Sáng kiến kinh nghiệm 2014-2015
GV: Hoàng Thị Hà
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến: HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC CÁC
VĂN BẢN THƠ Ở NHÀ TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy học Ngữ văn THPT
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 25 tháng 02 năm 2015
4. Tác giả:
Họ và tên: Hoàng Thị Hà
Năm sinh: 30/01/1978
Nơi thường trú: Xóm 2- Hải Phương - Hải Hậu - Nam Định
Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy
học Ngữ văn.
Chức vụ công tác: Giáo viên THPT
Nơi làm việc: Trường THPTA Hải Hậu- Nam Định
Địa chỉ liên hệ: Xóm 2 - Hải Phương - Hải Hậu - Nam Định
Điện thoại: 0976610680
5. Đồng tác giả (nếu có)
Họ và tên:
Năm sinh:
Nơi thường trú:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ công tác:
Nơi làm việc:
Địa chỉ liên hệ:
Điện thoại:
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị : Trường THPTA Hải Hậu-Nam Định
Sáng kiến kinh nghiệm 2014-2015
GV: Hoàng Thị Hà
Giáo dục phổ thông nước ta thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo
dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học. Để đảm bảo được
điều đó, nhất định phải chuyển từ phương pháp dạy học theo ”lối truyền thụ một
chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, kĩ năng, hình thành năng lực
và phẩm chất của người học. Một trong những cách học phát huy được vai trò
chủ động, tích cực, sáng tạo là học qua trải nghiệm. Bởi tâm điểm của mọi sự
học là cách chúng ta xử lí những trải nghiệm có được, đặc biệt là sự chiêm
nghiệm sâu sắc về những trải nghiệm đó. Học thông qua trải nghiệm là một
phương pháp học tích cực, thích hợp cho mọi môn học đặc biệt là môn Ngữ văn
nhằm phát triển cho học sinh những năng lực đặc thù của môn học. Phương
pháp giáo dục trải nghiệm là một phương pháp tiếp cận chính cho việc học tập
lấy học sinh làm trung tâm. Phương pháp học qua trải nghiệm lôi cuốn học sinh
vào các hoạt động tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và ra quyết định trong
những hoàn cảnh cụ thể với từng cá nhân. Phương pháp này cũng tạo ra những
cơ hội để các em tổng kết và củng cố lại những ý tưởng và kĩ năng của mình
thông qua việc phản hồi, phân tích/chiêm nghiệm, cũng như ứng dụng những ý
tưởng và kĩ năng đã tiếp thu trong những tình huống mới. Thông qua hoạt động
trải nghiệm, nguồn kiến thức học sinh thu được sẽ hết sức phong phú, không chỉ
trong sách vở, từ thầy cô mà còn từ thực tế khiến việc học trở nên gắn bó với đời
sống. Hoạt động trải nghiệm trước đây đã được biết đến nhưng chủ yếu ở các
trường đại học, đó là những chuyến đi thực tế của sinh viên để làm sáng tỏ
những kiến thức lí thuyết sinh viên được học. Các nhà trường phổ thông trong
một vài năm gần đây bắt đầu đã chú ý tới học qua trải nghiệm. Tuy nhiên, các
hoạt động trải nghiệm trong các nhà trường vẫn còn mang tính hình thức do
được trải nghiệm trong tư duy để tìm con đường, cách thức tiếp cận văn bản,
được trải nghiệm trong những xúc cảm cá nhân để được rung đông trước vẻ đẹp
của thiên nhiên cuộc sống quanh mình, đồng cảm, rung động trước mọi buồn
4
Sáng kiến kinh nghiệm 2014-2015
GV: Hoàng Thị Hà
vui, yêu ghét – những rung động của nhà thơ trong tác phẩm và truyền những
rung động ấy đến được với những người xung quanh mình để hình thành năng
lực đặc thù của môn học: năng lực thẩm mĩ và năng lực giao tiếp tiếng Việt.
Ngoài ra, còn rèn luyện và phát triển một số năng lực chung (năng lực tự học,
năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực quản lí bản thân, năng
lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực ứng dụng
công nghệ thông tin). Hình thành những phẩm chất trí tuệ có ích trong học tập,
công tác và cuộc sống: Tính linh hoạt, tư duy phản biện, tính tích cực, chủ động,
sáng tạo, giải quyết vấn đề và ra quyết định trong những hoàn cảnh cụ thể.
