Hệ hình phê bình văn học Trung Quốc-
từ chính trị sang thẩm mĩ, học thuật
Lời người nghiên cứu: Bài nghiên cứu này tổng kết các đặc điểm
và tính chất của phê bình cách mạng Trung Quốc từ năm 1949 qua
17 năm xây dựng “văn nghệ xã hội chủ nghĩa” và Cách mạng văn
hóa cho đến nay. Bạn đọc nhạy cảm sẽ thấy ngay đó cũng là đạc
điểm và tính chất của nền phê bình văn học Việt Nam từ sau 1945
cho đến nay.Phê bình văn học “cách mạng” Trung Quốc là tấm
gương cho ta soi thấy phần nào tình trạng của ta trong một thời
gian dài.
Mọi người đều biết, phê bình văn học hiện đại Trung Quốc trước
năm 1949 đã tác động để dưa nền văn học nước này từ trung đại (tiền
hiện đại) sang hiện đại. Nền phê bình văn học theo tư tưởng Mao đã
đóng vai trò thúc đấy để dưa văn học hiện đại (đầu thế kỉ XX – 1949)
sang nền văn học chính trị hóa cực tả (từ 1949 về sau). Kinh nghiện
lịch sử cho thấy vai trò thổi phồng, bóp méo, hạ bệ của phê bình văn
học trong thời này là nhân tố khiến cho văn học phát triển không
bình thường.
Phê bình văn học với tư cách là một hoạt động thực tiễn xã hội, từ
những năm 40 tại khu giải phóng Diên An đã dự báo con đường phát
triển của văn học chính trị tả khuynh. Dự báo này đã thấy trước từ
hoạt động của các nhà lí luận mác xít như Chu Dương, Phùng Tuyết
Phong những năm 30. Mặc dù khái niệm “văn học xã hội chủ nghĩa”
nay đã thay đổi khác trước về nội dung, song trong một thời gian dài,
phê bình thực hiện chức năng diễn giải giá trị hạt nhân của chế độ
văn học đương đại. Từ năm 1949, tại đại hội văn nghệ lần thứ nhất
trong báo cáo Văn nghệ nhân dân mới, Chu Dương đã khẳng định,
phê bình là phương pháp quan trọng để lãnh đạo tư tưởng đối với văn
nghệ: “Xây dựng một nền phê bình văn nghệ khoa học nhằm thực
đạo, thì cần gì tính khoa học, tính biện chứng, tính nghệ thuật nữa!
Theo nghiên cứu của Vương Nhiêu và Lâm Kiến Phát đội ngũ nhà
phê bình trong mấy chục năm trước đổi mới có mấy điểm rất đáng
chú ý. Nhìn chung nhà phê bình chuyên nghịêp hầu như rất hiếm. 1.
Các nhà lí luận như Chu Dương, Phùng Tuyết Phong, Thiệu Thuyên
Lân, Hầu Kim Kính, Hà Kì Phương, Trương Quang Niên…tuy trình
độ lí luận cao, nổi tiếng từ những năm 30, họ là nhà lí luận, nhà cách
mạng, nhà lãnh đạo, cho nên chỉ viết các bài chỉ đạo, ít viết phê bình.
