Đóng góp của Xuân Diệu trong sự nghiệp phê
bình văn học trung đại của Xuân Diệu qua
Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Lương Thu Thuỷ
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Khoa Văn học
Chuyên ngành: Văn học trung đại; Mã số: 60. 22. 34
Người hướng dẫn: PGS. TS. Trần Nho Thìn
Năm bảo vệ: 2011
Abstract. Nghiên cứu sự vận động trong quan niệm về thơ và phê bình thơ của Xuân
Diệu. Đánh giá về nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của Xuân Diệu với các tác
giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (qua các nhà thơ cổ điển Việt Nam). Thấy
được những đóng góp của Xuân Diệu trong việc đánh giá những giá trị nội dung
cũng như giá trị nghệ thuật của các tác giả văn học trung đại (bên cạnh những điểm
còn hạn chế trong phê bình của Xuân Diệu) qua các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Qua
đó, khẳng định được tài năng phong phú, đa dạng và vị trí tầm cỡ của Xuân Diệu
trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỉ XX.
Keywords. Phê bình văn học; Văn học trung đại; Văn học Việt Nam
Content.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Xuân Diệu là một trong những tác giả lớn của văn học Việt Nam thế kỉ XX.
Không chỉ là "hoàng tử thơ" mà ông còn là một nhà hoạt động kiệt xuất trên nhiều
lĩnh vực sáng tác văn học. Chế Lan Viên đã có lần thốt lên rằng “năng suất của Diệu
bằng cả một viện văn chương, mà Diệu vừa là viện trưởng, vừa là viện phó, vừa là
thơ của Xuân Diệu, ta được tiếp cận với một lối lý luận khúc chiết, sắc sảo, một cách
thưởng thức và thẩm định đầy trách nhiệm đối với di sản văn học của tiền nhân. Và ta
bị lôi cuốn bởi chất văn dào dạt thấm đẫm phong cách Xuân Diệu, khiến ông không
lẫn với một ai khác.
Tác phẩm Các nhà thơ cổ điển Việt Nam là công trình chỉ có các nhà phê bình
lớn, nhà văn hóa thực sự uyên bác, tài hoa mới vươn tới được. Hai tập sách thực sự là
một công trình đồ sộ, một đóng góp lớn lao của nhà thơ Xuân Diệu trong lĩnh vực
nghiên cứu, phê bình văn học cổ điển dân tộc. Tất nhiên, đó đây vẫn xuất hiện những
nét cực đoan, quá khích, bị ảnh hưởng bởi quan điểm chính trị, giai cấp. Đó là những
hạn chế không thể tránh khỏi do bối cảnh của thời đại và do phương pháp phê bình
theo lối xã hội học dung tục mang lại. Nhưng không thể phủ nhận một điều rằng qua
tâm hồn, tài năng và nghệ thuật, sự phân tích và diễn đạt của Xuân Diệu, những giá
trị tinh hoa của văn học truyền thống từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,
Cao Bá Quát đến Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Đình Chiểu, Đào
Tấn…đều hiện lên vô cùng gần gũi, thân thiết đối với con người hôm nay. Cùng với
chân dung Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, người đọc đã nhận ra được chân dung của
nhà thơ, nhà phê bình Xuân Diệu uyên bác, cần mẫn, rất mực tinh tế và tài hoa.
