Giải cấu trúc và nghiên cứu phê bình văn học - Pdf 24

Giải cấu trúc và nghiên cứu, phê bình
văn học

Giải cấu trúc là một trào lưu tư tưởng hậu hiện đại trong khoa học xã hội và
nhân văn, xuất hiện ở phương Tây từ cuối những năm 60, kéo dài cho đến cuối
thế kỉ XX, nhưng có ảnh hưởng rộng lớn toàn thế giới. Đó là những năm thế
giới chìm trong các mâu thuẫn và đảo lộn, đòi hỏi có sự phản tư phản tỉnh về tư
tưởng, văn hóa: hệ thống thuộc địa tan rã, chiến tranh Việt Nam của Mĩ đi vào
ngõ cụt không lối thoát, mâu thuẫn tư tưởng Trung Xô, Trung Quốc cách mạng
văn hóa. Cuối những năm 70 cách mạng văn hóc Trung Quốc kết thúc thì
phong trào Cải tổ nổi lên ở Nga cho đến khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp
đổ. Cũng vào khoảng giữa những năm 80 Việt Nam bước vào thời kì Đổi mới.
Giải cấu trúc gắn liền với những biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội toàn cầu
ở thế kỉ XX.
Tuy có muộn màng, song nếu ai lưu ý thì sẽ thấy ở Việt Nam cũng có chút ít
dấu hiệu của giải cấu trúc. Bản thân chúng tôi và một số người khác từ những
năm 80 thế kỉ trước đã đề xuất việc thay đổi hệ hình lí luận, tư duy, phê bình,
bắt đầu thực hành giải cấu trúc về tính giai cấp, về chủ nghĩa hiện thực xã hội
chủ nghĩa, chúng tôi đã tiến hành giải cấu trúc lí thuyết điển hình và đánh giá
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, một hiện tượng sáng tác mới mẻ lúc ấy, mà
với lí luận cũ, người ta lúng túng mãi không giả thích được. (Xem Tính nhân
loại và văn học viết năm 1983[1], Bến quê, một phong cách trần thuật có chiều
sâu,1987[2]).Trong những năm gần đây chúng tôi tiến hành giải cấu trúc các lí
thuyết cũ, nhận thức tính huyền thoại của chúng (Xem Lã Nguyên. Lí luận Nga
xô viết thời hậu kì, Trần Đình Sử. Lí luận văn học: khủng hoảng và lối
thoát…). Chính nhờ những hoạt động giải cấu trúc như thế đã góp phần thúc
đẩy quá trình giải thiêng các lí luận ngự trị một thời, mở đường đổi mới lí luận
văn học, khắc phục các nhận thức trì trệ. Nhưng, như mọi người đều biết, tư
tưởng mới khi được du nhập thường có hiện tượng bị hiểu lầm, như có nhà phê
bình cho rằng giải cấu trúc là phi cấu trúc, là tự do khỏi mọi cấu trúc, là không
cần khoa học, phá hủy tác phẩm…vì vậy thiết nghĩ cần giới thiệu cho rõ.

độc tôn.
Trong hệ thống triết học phương Tây có một trung tâm mà cấu trúc dựa vào
đó để duy trì bản thân. Nó quy định phép tắc, hạn chế hoạt động, mà không bị
chế ước, nhưng lại không gì thay thế trung tâm đó được. Ông chỉ ra một nghịch
lí là trung tâm vừa ở trong cấu trúc, vừa ở ngoài cấu trúc, do đó, trung tâm
không còn là trung tâm nữa. Ví dụ ở phương Tây từ trung cổ đến thế kỉ XVIII
thần là trung tâm; từ thế kỉ XVIII dén thế kỉ XIX lí tính là trung tâm; từ thế kỉ
XIX đến những năm 60 cái tôi, vô thức là trung tâm…Có thể nói, sau Derrida
về mặt lí thuyết cái trung tâm lần lượt bị giải trừ.