II. Thực trạng (trước khi tạo ra sáng kiến).
Môn Ngữ văn trong nhà trường trong những năm qua là một môn học ít thu hút
được sự chú ý của học sinh. Phần vì nhu cầu thực dụng của người học về cơ hội thi đại
học, tìm kiếm việc làm, nhưng một nguyên nhân không thể không kể đến là nội dung
chương trình chương trình, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, ... chưa đáp ứng
được sự mong mỏi, chưa kích thích được niềm đam mê, sự yêu thích môn học.
- Về nội dung chương trình: Nội dung chương trình được xây dựng còn nặng
về những kiến thức hàn lâm, chưa gắn bó nhiều với thực tiễn cuộc sống, chưa
tạo được sự đối thoại giữa tác giả và người học, những kiến thức mà học sinh
cần đạt tới còn khép ở những nội dung mang tính áp đặt, chưa tạo được độ mở
để kích thích sự sáng tạo, những trải nghiệm thực tế của cá nhân. Có thể thấy
18% tổng thời lượng dành cho chương trình Ngữ văn.
Thơ Trung đại Việt Nam
- Thơ Nôm Đường luật “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương” (tiết 15), “Câu
cá mùa thu” (Thu điếu ) của Nguyễn Khuyến (tiết 16), “Thương vợ” (tiết 17,18),
Đọc thêm: “Vịnh khoa thi Hương” của Trần Tế Xương, “Khóc Dương Khuê”
(Nguyễn Khuyến) (tiết 19), “Chạy giặc” (Nguyễn Đình Chiểu) (tiết 23)
6
Sáng kiến kinh nghiệm 2014-2015
GV: Hoàng Thị Hà
- Thơ chữ Hán: “Sa hành đoản ca” (Bài ca ngắn đi trên bãi cát) của Cao
Bá Quát ( 21,22)
Hát nói trung đại Việt Nam: “Bài ca ngất ngưởng”của Nguyễn Công
Trứ (tiết 20), Bài ca Phong cảnh Hương Sơn” của Chu Mạnh Trinh( tiết 23).
Thơ hiện đại Việt Nam
- Thơ đầu thế kỷ: “Xuất dương lưu biệt” của Phan Bội Châu (tiết 76),
“Chiều tối” (Hồ Chí Minh) (tiết 82), “Từ ấy” (Tố Hữu) (tiết 83). Đọc thêm “ Lai
Tân” (Hồ Chí Minh”, “ Nhớ đồng” Tố Hữu ( tiết 82,83), “Hầu trời” (Tản Đà)
(tiết 77).
- Thơ Mới (1930-1945) : “ Vội vàng” (Xuân Diệu) (tiết 78), “ Tràng
giang” (Huy Cận) (Tiết 79), “ Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử) (tiết 80, 81). Các
bài đọc thêm: “ Tương tư” – Nguyễn Bính , “Chiều xuân” - Anh Thơ (tiết 84).
Thơ nước ngoài: “Tôi yêu em” (Pu-skin), đọc thêm “Bài thơ số 28”
(Tago) (tiết 85,86)
● Ở chương trình lớp 12: Số tiết dành cho đọc hiểu văn bản thơ là 13/105 tiết
chiếm khoảng 12,4 % thời lượng chương trình môn Ngữ văn bao gồm:
biến khá tích cực trong những năm gần đây, hướng tới những chuyển từ chương
trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, chuyển từ
phương pháp dạy học theo lối ” truyền thụ một chiều” sang cách vận dụng kiến
thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực, phẩm chất. Tuy nhiên kết quả vẫn
còn chưa được như sự mong đợi.
Các phương tiện dạy học chưa được sử dụng một cách hiệu quả, các kĩ
thuật dạy học hiện đại được áp dụng bước đầu đã mang lại những kết quả tích
cực nhưng sử dụng chưa linh hoạt, còn nặng tính hình thức.
Chưa có nhiều hình thức tổ chức dạy học, hình thức tổ chức dạy học trên
lớp hầu như vẫn chiếm địa vị ”độc tôn”, chưa chú ý tới các hoạt động xã hội,
8
Sáng kiến kinh nghiệm 2014-2015
GV: Hoàng Thị Hà
ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Chưa tổ chức được các hoạt động học tập
phong phú, đa dạng.