Tìm hiểu nghiên cứu đóng góp của Xuân Diệu ở lĩnh vực này sẽ giúp ta rút ra
được những bài học bổ ích, những kinh nghiệm quí báu cho sự nghiệp xây dựng và
phát triển nền phê bình văn học hiện nay. Mặt khác, Xuân Diệu là một tác gia văn
học lớn. Chính vì vậy, đã đến lúc muốn khai thác một cách toàn diện và sâu sắc sự
nghiệp của Xuân Diệu cũng như những đóng góp lớn lao của ông đối với nền văn học
nước nhà, rất cần có những công trình nghiên cứu chuyên biệt từng tác phẩm, từng
chặng đường, từng phương diện sáng tạo của ông. Và tất nhiên, trong đó chúng ta
không thể không có những công trình chuyên sâu khám phá vẻ đẹp và những đóng
góp của văn tài Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu :
2.1. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn muốn phân tích, tìm hiểu, phát hiện những đóng góp của Xuân Diệu
trong việc đánh giá những giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của các tác giả
4. Giới thiệu sơ lược cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn của chúng tôi gồm hai chương sau đây
:
Chương 1: Sự vận động trong quan niệm về thơ và phê bình thơ của Xuân Diệu
Chương 2: Đóng góp về nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của Xuân Diệu với
các tác giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (qua Các nhà thơ cổ điển Việt
Nam)
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Sự vận động trong quan niệm về thơ và phê bình thơ của Xuân
Diệu
1.1 Quan niệm của Xuân Diệu về thơ
Sở dĩ nói quan niệm văn học của Xuân Diệu trước hết và chủ yếu là quan
niệm về thơ vì thơ chính là đối tượng xuyên suốt hoạt động phê bình nghiên cứu của
ông.
1.1.1. Thơ trước hết là cuộc sống, cuộc sống trần thế nơi trần tục này
Với Xuân Diệu, quan niệm bao trùm thơ đó là sự sống. Quan niệm này chi
phối cả cuộc đời lao động sáng tạo của ông. Nó không chỉ nhấn mạnh đến tầm quan
trọng và mối quan hệ hữu cơ giữa thơ với cuộc sống mà còn có tác dụng phê phán
những quan niệm thần bí, thoát ly và dung tục hóa thơ. Với ông, chân lý cuối cùng,
chân lý cao nhất, suy đến cùng vẫn là cuộc sống. Quan niệm nhất quán, bao trùm của
Xuân Diệu: Thơ là sự sống tươi trẻ, say mê, nồng ấm; thơ là sản phẩm của cảm xúc,
của trí tuệ, là tinh chất cuộc đời. Thơ là cuộc sống mà “Đã là cuộc sống, thì chẳng
bao giờ chán nản”.
Mặc dù là một nhà thơ lãng mạn, luôn say đắm trong tình yêu, thoáng qua,
tưởng là thơ thoát ly hiện thực nhưng trái lại đó chính là niềm khát khao giao cảm với
đời của Xuân Diệu. Trong thơ ông không thiếu những vần thơ thể hiện rõ quan niệm
về mối quan hệ máu thịt giữa nhà thơ với cuộc đời hay cuộc đời với nhà thơ. Khi
quan niệm về nhà thơ, Xuân Diệu cho rằng làm thi sĩ là một cuộc đấu tranh, một
sướng vui trong gian khổ. Người làm thơ không thể không trải qua một sự “rèn luyện
vì, theo ông, chê thơ mà không đúng thì rất có hại, sẽ làm nản người viết; nhưng khen
thơ không đúng thì cũng rất có hại vì khuyến khích sự viết dở, và có một cái gì như là
quảng cáo cho hàng không tốt, ngoài sự làm sai lạc khiếu thẩm mỹ của công chúng,
còn phạm vào sự chân thật, sự thật thà. Như vậy, khen, chê một cách xác đáng, phê
bình mới thực sự đóng vai trò hướng dẫn dư luận bạn đọc và thúc đẩy sáng tác. Cái
hay, cái khó của phê bình văn học có khi cũng chính là ở chỗ này. Bởi lẽ, thái độ
khen chê ấy không chỉ nói lên trình độ, tài năng, bản lĩnh mà còn thể hiện cả đạo đức
của nhà phê bình. Dù muốn hay không thì phê bình cũng phải lựa chọn và đánh giá
Để phê bình thực sự thuyết phục, Xuân Diệu rất coi trọng niềm thông cảm, thấu
hiểu giữa nhà phê bình và nhà sáng tác. Xuân Diệu còn nhấn mạnh và giải thích rõ
hơn, thấu hiểu tư tưởng lập trường đã đành, còn cần phải thấu hiểu cả phương pháp
cấu tứ, tạo hình, bút pháp, thói quen, cá tính của một nhà thơ. Vì thế, nhà phê bình
cần phải xác định, phê bình không phải là chỉ trích, nhà phê bình không phải là lên
lớp bằng chủ quan của mình, mà nhiệm vụ chính của nhà phê bình trong quan niệm
của Xuân Diệu là "giúp cho bạn yêu thơ hiểu một thời đại, một nền thơ, một nhà
thơ".