2. Các nhà biên tập cũng ít viết phê bình, nhưng thường viết những
lời “sa pô” có tính chất chỉ đạo phê bình, kêu gọi phê bình lên đầu các
bài báo. 3. “Thư bạn đọc” do những “người đọc dặc biệt” viết, có khi
là hoá thân của lãnh tụ như Mao, nhân danh nhân dân để chỉ đạo cần
phê phán vấn đề này, quan tâm vấn đề kia. Các báo thời đó rất nể
trọng “ý kiến bạn đọc”. Tất nhiên đây không phải là bạn đọc theo ý
nghĩa của mĩ học tiếp nhận mà là người quyền uy núp bóng quần
chúng để chỉ đạo. 4. Còn những ngưòi viết phê bình phần lớn đều là
cán bộ chính trị, quản lí, phi chuyên nghiệp, chỉ biết đường lối, ít biết
văn nghệ, chỉ chụp mũ, suy diễn giáo điều là tài. 5. Trong thời kì cách
mạng văn hoá lại có loại “tiểu tổ phê bình”, do một nhóm “quần
chúng” tổ chức ý kiến phê phán, viết báo chữ to dán khắp các tường
nhà, đường phố. Một nền phê bình văn học do các nhà phê bình như
thế viết ra thì có bao nhiêu giá trị khoa học và nghệ thuật? Phê bình
đồng nghĩa với hãm hại. Trong thời kì thống trị của phê bình ý thức
hệ chủ lưu tức chính trị như thế vai trò phê bình của cá nhân bị tước
bỏ và bị tập thể thay thế. Tình hình này còn tiếp tục cho đến cuối
những năm 70 đầu những năm 80. Từ thảo luận “văn học vết thương”
đến chất vấn khẩu hiệu “văn học tòng thuộc chính trị” đều là bài viết
của các nhà lãnh đạo hay các nhà văn, nhà lí luận văn nghệ. Trong
những năm đó vai trò của các ông như Chu Dương, Hạ Diễn, Mao
Thuẫn, Trương Quang Niên, Hạ Kính Chi, Trần Hoang Môi, Lâm
học giả trẻ các trường, viện chiếm đa số. Không ít nhà phê bình ngoài
trường cũng thay hình đổi dạng để trở thành giáo sư kiêm nhiệm,
đằng sau không tránh được có nguyên nhân kinh tế. Lương cao của
các giáo sư ở các đại học là một sự hấp dẫn. Nhưng điều quan trọng là
thực tế phê bình bây giờ hơn lúc nào hết đòi hỏi có sự nâng đỡ của tri
thức khoa học. Phê bình cảm tính, bản năng không có sức thuyết
phục nữa. Phê bình của các trường đại học và học viện là trụ cột làm
cho phê bình văn học lành mạnh[1]. Tác giả Hầu Văn Nghi nhân xét
loại phê bình này trầm tĩnh, nêu các vấn đề học thuật, không nôn
nóng, không ồn ào, không tự đánh bóng, là một phong khí chưa từng
có. Tác giả nêu một số tên tuổi như Trịnh Mẫn, Hồng Tử Thành, Nam
Phàm, Trần Tư Hoà, Hoàng Tử Bình, Hạ Trung Nghĩa, Vương Nhất
Xuyên, Vương Nhạc Xuyên…tiêu biểu cho phê bình học thuật[2]. Từ
những năm 90 trở lại đây ảnh hưởng của phê bình văn học ở các
trường đại học ngày càng lớn. Tuy vậy, ảnh hưởng của văn học cộng
hưởng với ảnh hưởng của học thuật làm cho phê bình văn học hầu
như chỉ có một màu, đó là “màu đại học”. Sự phân hoá của phê bình
những năm 80 đã căn bản không còn nữa. Phê bình của nhà văn hầu
như không còn gây được tiếng vang.
Từ những năm 60 -70 phê bình lấy việc diễn giải đường lối văn
nghệ của Đảng làm nhiệm vụ chủ yếu, thì đến nay phê bình đã đi vào
học thuật, là một thay đổi to lớn, song khó trảnh khỏi ảnh hưởng của
chế độ. Nhìn tổng quát thân phận nhà phê bình thay đổi, đối tượng
phê bình thay đổi, phương pháp phê bình thay đổi, một trật tự mới
của phê bình đang được thiết lập. Đó có thể là một thời cơ lớn, song
viễn cảnh phê bình vẫn chưa sáng[3].
Phê bình văn học thời nào cũng lấy việc nghiên cứu tác gia, tác
phẩm làm cơ sở. Nhưng những năm 60 – 80 phê bình chủ yếu nghiến
cứu sự thể hiện các phương pháp sáng tác, nào chủ nghĩa hiện thực
phê phán, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa…Tác phẩm bị mờ
người viết dẫn luận đã bước đầu nhận xét khuynh hướng ấy. Lí luận
phê bình văn học Trung Quốc lúc ấy xây dựng trên nền tảng lí luận
mác xít, chú trong nội dung thế giới quan của văn học, đồng thời
cũng quan tâm tính nghệ thuật, lấy chủ nghĩa hiện thực làm chủ đạo.
Đến những năm 80 sự thâm nhập của chủ nghĩa hiện đại, sự lựa chọn
phương pháp không bị coi là vấn đề lập trường, thế là văn học bị chia
làm hai sơn hà. Phê bình theo nguyên tắc chủ nghĩa hiện thực vẫn
còn, nhưng không đồng nghĩa với phê bình mác xít. Khảo sát phê
bình theo quan điểm mác xít ở Trung Quốc hiện thời không thể
không thấy một bức tranh mâu thuẫn và bất đồng. Các cuộc tranh
luận về chủ nghĩa hiện thực nêu trên đây đã cho thấy nhận thức khác
trước, mà mâu thuẫn và bất đồng cũng tạo nên một sức căng nội tại
của lí luận. Phê bình mác xít không coi nhẹ nghiên cứu nội tại, nhưng
coi nghiên cứu ngoại tại là nhiệm vụ ưu tiên, nhưng những năm 80
thì văn học hướng nội, phê bình cũng hướng nội. Phê bình mác xít ở
Trung Quốc trở thành dung tục hoá là do đồng nhất văn học với vũ
khí đấu tranh giai cấp.