- Về phía người dạy
Như trên đã nói, do cách xây dựng nội dung chương trình và yêu cầu kiểm
tra, đánh giá, mặc dù nhiều giáo viên có ý thức về việc phải đổi mới nhưng lại
sợ và không dám đổi mới vì phải chạy đua với một lượng kiến thức khổng lồ,
thời gian trên lớp lại ít (vì số tiết cho bài học các tác phẩm có giảm so với trước
đây) cho nên dạy học môn Ngữ văn trong những năm qua vẫn còn những hiện
tượng sau đây:
+ Hiện tượng dạy học theo kiểu “đọc – chép” không chỉ diễn ra trước đây
mà vẫn còn diễn ra trong nhà trường hiện nay. Đọc chép trong giờ chính khoá và
trong các lò luyện thi. Thậm chí, ngay cả những giờ học sử dụng công nghệ
Giáo án soạn ra là để “giảng” biểu diễn trên lớp. Câu hỏi nếu có đưa ra chỉ có
chức năng gợi dẫn để truyền thụ kiến thức chứ không thiên về kích thích khơi
gợi tư duy học sinh. Văn học sáng tác ra cho người đọc, do đó môn học tác
phẩm văn học phải là môn dạy HS đọc văn, giúp học sinh hình thành kĩ năng
đọc văn trưởng thành thành người đọc có văn hoá chứ không phải là người biết
thưởng thức việc giảng bài của thầy.
Thứ hai, do phương pháp dạy học theo lối cung cấp kiến thức áp đặt, học
sinh phải thuộc kiến giải của thầy. Đây cũng là phương pháp phản sư phạm, bởi
vì bản chất học tập không phải là tiếp nhận những gì đưa trực tiếp từ ngoài vào
mà là sự kiến tạo tri thức mới trên cơ sở nhào nặn các dữ liệu mới và kinh
nghiệm đã được tích luỹ. Học tập thực chất không phải là học thuộc mà là tự
biến đổi tri thức của mình trên cơ sở các tác động của bên ngoài và hoạt động
của người học. Do đó việc áp đặt kiến thức chỉ có tác dụng tạm thời, học xong là
quên ngay, không để lại dấu ấn gì trong tâm khảm người đọc, không trở thành
kiến thức hữu cơ của một bộ óc biết suy nghĩ và phát triển.
10
Sáng kiến kinh nghiệm 2014-2015
GV: Hoàng Thị Hà
Thứ ba, chưa xem học sinh là chủ thể của hoạt động đọc văn, chưa trao cho
các em tính chủ động trong học tập. Coi HS là chủ thể của hoạt động học tập của
mình thì học sinh phải là người chủ động tạo kiến thức của mình mà giáo viên
chỉ là người tổ chức điều khiển. Giáo án của giáo viên phải là kế hoạch hoạt
động của HS để tự kiến tạo kiến thức.
Thứ tư, chưa xem dạy học tác phẩm là dạy đọc văn, một hoạt động có quy
luật riêng của nó. Nhiều tài liệu thường nói, dạy học văn là dạy cảm thụ văn học.
Nói như vậy chưa thật chính xác, bởi vì HS không chỉ cảm thụ dòng chữ in mà
phổ thông.
Chương III. THỰC NGHIỆM.
Điểm mới của đề tài: Sử dụng chu trình học qua trải nghiệm như một
phương pháp dạy học để thiết kế bài dạy đọc – hiểu văn bản thơ ở nhà
trường THPT theo định hướng phát triển năng lực.
NỘI DỤNG CỤ THỂ CỦA GIẢI PHÁP
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÍ LUẬN
3.1.1. Khái niệm hoạt động trải nghiệm:
12
Sáng kiến kinh nghiệm 2014-2015
GV: Hoàng Thị Hà
Từ điển tiếng Việt giải nghĩa: Trải nghiệm là trải qua, kinh qua [7;1020].
Hoạt động trải nghiệm là một hệ thống những việc làm được trải qua, kinh qua
nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội.
Học qua trải nghiệm là quá trình học tập được trải qua những việc làm
mô phỏng thực tế, có tính thực hành vận, dụng cao từ đó đúc kết những kinh
nghiệm cho bản thân làm sáng tỏ hơn các lí thuyết đã học. Học tập qua trải
nghiệm là một quá trình phát triển kiến thức, kĩ năng và thái độ dựa trên những
suy nghĩ có ý thức về trải nghiệm đó. Vì vậy, phương pháp này bao gồm những
trải nghiệm cá nhân mang tính trực tiếp và chủ động, kết hợp với sự phân tích,
chiêm nghiệm và phản hồi. Học tập qua trải nghiệm về bản chất mang tính cá
nhân và có tính hiệu quả, tác động tới cả tình cảm và cảm xúc cũng như nâng
cao kiến thức và kĩ năng. Theo Kolb các quá trình học tập có thể được chia
thành 4 nhóm cơ bản phù hợp với 4 nhóm học tập (kiểu học) khác nhau. (1)
- Tăng cường việc dạy học và hợp tác, dạy học khám phá - phát hiện, trao đổi
thảo luận trong nhóm nhỏ.