Phê bình văn học, ở một góc độ nào đó, phải cùng chung khát vọng ấy mới thực sự là
"người môi giới", là “bà đỡ” cho những công trình sáng tạo đầy trăn trở của người
nghệ sĩ. Với Xuân Diệu, phê bình nghiên cứu văn học có hai mục đích: Một là, để
đưa thơ đến cho đại chúng, cho mọi người; hai là để “hút nhụy mật” cho mình
1.2.1.1. Phương pháp “mắt xanh điểm huyệt vào chất văn”
Là nhà thơ của “tôi giàu đôi mắt”, của “cái nhìn”, Xuân Diệu rất hay nói đến
“mắt xanh”. Trong quan niệm của Xuân Diệu “đôi mắt là cái giác quan trí tuệ hơn cả,
chiếm lĩnh sự vật hơn cả, hình tượng đập vào mắt, đập vào tri thức, trí tuệ nên rất
mạnh”. Còn “mắt xanh” là mắt tinh nhạy, trẻ trung; là trẻ tri âm , tri kỉ, là gout, là sự
thấu hiểu, là linh cảm để phát hiện trúng vấn đề”. Thuật phê bình của Xuân Diệu có
một loạt thao tác bắt đầu từ “mắt xanh” ấy. Xuân Diệu dùng mắt xanh như một công
cụ đắc lực để tập hợp, lựa chọn, xác minh và xử lí văn bản. Bước vào cõi linh diệu
của thơ, để hiểu hồn thơ, Xuân Diệu dùng “mắt xanh điểm huyệt” để phát hiện nhãn
tự, thần cú…
Chúng ta có thể thống kê những tác phẩm tiểu luận phê bình mà Xuân Diệu đã
viết để có cái nhìn khái quát nhất về chặng đường sáng tác của ông:
1.3.1. Thời kì Thơ mới (1932- 1945)
Trên báo Ngày nay thời ấy xuất hiện một loạt bài phê bình mang tên ông như
: Thơ khó, Tính cách An Nam trong văn chương, Mở rộng văn chương, Thơ Huy Cận,
Công của thi sĩ Tản Đà…Xuân Diệu đã có nhiều bài tranh luận văn học sôi nổi đăng
trên các báo khác như Phong hóa, Tao đàn… Một số bài khác được tập hợp in lại
trong “Thanh niên với quốc văn”. Những tác phẩm nay đã nói lên quan niệm sống,
quan niệm thơ ca của Xuân Diệu, góp phần tích cực làm nên chiến thắng của Phong
trào Thơ mới. Có thể coi đây là chặng đường đầu tiên báo hiệu bản lĩnh của một nhà
thơ, một nhà phê bình, một quan niệm cởi mở về tính dân tộc của văn chương.
1.3.2.Những năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954)
Cách mạng tháng Tám thành công đã giải phóng dân tộc ra khỏi xiềng xích
nô lệ và mở ra một chân trời mới cho sáng tạo văn học nước nghệ thuật. Đối với một
thế hệ nhà thơ đã từng “chín mấy mùa thương đau” trong xã hội cũ, những năm
kháng chiến chống Pháp là giai đoạn chuyển mình, rèn luyện để hoà nhập với cuộc
sống mớí. Một số bài viết buổi đầu của Xuân Diệu như Nhân xem quyển Nguyễn với
bút danh Triều Mai, Văn hoá Việt Nam sẽ không đi theo nấm mồ văn hoá Pháp đều
nằm trong mạch bày tỏ quyết tâm “lột xác” và “nhận đường” của nhiều nghệ sĩ lúc
bấy giờ. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Xuân Diệu cùng nhiều anh chị em văn nghệ
lên chiến khu Việt Bắc. Năm 1947, Xuân Diệu công tác ở Đài truyền hình Việt Nam,
và theo hồi kí Những kỉ niệm chung quanh Tạp chí văn nghệ thì bắt đầu từ số 5
(2/1948) ông viết mục Tiếng thơ cho tờ tạp chí này. Tuyển tập cái bài viết ấy, Nhà
xuất bản Văn nghệ đã in thành sách Tiếng thơ, ấn hành vào năm 1951 là đóng góp
nổi bật của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình văn học ở giai đoạn đầu xây dựng nền
văn nghệ mới. Tiếng thơ ở đây cũng là “tiếng đời”, “tiếng của kháng chiến”, tiếng
của sự sống”.
