiến ấy càng có ý nghĩa và xúc động khi là ước
nguyện của một người đang nằm trên giường bệnh
- Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành, tha thiết trong những hình
ảnh thơ đẹp, giản dị, tự nhiên mà giàu sức gợi, giàu cảm xúc; với cách điệp cấu trúc
cú pháp, giọng thơ nhỏ nhẹ, khiêm nhường.
+ Hình ảnh thơ đẹp một cách tự nhiên, giản dị: "con chim", "cành hoa"
+ Nghệ thuật điệp ngữ, điệp cấu trúc: "ta làm", "ta nhập", "dù là" tạo âm điệu tha
thiết, sâu lắng, hình ảnh ẩn dụ "mùa xuân nho nhỏ" giàu sức gợi, giàu cảm xúc
+ Cách nói khiêm tốn, chân thành: "nho nhỏ", "lặng lẽ", "dâng cho đời" là lẽ sống
đẹp, cao cả