Tính ngụy tạo của khái niệm phương pháp sáng
tác trong lí luận phê bình văn học Trong hệ thống lí luận văn học mác xít lưu truyền từ những
năm 30 thế kỉ trước đến nay có một khái niệm quyền uy ngự trị trong
lí luận văn học các nước xã hội chủ nghĩa. Đó là khái niệm phương
pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nó không chỉ là phương
pháp sáng tác mà còn là phương pháp phê bình văn học. Nhà văn thì
phải nắm vững phương pháp sáng để sáng tác, còn nhà phê bình văn
học thì phải vận dụng phương pháp ấy để phê bình, đánh giá xem tác
phẩm nào đó hay cả nền văn học có đi theo định hướng của phương
pháp ấy không. Nếu có thì biểu dương, nếu không thì phê phán,
trường hợp nặng thì có thể đi đến chấm dứt cuộc đời sáng tác của nhà
văn. Từ khi kết thúc cách mạng văn hoá, bước sang hiện đại hoá,
Trung Quốc dần dần đã từ bỏ khái niệm phương pháp sáng tác. Các
giáo trình lí luận văn học Trung Quốc từ năm 1995 đã lần lượt không
dùng khái niệm ấy nữa[1]. Từ những năm 70 ở Liên Xô cũ, khi D.
Markov nêu ra phương pháp chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa
như là hệ thống mở, thì khái niệm phương pháp chủ nghĩa hiện thực
xã hội chủ nghĩa đã có thay đổi lớn, nó không còn là phương pháp mà
đã là hệ thống sáng tác, trong đó tính đảng không còn là yếu tố của
phương pháp sáng tác nữa. Từ sau năm 1991 khi Liên Xô sụp đổ, chủ
nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa về cơ bản cũng bị phế bỏ luôn. Các
giáo trình Đại học như của V. E. Khalizev không có khái niệm ấy nữa,
mà chỉ gọi là trào lưu hay “cộng đồng văn học có tính thế giới”[2].
Giáo trình Lí luận văn học do H. D. Tamarchenco chủ biên đã loại bỏ
khái niệm phương pháp sáng tác[3]. Chỉ còn một số rất ít người chủ
yếu là tác giả của khái niệm này từ đầu những năm 60 thế kỉ trước là
còn nhắc đến trên bình diện lịch sử, ví dụ như nhà lí luận Iu.
Borev[4]. Trên thế giới, hiện nay hầu duy nhất chỉ có nước Việt Nam
như định nghĩa đầy đủ về khái niệm ấy. Tuy vậy nội dung đó đã phải
là “phương pháp sáng tác” chưa, cần có sự phân tích. Xét theo cách
dịch, thì Chu Quang Tiềm, vào năm 1964, trong sách Lịch sử mĩ học
phương Tây tập 2 đã dịch là “phương thức”, sau lại dịch lại là
“phương pháp”; xét theo các đặc điểm đem ra phân biệt văn học cổ
điển và văn học lãng mạn mà họ nêu ra thì: “văn học cổ điển” gồm
các tính chất như, chất phác, dị giáo, anh hùng, hiện thực, tất yếu,
chức năng xã hội; còn “văn học lãng mạn” thì có các nội dung như
cảm thương, cơ đốc giáo, lãng mạn, lí tưởng, tự do, theo ý muốn. Dựa
vào các tính chất đó thì có thể xem là hai loại hình, hai quan niệm về
sáng tác, không phải là phương pháp sáng tác. Ông Chu Quang Tiềm
làm tiến sĩ mĩ học ở Đức, nhà mĩ học hiện đại Trung Quốc trứ danh,
rất được trọng vọng, song trong suốt mấy chục năm sống dưới thời
đại Mao Trạch Đông ông có nhược điểm mà các học giả thường chê là
ông luôn luôn tự kiểm điểm và viết lại tư tưởng mĩ học của mình. Rất
có thể cách dịch của ông bị chi phối bởi hoàn cảnh. Ở đây mong các vị
sành tiếng Đức tra cứu lại. Nhưng dù là phương pháp hay phương
thức, người ta vẫn có thể hiểu đó là bình diện phong cách, không
nhất thiết là phương pháp sáng tác, vì Goethe chỉ nói hai chữ
“phương pháp” thôi, không kèm định ngữ “sáng tác”.