1.3.3. Từ 1955- 1985
Đây là chặng đường Xuân Diệu vẫn tiếp tục ra mắt bạn đọc nhiều tập thơ mới,
nhưng cũng là ba mươi năm Xuân Diệu dồn nhiều tâm sức cho hoạt động phê bình
thống nhất của đất nước.
Bối cảnh để Xuân Diệu viết tác phẩm Các nhà thơ cổ điển Việt Nam là giai
đoạn tư tưởng dân tộc, tư tưởng giai cấp, chính trị đang đè nặng lên vai các văn nghệ
sĩ. Xuân Diệu đã đi theo cách mạng. Trước Cách mạng Tháng Tám, Xuân Diệu là
một nhà thơ lãng mạn tiêu biểu cho Phong trào Thơ Mới . Sau Cách mạng Tháng
Tám, từ một nhà thơ lãng mạn, Xuân Diệu trở thành một nhà thơ cách mạng Ông đã
đi từ “thế giới của một người” đến với “thế giới của tất cả”. Ông đã thành công trong
việc thực hiện quá trình “lột xác” của mình. Tư tưởng chính trị, cách mạng, kháng
chiến đã thấm nhuần vào trong con người ông. Và tất nhiên những sáng tác văn thơ
nói chung của ông và những sáng tác phê bình nói riêng sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp
từ điều này. Do áp lực của công tác chính trị nên trong nhiều bài phê bình của Xuân
Diệu, chúng ta sẽ thấy xuất hiện yếu tố cơ hội chủ nghĩa, cái nhìn có phần cực đoan
của tác giả. Mặt khác, giai đoạn Xuân Diệu viết Các nhà thơ cổ điển Việt Nam là khi
phương pháp phê bình xã hội học dung tục đang “chế ngự”, thống trị. Chính vì thế
nên trong tác phẩm này ta sẽ thấy được cái tinh tế trong phát hiện của Xuân Diệu về
các tác giả, tác phẩm văn học trung đại. Nhưng đồng thời ở đây ta vẫn thấy còn sót
lại những tàn dư của cái nhìn bảo thủ, dấu vết, sự tác động của bối cảnh thời đại.
Điều này xem ra cũng là khó tránh khỏi. Chúng ta sẽ có cái nhìn đa chiều và khách
quan hơn về sáng tác phê bình của tác giả này.
2.2. Những điểm hạn chế trong sáng tác phê bình của Xuân Diệu
Chúng ta khi nhìn lại chặng đường sáng tác phê bình của Xuân Diệu có những
điểm hạn chế cần phải chỉ ra. Điều này là vô cùng cần thiết. Những hạn chế này một
phần là do tác động của bối cảnh xã hội mang lại , mặt khác bắt nguồn từ cá nhân
Xuân Diệu.
Như ta đã biết, Xuân Diệu là một đại diện tiêu biểu - là “nhánh” tạo được thanh
thế lớn hơn cả, và đương thời, thành tựu của “nhánh” này cũng được phổ biến sâu
rộng hơn cả. Điều đó, cộng với sự tự ý thức rất cao về tài năng và vị thế cá nhân
trong làng thơ (như nhiều câu chuyện đời thường cho thấy) có thể là nguyên nhân
dẫn đến ở Xuân Diệu, trong những lúc nào đó, có một lối nhìn thơ, thẩm thơ, định giá
thơ rất Xuân Diệu! Nghĩa là, ông lấy chính ông, lấy chính những nguyên tắc sáng
giá trị, những bài tiểu luận phê bình tâm huyết nhất ông đều dành cho thơ. Hiếm thấy
có một nhà phê bình nào có sẵn một nguồn thơ đầy ắp, thường trực, vừa dào dạt thiết
tha, vừa rạo rực sôi nổi như Xuân Diệu.