Dĩ nhiên không có chủ nghĩa cấu trúc thì không có chủ nghĩa giải cấu trúc. Chủ
nghĩa cấu trúc coi ngôn ngữ là hệ thống tự nó hoàn thiện, ổn định, bất biến.
Chủ nghĩa cấu trúc coi cấu trúc ngôn ngữ sinh thành ý nghĩa, cấu trúc là trung
tâm. Cấu trúc của kí hiệu gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt do Saussure đưa
ra như là cấu trúc biểu đạt nghĩa cố định. Derrida chứng minh rằng trong thực
tế cái biểu đạt vượt lên trên cái được biểu đạt. ở đó, người ta chỉ có quan hệ giữa
cái biểu đạt và những cái biểu đạt khác, còn cái được biểu đạt thì mịt mù, phần
nhiều cứ bị trì hoãn mãi. Chẳng hạn khi trong phê bình ta nói tác phẩm A là
phản động, thì hai chữ “phản động” cũng chỉ là một “cái biểu đạt” mà người đọc
đưa ra mà thôi, còn “cái được biểu đạt”, tức là cái thực chất phản động của nó
trên thực tế như thế nào thì có thể được giải thích muôn hình muôn vẻ, mỗi
người nói một khác. Mà mọi sự giải thích như thế suy cho cùng cũng chỉ là
những cái biểu đạt. Như thế việc tìm nghĩa (cái được biểu đạt) tưởng là giản
đơn, hoá ra hết sức phức tạp, nó cứ bị trì hoãn, kéo dài ra mãi, không dứt được.
Như thế nghĩa của văn bản biểu hiện trong quá trình chơi không bao giờ dứt.
Hóa ra trung tâm của ngôn ngữ không phải là cái được biểu đạt, vì nó không cố
định, mà lại là cái biểu đạt. Ở đây Derrida gặp gỡ với nhà phân tâm học Pháp
J.Lacan, người cũng chủ trương cái biểu đạt trôi trượt, bởi vì cội nguồn của
ngôn ngữ là vô thức, cho nên con người không thể khống chế được ngôn ngữ.
Derrida không chỉ giải cấu trúc “trung tâm nhất nguyên”, ông còn giải cấu trúc
“đối lập nhị nguyên” nữa. Triết học phương Tây có truyền thống đối lập nhị

không, hoặc là lời mỉa mai, biết tỏng là anh ta không bê nổi. Như thế muốn
hiểu nghĩa mà chỉ dựa vào cấu trúc ngôn từ thì không đủ.
Thứ tư là lí thuyết liên văn bản. Lí thuyết này được gợi ý từ chủ nghĩa đối
thoại của nhà lí luận văn học Nga M. Bakhtin, nhưng được phát triển bởi nhiều
người, từ Kristeva, Bloom, de Man, Miller, Genette, Riffater…Trước đây hễ nói
tới văn chương người ta nói đến tính độc đáo, độc nhất vô nhị của sáng tác của
tác giả. Nhưng với lí thuyết liên văn bản thì mọi sáng tác đều có sự lặp lại, lấy
lại, mượn lại ý tưởng, ngôn từ, kết cấu, cốt truyện… của các nhà văn có trước rồi
biến đổi đi, cấu tạo lại để làm ra cái mới. Như thê muốn hiểu nghĩa của tác
phẩm còn cần phải so sánh đối chiếu, phân tích nhiều mối quan hệ với vô vàn
văn bản khác mới có thể xác định, chứ chỉ riêng cấu trúc của nó thì cũng chưa
đủ. Tính độc đáo không tuyệt đối như người ta tưởng.