Phê bình chuyển sang hệ hình thẩm mĩ đánh dâu sự trỗi dậy của
phong trào nghiên cứu mĩ học, nghiên cứu hình thức, nghiên cứu
tưởng tượng, du nhập tư tưởng phương Tây, tạo thành một phong
trào “văn học thuần tuý”. Phê bình vẫn quan tâm hiện thực nhưng
chú trọng đánh giá giá trị thẩm mĩ. Và cùng vơi khuynh hướng đó cá
tính, tài năng của nhà phê bình được đề cao, phát huy chưa từng có.
Triết học và phong trào văn hoá có ảnh hưởng lớn đến phê bình
văn học. Với sự giới thiệu các tư tưởng khai sáng, chủ nghĩa mác
phương Tây, chủ nghĩa Freud, chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa hiện
sinh, triết học hậu hiện đại, triết học hiện tượng học, thông diễn học,
trào lưu văn hoá học…Các tư tưởng ấy trên nét lớn đã làm thay đổi
nền tảng triết học của phê bình văn học Trung Quốc. Từ chủ nghĩa
hiện thực đến chủ nghĩa hiện đại rồi hậu hiện đai, sự thay thế và cùng
hoảng” cứ vang lên đều đều. Đầu những năm 80 người ta kêu phê
bình khủng hoảng vì phương pháp cũ, thiếu phương pháp mới. Trước
hiện tượng như “thơ mông lung”, người ta không biết phê bình đánh
giá thế nào. Giữa những năm 80 rộ lên cơn sốt phương pháp luận, các
phương pháp được giới thiệu rất nhiều. Những người hăng hái vận
dụng phương pháp mới được chào đón nhiệt liệt như Lâm Hưng
Trạch, Trình Văn Siêu, Lỗ Khu Nguyên, Lưu Tái Phục, Quý Hồng
Chân, Trần Liêu… Phần lớn họ là những người di thực phương pháp
nước ngoài vào văn học Trung Quốc, như phân tâm học, hệ thống
luận, tin học, kí hiệu học , có góc nhìn mới, thao tác mới, mở ra cánh
cửa mới. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vết tích nước ngoài. Lâm Hưng
Trạch cho biết sự vay mượn chỉ là thủ đoạn, cái chính là dùng phương
pháp khoa học tự nhiên để phá vỡ tính khép kín của phê bình văn
học Trung Quốc lâu nay. Nhưng sau phương pháp luận người ta vẫn
lại kêu khủng hoảng. Lần này lí do là do vận dụng giản đơn, chưa
nhuần nhuyễn, giữa quan niệm, phương pháp, thao tác chưa ăn
khớp. Mã Khổng Đa phê bình tệ sùng bái chủ nghĩa khoa học, sự
không ăn nhập giữa phương pháp khoa học tự nhiên với khoa học
nhân văn[4].Tác giả vận dụng phương pháp mới rất nhiều. Có thể kể
Đồng Khánh Bính, Đào Đông Phong, Lí Xuân Thanh, Phương Khắc
Cường, Quách Tử Đông, Lí Cát, Vương Hựu Bình, Từ Đại, Nam
Phàm, Trình Văn Siêu … Tuy có đem lại cái mới, mở ra của sổ mới,
song nhược điểm chính mà giới phê bình nhận xét là, chưa thoát khỏi
sự tầm thường (bình dung), tức là thiếu hoặc không có sáng kiến,
thường là nói theo, phụ hoạ, thiếu ý thức sáng tạo độc lập, chưa có
tính nguyên sáng. Sang thế kỉ mới lại có tiếng kêu khủng hoảng mới.
Đó là phong khí phê bình sách vở nhiều, sinh động ít, màu Tây
nhiều, sắc Trung Hoa ít…Phê bình trường, Viện chưa đi vào đông đảo
người đọc, còn cách xa văn học đại chúng. Căn bệnh chủ yếu của phê
bình văn học Trung Quốc đương đại là sự ngheo nàn về tính độc