Chúng ta có thể thấy được rất rõ có một nhà thơ Xuân Diệu trong phê bình và đó
cũng chính là đặc điểm nổi bật nhất trong phong cách phê bình Xuân Diệu. Tất nhiên,
bên cạnh đó còn có những đặc điểm khác gắn với chức năng phê bình. Ông thường
xuất phát từ cái tôi cá nhân, những kinh nghiệm cá nhân trong sáng tác và đọc văn
học chứ ít khi dựa vào lý luận hay các khái niệm lý luận phê bình, những phân tích về
vần, về nhịp thơ của ông rất độc đáo, tuy có thể đôi khi dung tục, song hầu hết rất
sinh động; ông hay đưa xúc cảm riêng để bình thơ.
2.3.2. Xuân Diệu bình và giảng
Văn phong trong phê bình, nghiên cứu, tiểu luận của Xuân Diệu ít khi mực
thước. Ông thường để cho cảm xúc cuốn đi, say sưa theo đuổi những ý tưởng của
mình. Trong những bài viết ông sử dụng một ngôn ngữ đa dạng và biến hoá rất linh
hoạt. Với một cách nhìn sắc sảo, vừa bao quát vừa tỉ mỉ, với một văn phong độc đáo,
tự nhiên, Xuân Diệu đã làm cho những tên tuổi lớn trong kho tàng văn học dân tộc
thêm chói sáng.
2.3. Những đánh giá của Xuân Diệu về các nhà thơ cổ điển Việt Nam với
các tác phẩm tiêu biểu:
2.3.1. Xuân Diệu với Nguyễn Trãi
Từ tháng 7 năm 1957, sau khi chúng ta vừa tìm lại được Quốc âm thi tập,
theo nhà phê bình Hoài Thanh, thì Xuân Diệu là người đầu tiên đã viết bài bình thơ
Nôm Nguyễn Trãi với một niềm cảm thông sâu sắc.
Phê phán những cách nhìn lệch lạc sai lầm cho rằng thơ Nguyễn Trãi không
có giá trị cao vì buồn và đời yếm thế, Xuân Diệu đã giúp ta đánh giá đúng nội dung
tích cực, lớn lao của chữ „nhàn » với cái buồn trong thơ Nguyễn Trãi. Ông đã đi sâu
tìm hiểu cái chất chữ « nhàn » chỉ cho ta thấy Nguyễn Trãi « thanh nhàn » nhưng
không hề yếm thế, xa đời. Nhàn là một hình thức muốn giữ cốt cách thanh cao
« không chịu xiêu vẹo đuổi theo đời tục ». Nhàn vẫn lo âu việc đời, vẫn thao
thức, trong ruột thơ vẫn cháy một ngọn lửa đời rất ấm ». Nhàn không phải là mục
Nguyễn Du và Truyện Kiều qua các thời đại , Xuân Diệu vẫn tìm ra cách tiếp cận của
riêng mình, một cách nói mới đầy sức cuốn hút của riêng mình, không trùng lặp và
không lẫn vào ai khác
2.3.3. Xuân Diệu với “bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương là một hiện tượng độc đáo có một không hai trong lịch sử
văn học Việt Nam. Theo Xuân Diệu. Sau Nguyễn Du với Truyện Kiều , Xuân Hương
là nhà thơ cổ điển được nhắc tới nhiều nhất, gây nhiều tranh luận nhất. Xuân Diệu đã
nêu bật được ý nghĩa của tiếng nói phản kháng mạnh mẽ quyết liệt bao trùm trong
thơ Hồ Xuân Hương. Ông giải thích đó là cái đòi hỏi giải phóng ngấm ngầm của cả
một xã hội trước tình trạng nhiều người đã nặng nề chê trách và đối xử bất công với
thơ Xuân Hương, chung quy vấn đề dâm và tục, Xuân Diệu đã giúp ta cách nhìn nhận
đúng đắn « hiện tượng dâm tục » và tính đa nghĩa trong thơ bà chúa thơ Nôm. Xuân
Diệu đã phát hiện cốt lõi căn bản của thơ Xuân Hương là lòng ham sống, yêu đời,
yêu sự sống với con mắt xanh tri kỉ tri ân, ông đã phân tích, nổi bật cho ta thấy thơ
Xuân Hương không dâm, không tục mà dạt dào sức sống của một tâm hồn đẹp đẽ, trẻ
trung, một sức sống hiện đại, mới mẻ, vừa khoẻ khoắn, vừa thanh tao, « thật là sáng