Đáng chú ý là quan điểm của M. Foucault, nhà sử học, xã hội học Pháp đề
xuất lí thuyết diễn ngôn. Trong lí thuyết này ông quan tâm mối quan hệ giữa
chủ thể và diễn ngôn. Ông khẳng định rằng tác phẩm không phải là cái vật
mang tư tưởng riêng của cá nhân nhà văn. Bởi vì con người với tư cách là chủ
thể của diễn ngôn là do diễn ngôn tạo ra. Quan niệm này cũng gióng như tư
tưởng của K. Jung, người chủ trương văn học do vô thức tập thể tạo ra, không
phải Goethe sáng tạo ra Fauste, mà là Fauste sáng tạo ra Goethe. Trong văn
học Việt Nam ta có thể tìm thấy một ví dụ thuyết phục, đó là thơ thế tục của Hồ
Xuân Hương, không phải do thi sĩ họ Hồ tạo ra, mà do vô thức tập thể tạo ra.
Không phải Hồ Xuân Hương tạo ra hoài niệm phồn thực, mà chính là hoài
niệm phồn thức đã tạo nên gương mặt thế tục của bà. Như vậy theo Foucault,
một khi tạo ra tác phẩm, tác giả chỉ còn là một bộ phận mang chức năng của tác
phẩm.
Toàn bộ các lí thuyết nêu trên làm nên khuynh hướng “giải cấu trúc”, như
thế giải cấu trúc không có nghĩa là phá huỷ cấu trúc, không có nghĩa là người ta
tự do thoát khỏi cấu trúc để mà muốn nói gì thì nói một cách tuỳ tiện. Giải cấu
trúc là giải trừ cái cấu trúc cố định để phơi bày ra cái cấu trúc mâu thuẫn ở bên
trong, để thấy ý nghĩa của cấu trúc không ổn định, từ đó phát hiện nhiều ý

lí.”) Hai, do nhu cầu vạch ra cái sai, cái nhầm để khẳng định cái đúng mà người
ta hay cho cách đọc này hay hơn cách đọc kia, nhưng thực tế mọi cách đọc đều
bị giới hạn bởi cách đọc có trước, bị hoàn cảnh lịch sử trói buộc, phải chỉ ra
được các điều kiện đó thì mới chỉ ra được đâu là mù quáng, đâu là sáng tạo.
Quả là ranh giới giữa chân/nguỵ, mù quáng/sáng tạo, đọc đúng/đọc nhầm là
quan trọng, nhưng sự phận biệt đó dù thế nào vẫn không thể cho phép ta nói
như đinh đóng cột về chân lí hay sáng kiến của mình phát hiện. Ba, trong sự
đánh giá văn học de Man vẫn nghiêng về phía đề cao các tác phẩm kinh điển, vì
đó là bộ phận nền tảng của lịch sử văn học. Tác phẩm càng vĩ đại thì nó càng là
cơ sở để người ta chỉ ra lối đọc trước đó là hạn chế và nhầm lẫn. Làm việc với
các tác phẩm kinh điển, nhà phê bình có được địa vị ưu tiên, càng có cơ chứng
mình cách đọc mới của mình là ưu việt. Nietzsche, Rousseau, Shelley,
Baudelaire, Hodeline, Kunderra…đều đã làm như vậy, và do nêu ra được chân
lí mà họ được tôn sùng. Như vậy phát hiện cái mới đã là giải cấu trúc cái
cũ. Bốn, quá trình phê bình do đó mà không thể tránh được sự lặp lại. De Man
đọc lại Rousseau, vạch ra nhầm lẫn mà khẳng định cái mới của ông. Nhưng
trong khi đam mê diễn giải cái mới nguời ta lại rât dễ sa vào mù quáng, tức là
vấp phải sai lầm mới. Theo de Man, cả Rousseau, cả R. Jauss… đêu không
tránh khỏi điều đó. Đó là luận điểm chính của ông trong tiểu luận Mù tôi và
bừng ngộ. Tư tưởng của de Man cho thấy đọc nhầm là số phận không thể tránh
được của phê bình, nghiên cứu văn học. Nhưng điều đó không phải là để dẫn
đến tư tưởng hư vô chủ nghĩa. J. Culler trong lời kết của cuốn sách Bàn về giải
cấu trúc (1983) đã viết: “Những lời dối trá cho rằng giải cấu trúc là huỷ hoại
văn học, khích lệ người đọc đi tự do tuỳ tiện liên tưởng, xoá bỏ ý nghĩa và nội
dung biểu đạt, người ta chỉ cần đọc qua một số ví dụ trong vô vàn mẫu mực của
phê bình giải cấu trúc, thì có thể thấy ngay đó là sự bịa đặt đến mức buồn cười.