- Bồi dưỡng khuyến khích học sinh tự học, tự khám phá - phát hiện và giải quyết
vấn đề.
Mô hình dạy học theo lối kiến tạo: Gồm các pha chính sau đây.
Tri thức → dự đoán → kiểm nghiệm (thử sai) → điều chỉnh → tri thức mới.
Quy trình của việc dạy học theo kiểu này bao gồm những bước như sau:
- Ôn tập tái hiện.
- Nêu vấn đề (có thể từ giáo viên hoặc học sinh).
- Tập hợp các ý tưởng của học sinh, so sánh các ý tưởng đó và đề xuất một
ý tưởng chung của cả lớp hoặc nhóm.
- Dự đoán (đề xuất giả thuyết)
- Học sinh kiểm tra giả thuyết (thử sai)
- Học sinh phân tích kết quả, trình bày cho nhóm hoặc cả lớp.
14
Sáng kiến kinh nghiệm 2014-2015
GV: Hoàng Thị Hà
- Rút ra kết luận chung (tri thức mới)
Các nhà tâm lý học theo trường phái nhận thức quan tâm tới việc học sinh
tự mình suy xét hơn là chỉ ghi nhớ những gì người ta nói với các em.
Hãy sử dụng các ý tưởng kiến tạo trong thực tế yêu cầu học sinh giải quyết vấn
đề, đưa ra quyết định, hình thành ý kiến, tham gia thiết kế hoặc công việc sáng
tạo.
Vì vậy, bằng những hoạt động trải nghiệm thực tế, học sinh có thể quan
sát, phân tích suy ngẫm, chiêm nghiệm để kiến tạo kiến thức, kĩ năng, thái độ
hình thành năng lực phẩm chất của người học. Dạy học Ngữ văn nói chung và
cảm, cảm nhận của con người trước sự việc, giúp ta hiểu con người ở chủ thể
bên trong. Tình cảm trong thơ phải là tình cảm lớn, tình cảm đẹp, cao thượng
thấm nhuần bản chất nhân văn, chính nghĩa.
Thứ hai, thơ giàu liên tưởng, tưởng tượng (thơ - nghệ thuật của trí tưởng
tượng). Thơ không xây dựng các hình tượng khách thể như nhân vật trong
truyện hay kịch, kí, mà xây dựng hình tượng của bản thân dòng ý thức, cảm xúc
đang diễn ra, vì thế tưởng tượng ở đây chủ yếu là liên tưởng, giả tưởng, huyễn
tưởng
Thứ ba, tình cảm trong thơ mang tính cá thể hoá. Thơ bao giờ cũng tự biểu
hiện cái tôi tác giả của nó, dù nhà thơ có ý thức điều đó hay không. Qua từng
trang thơ, dòng thơ, người đọc cảm thấy được, thậm chí tiếp xúc được trực tiếp
với một cá tính, một cuộc đời, một tâm hồn. Nhưng đó là cái tôi thứ hai của tác
giả, không phải cái tôi đời thường của thi sĩ. Thơ gắn với ý niệm về cái tôi thi
nhân của nhà thơ là một điều hiển nhiên. Vì thế, mặc dù giữa đời sống của tác
giả và tác phẩm, không phải là mối quan hệ nhân quả trực tiếp, song tìm hiểu cá
tính, khí chất và cuộc đời thi nhân vẫn có ý nghĩa quan trọng góp phần tìm hiểu
được nét riêng của thơ. Cái tôi là yếu tố tất yếu để chiếm lĩnh đời sống, nhưng
không có nghĩa rằng cái tôi là nội dung của thơ. Nội dung của thơ phải mang ý
16
Sáng kiến kinh nghiệm 2014-2015
GV: Hoàng Thị Hà
nghĩa nhân loại. Thơ cần tình cảm, nhưng tình cảm trong thơ không phải tình
cảm cá nhân, mà là tình cảm xã hội, nhân loại, nhưng cá nhân tạo nên cá tính
cho tình cảm ấy.