tạo ». Xuân Hương là người cách tân trong văn học dân tộc, là người mở đàu cho thời
kì phục hưng ở Việt Nam. Hơn thế nữa, thơ Xuân Hương không dâm, không tục mà
thể hiện một chủ nghĩa nhân văn cao cả, dũng cảm bênh vực phụ nữ bình dân đáng
quý. « Thiên tài kì nữ », « nhà thơ dòng Việt, bà Chúa thơ Nôm » là cách gọi riêng
của Xuân Diệu dành cho Xuân Hương. Nhiều người cũng đã nói đến cái tài sử dụng
ngôn ngữ trong thơ Xuân Hương, nhưng chưa ai đọc và thẩm thơ một cách kì công
và nói lên với tất cả tình cảm sôi nổi, đam mê không giấu được như Xuân Diệu.
Có thể nói rằng với những công trình phê bình, nghiên cứu công phu của Xuân
Diệu, hiện tượng Hồ Xuân Hương thực sự được nhìn nhận với tất cả vẻ đẹp độc đáo
và sống động của nó. Tuy không phải tất cả vấn đề phức tạp đã được giải quyết, song
nhiều ý kiến của Xuân Diệu, nhiều nhận định đánh giá của Xuân Diệu cho đến nay
vẫn chưa ai vượt qua. Hồ Xuân Hương thực sự trở thành một niềm tự hào của văn
học cổ điển Việt Nam
2.3.4. Xuân Diệu với các nhà thơ cổ điển Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến,
phát hiện, đánh giá đúng những giá trị thẩm mĩ và nhân văn của hiện tượng thơ và rất
nhiều ý kiến của ông đã trở thành định luận.
Qua ngòi bút phê bình của Xuân Diệu, chúng ta lắng nghe được một bản đàn
của văn học truyền thống dân tộc. Xuân Diệu đã tiếp cận gia tài của văn học cổ điển
dân tộc với một ý thức “để biết quá khứ mà lo liệu cho tương lai”, đồng thời đó cũng
như một nhu cầu giải tỏa nội tâm của ông. Khi lấy việc bình giải, cắt nghĩa, suy nghĩ
thêm về thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Cao Bá Quát, thơ
Nguyễn Khuyến, thơ Tú Xương, thơ Nguyễn Đình Chiểu Xuân Diệu đã nhận lấy
một công việc dũng cảm : Nói về những cái tưởng như ai cũng biết rồi, ai cũng đã
nhiều lần nghe tới. Nói sao để có những phát hiện mới, cái đó thật khó. Nhưng nhà
thơ – nhà phê bình tài ba Xuân Diệu đã làm được điều đó. Để có được những công
trinh nghiên cứu chững chạc, kĩ lưỡng, Xuân Diệu đã phải rất dụng công
Với Các nhà thơ cổ điển Việt Nam , lại một lần nữa ý hướng phục vụ đại chúng
của Xuân Diệu được bộc lộ rõ. Trong văn phê bình nghiên cứu, Xuân Diệu hiện lên
như một diễn giả kĩ lưỡng, tỉ mỉ. Ông không yêu cầu gì ở người nghe , ngoài một
điều tối thiểu là lắng nghe ông. Về phần mình, Xuân Diệu đã chuẩn bị tất cả cho ta,
và đã cho hết lòng. Đối diện với mỗi tác phẩm cổ điển, ông chia sẻ vơi người đọc
từng biến thái nhỏ bé xảy đến trong tâm trí. Đó là một lối viết muốn đào cùng tát cạn
mọi hiện tượng, phanh phui bằng hết mọi bí mật trong sáng tác văn học. Trong không
ít trường hợp, người đọc cảm thấy người nghiên cứu ở đây là một người lắm lời, có
phần tán ra quá rộng, không tuân thủ một quy luật trong giao tiếp, một quy luật mà
chắc chắn tác giả biết rất rõ : Cần gợi nhiều hơn nói ; cần ngắn gọn, hàm súc. Tuy
nhiên, đây đã là cố tật của ông, như nhiều người nói : Không thế thì không phải là
Xuân Diệu ! Cái công của Xuân Diệu trong việc trở về với cội nguồn thơ dân tộc là
rất đáng quý, đáng trân trọng vô cùng.