Tiếp theo, người nói đến “chủ nghĩa tả thực” là Champfleury.
Ngày 21 tháng 9 năm 1850 khi Champfleury nêu ra thuật ngữ “chủ
nghĩa tả thực” trên báo Trật tự, ông nhằm chỉ một trào lưu, khuynh
hướng, phong cách sáng tác. Duranty lập tờ báo “Chủ nghĩa tả thực”,
chỉ ra được 6 số, nhưng thể hiện một chủ trương sáng tác. Ông nói:
“Cái chủ nghĩa tả thực đáng sợ này là kẻ lật đổ cái trường phái mà nó
đại diện. Bảo trường phái tả thực là phi lí là bởi vì nó biểu thị một lối
biểu đạt thẳng thắn mà hoàn mĩ mang tính cá nhân; quy phạm, mô
phỏng và bất cứ trào lưu nào đều là cái mà nó phản đối.”[6] Các vị
này nêu ra chủ trương “một lối biểu đạt”, các nguyên tắc về phong
sáng tác, chứ không phải phương pháp sáng tác. Linh hồn của
phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa đó vẫn là “phương
pháp sáng tác duy vật biện chứng” mà phái các nhà văn vô sản Nga
đã nêu ra từ giữa những năm 20. Phép biện chứng duy vật có ba quy
luật cơ bản. Một là mâu thuẫn là tồn tại phổ biến, trong xã hội đó là
mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn mới – cũ, tiến bộ – lạc hậu. Hai là
quy luật lượng đổi chất đổi. Cái mới ban đầu bao giờ cũng nhỏ yếu,
song nó sẽ lớn mạnh và chiến thắng cái cũ. Ba là quy luật phủ định
của phủ định, tức là khẳng định cái mới xã hội chủ nghĩa. Theo
phương pháp đó, nhà văn sẽ tìm trong cuộc sống các biểu hiện của
xung đột giai cấp vô sản và tư sản, đứng hẳn về phía giai cấp vô sản
tiến bộ và cách mạng, miêu tả sự lớn mạnh của cái mới đi đến khẳng
định sự chiến thắng tất yếu của chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Phương pháp biện chứng duy vật còn đặc trưng bởi các cặp đối
lập nhị nguyên như cái chung/cá biệt, nội dung/hình thức, tất
yếu/ngẫu nhiên, bản chất/hiện tượng mà trong các cặp đó yếu tố đầu
của mỗi cặp là quan trọng, giữ vai trò chi phối, còn các yếu tố sau đều
không quan trọng, bị phụ thuộc. Kết quả là theo quan hệ đó các yếu
tố cá biệt, ngẫu nhiên, hiện tượng… vốn có ý nghĩa rất quan trọng đối
với nhận thức thẩm mĩ đều bị coi nhẹ, và do đó các tác phẩm sáng tạo
theo phương pháp biện chứng đó phần lớn là xơ cứng, công thức, sơ
lược, thiếu sức hấp dẫn và thiếu sức sống. Các văn kiện của Đảng
Cộng sản Việt Nam khi đánh giá văn học cách mạng đều phê bình
tính chất sơ lược, thiếu phong phú của nó và thường giải thích bằng
nguyên nhân nhà văn thiếu vốn sống, thế giới quan chưa vững vàng,
mà không thấy nguyên nhân sâu xa là ở phương pháp sáng tác này.
Đây cũng là phương pháp, nhưng là phương pháp triết học, phương
pháp tư duy chính trị, dùng để xác định đề tài, chủ đề, không có
phương diện thẩm mĩ. Logic của vấn đề rất rõ ràng. Theo phương
pháp sáng tác đó đã sản sinh ra hàng loạt tác phẩm giả tạo, tô hồng
trong tiểu thuyết Sắp cưới của Vũ Bão của Nguyễn Khải cũng thể
hiện một phương pháp phê bình giả tạo. 40 năm sau Nguyễn Khải đã
phải xin lỗi nhà văn Vũ Bão, và tự nhận mình là ngu[11]. Đó là những
sự thật không thể bỏ qua.