Có lẽ tốt nhất, nên hiểu những lời đồn đại ấy như là một lập trường phòng vệ
nhằm chống lại các nhà phê bình giải cấu trúc phơi bày chân tướng của ngôn
ngữ và thế giới trong các tác phẩm mà họ phân tích.” Lời kết này cho thấy, giải
cấu trúc đâu có phản đối chân lí, cái thiện, cái đẹp. Nó chỉ giải cấu trúc các

kết mà khám ý nghĩa, tìm ra vô khối nghĩa.
Giải cấu trúc đem lại cái gì mới cho phê bình văn học hôm nay? Giải cấu
trúc trước hết là phản tư tính hiện đại. Tính hiện đại từ thời Khai sáng, cùng với
tinh thần lí tính, tinh thần nhân văn, sùng thượng khoa học đã đi tới sùng bái
tính phổ quát, lấy phổ quát làm trung tâm. Mọi nhận thức cụ thể đều bị chi
phối bởi tính phổ quát, khiến cho phổ quát che lấp chân lí cụ thể. Giai cấu trúc
là giải cái trung tâm phổ quát, hướng tới phát hiện lại chân lí cụ thể. Đối tượng
chủ yếu của giải cấu trúc trước hết chính là phê bình, nghiên cứu văn học, lí
luận văn học, văn học sử, phương Đông học, các thứ tiểu luận và các thứ lí luận
nói chung…là nơi đầy rẫy những quy luật, những nguyên lí, những nhận định
đúng sai chắc như đinh đóng cột hoặc tuỳ tiện, mơ hồ, nói chung mang định
kiến “cái phổ quát” của cả một thời. Giải cấu trúc đem lại một ý thức phản tư.
Nó muốn soát xét lại tất cả, không trừ một chỗ nào, mọi nguyên lí, định lí,
nguyên tắc, phương pháp, nhận định, khái niệm, làm rõ những điểm mù, tìm
đến các khía cạnh mới, hợp lí. Giải cấu trúc đòi hỏi phải viết lại văn học sử, viết
lại lí luận, đọc lại người trước với tinh thần khoa học, phát hiện mọi ngộ nhận,
mọi thành kiến, phát hiện những nhận thức mới, chân lí mới, đưa người đọc
vào những tìm tòi mới.
Giải cấu trúc theo trường phái Mĩ giống như phê bình tác phẩm văn học theo
lối đọc kĩ (Close Reading), phơi bày những tư tưởng, cấu trúc, ngôn từ “bị bỏ
sót”, những “nghĩa đang ngủ yên trong văn bản” nhằm phát hiện ý nghĩa mới…
Nó cũng vạch ra những ý tưởng xem ra là mới mà kì tình rất cũ, vạch ra các liên
văn bản được lắp ghép khéo léo vào các sáng tác mới, những bắt chước vụng về,
những lối mòn quen thuộc.
Giải cấu trúc cũng cần cho nhà trường, từ trung học đến đại học. Bởi vì linh hồn
của giải cấu trúc là tinh thần phê phán, là sự phản tỉnh, ý thức hoài nghi khoa
học. Văn chương là lĩnh vực giàu tinh thần phê phán, phản tỉnh và phê phán
nhất. Thiếu tinh thần phê phán và phản tỉnh về văn chương và xã hôị thì đọc
văn, học văn làm sao được?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status