Thứ tư, chất thơ của thơ. Thơ không nói những điều nó viết ra mà nói ở
những chỗ trống không viết ra, ở chỗ trắng, chỗ im lặng giữa các chữ, các lời.
vỡ liên kết lôgic thông thường của ngôn từ để tạo thành kết hợp mới bất ngờ
theo nguyên tắc lạ hoá. Những kết hợp lạ hoá tạo ra nhiều cảm xúc, cảm giác chỉ
có trong thơ.
Thứ ba, ngôn từ thơ giàu tính nhạc với những âm thanh luyến láy, những từ
trùng điệp, sự phối hợp bằng trắc và những cách ngắt nhịp có giá trị gợi cảm.
Tìm hiểu thể loại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giúp người dạy và người
học giải mã tác phẩm văn học và tìm ra con đường giải mã tác phẩm văn học
một cách chính xác khách quan. Trong nhà trường trước đây, thường bỏ qua
hoặc xem nhẹ việc tìm hiểu thể loại trong quá trình phân tích cảm thụ tác phẩm
văn học. Ví dụ dạy thơ hiện đại và dạy ca dao giống hệt nhau, dạy thơ hiện đại
và thơ trung đại cũng áp dụng những tiêu chí giống nhau. Thực ra, mỗi kiểu loại
có con đường và cách tiếp nhận, thế giới nghệ thuật riêng. Và trong quá trình
vận động của văn học nó cũng có những biến động nhất định. Chúng ta phải đặt
tác phẩm trong cái phông nền của phương thức sáng tác để tìm ra phương thức
chung, nét độc đáo riêng của biệt của tác phẩm. Từ đó tìm ra cách chiếm lĩnh “
loại”, “kiểu” tác phẩm để hình thành kỹ năng tư duy, giải quyết vấn đề cùng với
phương thức chiếm lĩnh khác về nội dung văn bản và sự hỗ trợ của các phương
tiện, phương pháp dạy học khác để hình thành phương pháp, năng lực tư duy
cho người học. Các hoạt động trải nghiệm để giúp học sinh chiếm lĩnh văn bản
theo đó cũng phải phù hợp với đặc trưng thể loại nhằm hình thành cho người
học kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ, hình thành năng lực cảm thụ tác phẩm thơ,
năng lực giải quyết vấn đề, năng lực làm chủ bản thân…cho người học.
18
Sáng kiến kinh nghiệm 2014-2015
GV: Hoàng Thị Hà
3.1.5. Dạy học văn bản thơ trong nhà trường trung học phổ thông
• Hình thức biểu hiện có gì mới mẻ và sáng tạo, độc đáo?
Vấn đề nghiên cứu được đề ra trong sáng kiến: Hệ thống những
hoạt động trải nghiệm nào sẽ được sử dụng trong dạy học các văn bản thơ để
phát triển năng cho người học?
Giả thuyết nghiên cứu là: Những hoạt động trải nghiệm sẽ được sử
dụng để dạy một văn bản thơ ở trường THPT là: Đặt ra hệ thống các câu hỏi,
bài tập, thi đọc thơ ngâm thơ, hát, tổ chức trò chơi…nhằm huy động những
kiến thức kinh nghiệm sẵn có (đã trải qua), phân tích, chiêm nghiệm để hình
thành kiến thức bài học mới. Sau đó tiến hành những hoạt động thực hành,
ứng dụng,
bổ sung từ thực tế để làm sáng tỏ hơn lí thuyết đã học và bổ sung cho kiến
thức bài học toàn diện hơn nhằm hình thành các năng lực, phẩm chất của
người học.