Cái đích mà ông khao khát chiếm lĩnh là những giá trị còn mãi trong đời. Việc
tìm hiểu giới thiệu các tác giả cổ điển, với tất cả sự khó khăn có thể có của nó, chừng
nào đó, vẫn bảo đảm cho Xuân Diệu có điều kiện đến với cái đích đã đề ra. Việc ông
sốt sắng lao vào nó hết mình là kết quả của cả tình yêu lẫn một sự tính toán khá chính
xác. Từ những quan niệm rõ ràng, chuẩn mực về thơ, về phê bình thơ, với những
2002
14. Hà Minh Đức, Anh đã sống hết mình cho cuộc sống và cho thơ, Xuân Diệu con
người và tác phẩm, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội,1987
15.Hà Minh Đức, Khảo luận văn chương, Nxb Khoa học xã hội Hà Nôi, 1997
16. Hà Minh Đức, Nhà văn nói về tác phẩm, NXb Văn học, Hà Nội, 1998
17. Hà Minh Đức, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 1998.
18. Nguyễn Thanh Hà, Xuân Diệu bàn về tiêu chuẩn phê bình thơ, Diễn đàn văn
nghệ Việt Nam số 6, 1998
19. Nguyễn Thanh Hà, Xuân Diệu bàn về công chúng thơ, Diễn đàn văn nghệ Việt
Nam số 4, 1999
20. Đỗ Đức Hiểu, Đổi mới phê bình văn học, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, 1994
21. Nguyễn Văn Khánh, Quan niệm về thơ của Xuân Diệu, Luận văn Thạc sĩ khoa
học ngữ văn, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội,
2003.
22. Trần Đăng Khoa, “Xuân Diệu”, sách Chân dung và đối thoại, Nxb Thanh niên,
1998
23. Lê Đình Kị, Phê bình nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục Hà Nôi, 1998
24. Mã Giang Lân, “Sự đa dạng của Xuân Diệu”, Xuân Diệu con người và tác
phẩm, Nxb Tác phẩm mới, 1987
25. Mã Giang Lân, “Xuân Diệu”, sách Nhà thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học xã
hội, 1982
26. Mã Giang Lân, Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001.
27. Mai Quốc Liên, “Xuân Diệu qua Thi hào dân tộc Nguyễn Du”, sách Xuân Diệu
tình đời và sự nghiệp, Nxb Hội nhà văn, 1996
28. Thiếu Mai, “Nhà thơ thân thiết của chúng ta”, sách Xuân Diệu con người và tác
phẩm, Nxb Tác phẩm mới, 1987
29. Nguyễn Đăng Mạnh, Chân dung văn học, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1990
30. Nguyễn Đăng Mạnh, “Tư tưởng và phong cách một nhà thơ lớn”, sách Chân
dung văn học, Nxb Thuận Hóa, 1990
50. Đặng Trung, Xuân Diệu đi nói chuyện thơ, Báo Tiền phong, 1996
51. Chế Lan Viên, Phê bình văn học, Nxb Văn học, 1962
52. Chế Lan Viên, Nghĩ cạnh dòng thơ, NXB Văn học, Hà Nội, 1981
53. Chế Lan Viên, Di cảo thơ, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1993
54. Chế Lan Viên, Vào nghề, Nxb văn học, Hà Nội, 1993