CHƯƠNG II
DẠY HỌC THEO CHU TRÌNH HỌC QUA TRẢI NGHIỆM
CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT
3.2.2. Quy trình học qua trải nghiệm:
Thông thường theo cách dạy truyền thống, giáo viên thường bắt đầu
bài giảng từ các khái niệm có tính chất khái quát hoặc trừu tượng trước khi cho
20
Sáng kiến kinh nghiệm 2014-2015
GV: Hoàng Thị Hà
người học được thực hành hoặc làm các việc từ thực tế. Tuy nhiên đối với cách
tiếp cận theo lối dạy học kiến tạo thì hoạt động trải nghiệm được xem là hoạt
xảy ra chứa đựng
vấn đề cần quan
tâm)
Áp dụng (thay đổi
cách nhìn cũ, thử
nghiệm cách làm
mới)
Khái quát rút ra bài
học, tìm xu hướng
lí luận chung, kinh
nghiệm đã trải qua
đúc kết thành khái
niệm lí thuyết
Phântích, chiêm
nghiệm (Nhìn lại
kinh nghiệm đã
trải qua, phát hiện
ra những đặc điểm,
ý nghĩa của những
kinh nghiệm đó)
Sơ đồ chu trình học qua trải nghiệm
Hướng dẫn học qua trải nghiệm
Trải nghiệm
Tổ chức hoạt động và đưa ra các hướng dẫn rõ ràng
Trao đổi rõ ràng mọi rủi ro
Tạo một môi trường an toàn về cả thể chất và tinh thần
Trả lời các câu hỏi, thắc mắc trước và trong khi diễn ra hoạt động
•
Đưa ra phản hồi, đánh giá một cách tích cực và cởi mở
•
Yêu cầu học sinh nêu lên những điều mà các em quan tâm hơn là nói với
họ những điều GV mong đợi.
Ứng dụng
Yêu cầu học sinh nêu những cách thức áp dụng những điều vừa mới học
Hướng dẫn các em xác định bất kỳ thay đổi hành vi nào mà các em có thể
làm sau hoạt động trải nghiệm này
Tạo thêm những cơ hội để các em có thể áp dụng hoặc bàn luận những
điều các em học được với những người khác.
Theo chúng tôi hai phương pháp dạy học giúp học tập qua trải nghiệm một cách
hiệu quả là phương pháp dạy học dự án và phương pháp nghiên cứu tình huống.
3.2.3. Thiết kế bài dạy theo chu trình học qua trải nghiệm văn bản thơ trong
nhà trường THPT theo định hướng phát triển năng lực.
3.2.3.1. Phân tích đối tượng học sinh.
Trong việc thiết kế dạy học theo chu trình học qua trải nghiệm, giáo viên cần
phân tích kĩ đối tượng HS, HS đã học những loại, thể văn bản thơ nào, đã được
học những văn bản thơ nào trong nhóm, loại thể mà học sinh đang nghiên cứu,
học sinh đã được học các bài lí luận về thể loại hay chưa?
23
Sáng kiến kinh nghiệm 2014-2015
GV: Hoàng Thị Hà
GV: Hoàng Thị Hà
- Biết vận dụng những hiểu biết đó vào bài làm văn phân tích, cảm thụ tác
phẩm.
Sau bài học này:
Học sinh Trung bình, Yếu sẽ: Biết phân tích tác phẩm thơ theo thể loại dưới
sự định hướng của giáo viên.
Học sinh khá, giỏi sẽ tự phân tích được các tác phẩm thơ theo thể loại đã học.
3.2.3.3. Thiết kế bài học.
Trải nghiệm ở hoạt động khởi động:
Trong hoạt động khởi động, người giáo viên cần đưa học sinh vào trải
nghiệm một vấn đề từ thực tiễn đời sống có liên quan đến nội dung bài học để
huy động vốn sống, vốn hiểu biết, kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng để chuẩn bị
tiếp nhận kiến thức và kĩ năng mới. Tạo hứng thú khi bước vào bài học mới. Tạo
được những rung động thẩm mĩ, bầu không khí văn chương, khơi gợi những
cảm xúc, kích thích những đam mê, khát khao tìm tòi, khám phá khi học sinh
chuẩn bị bước vào bài học mới.
Các nội dung và hình thức trải nghiệm ở hoạt động này:
- Câu hỏi, bài tập: Có thể quan sát tranh/ ảnh để trao đổi với nhau về một vấn
đề nào đó có liên quan đến bài học; hoặc trực tiếp ôn lại kiến thức đã học ở cấp/
lớp dưới, thiết kế dưới dạng kết nối hoặc những câu hỏi đơn giản, nhẹ nhàng.
- Thi đọc, ngâm thơ, hát...: Một số hoạt động yêu cầu học sinh đọc diễn cảm,
ngâm thơ hoặc hát về chủ đề có liên quan đến bài học. Các hoạt động này trong
một số trường hợp được thiết kế thành các cuộc thi, nhằm tạo ra không khí sôi
nổi, hứng thú trước khi tiến hành học bài mới.
- Trò chơi: Một số trò chơi trong hoạt động khởi động có nội dung gắn với
bài học.
25