Do coi đối tượng của văn học là hiện thực, người ta đổi cách
dịch chữ “realism” vốn là “chủ nghĩa tả thực” thành “chủ nghĩa hiện
thực”. Việc coi phương pháp sáng tác và phương pháp phê bình như
nhau cũng chứng tỏ một khái niệm thiếu khoa học, đồng nhất sáng
tác và phê bình, hai lĩnh vực khác nhau. Sự phát triển của lí luận phê
bình văn học thế kỉ XX cho thấy rõ, đó là hai lĩnh vực khác nhau hẳn.
Một đặc điểm của phương pháp phê bình văn học hiện thực xã hội
chủ nghĩa là phát động quần chúng phê bình văn học. Quần chúng có
quyền phê bình nghệ thuật. Ai cũng trở thành nhà phê bình văn học,
một khi phát hiện thấy sáng tác xa rời phương pháp hiện thực xã hội
chủ nghĩa. Các báo rất coi trọng “ý kiến độc giả”, nhiều khi lấy đó làm
cơ sở để tổ chức phê bình. Cái tệ đó đã đẻ ra hàng loạt nhà phê bình
nghiệp dư mà ngày nay văn học Việt Nam đang gánh chịu.
Xét về sự truyền bá, năm 1933 Chu Dương đưa khái niệm phương
pháp sáng tác đó vào Trung Quốc. Năm 1942 Mao Trạch Đông nhắc
lại trong bài nói chuyện Diên An. Năm 1943, Trường Chinh đưa nó
vào Đề cương văn hoá Việ t Nam[12], rồi sau đó coi là phương pháp
sáng tác tốt nhất. Tính chất ý thức hệ của khái niệm là rõ ràng, song
tính khoa học của nó ngay từ thời Goethe đã gây tranh cãi. Sau lần đề
xuất của Goethe, các nhà văn khác như V. Hugo, G. Maupassant, G.
Sand, các nhà thơ tượng trưng Nga như Briusov, Belyi… và nhà lí
luận người Mĩ gốc Séc R. Wellek cũng có lúc nói đến thuật ngữ
“phương pháp sáng tác”, nhưng toàn bộ lí luận văn học phương Tây
người ta chỉ dùng khái niệm chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn
như Geothe và Schiller đề xuất, mà không hề tiếp nhận khái niệm
phương pháp sáng tác. Đó là điều rất đáng suy nghĩ. Trong một số
nghiên cứu cho rằng, phương pháp sáng tác = nguyên tắc sáng tác
(nhận thức, tư tưởng) + phương thức (mô hình tư duy nghệ thuật) +
thủ pháp (các biện pháp miêu tả, biểu hiện), trong đó yếu tố thứ nhất
được coi là hạt nhân và có tác dụng quy định đối với hai yếu tố sau.
Mô hình lí luận về phương pháp này (có người gọi là cấu trúc phương
pháp) có nhiều điều bất ổn. Một là từ mô hình đó ai cũng thấy rõ là
quan niệm, nguyên tắc thẩm mĩ không phải là hạt nhân của phương
pháp nghệ thuật, mà ở vào địa vị phụ thuộc. Một số tác giả khác coi
yếu tố thứ hai (tư duy nghệ thuật) mới là hạt nhân, mà như thế là phá
vỡ cấu trúc phương pháp, vì nguyên tắc nhận thức, tư tưởng lại là phụ
thuộc. Thứ hai, hai yếu tố sau của phương pháp thực chất là thuộc
phạm trù phong cách. Nếu để chúng vào nội dung của phương pháp
thì khái niệm phương pháp sáng tác sẽ là: phương pháp sáng tác =
nguyên tắc nhận thức + phong cách, như thế phong cách không có
giá trị riêng mà phương pháp là khái niệm nửa dơi nửa chuột.
Tính chất pha tạp của khái niệm được thể hiện trong định nghĩa
của từ điển bách khoa. Từ điển Bách khoa văn học Liên Xô năm 1987
nêu định nghĩa: “Cần phải nhấn mạnh rằng phương pháp sáng tác
không phải là “phương thức” hay “nguyên tắc” logic – trừu tượng.
Phương pháp là nguyên tắc chung trong thái độ sáng tạo của nghệ sĩ
đối với hiện thực được nhận thức, tức là nguyên tăc tái tạo
(peresozdanie), và do đó mà không tồn tại bên ngoài sự thể hiện cụ
thể, có tính cá nhân. Với nội dung như thế, phạm trù này đã chín
muồi từ lâu, và thường được gọi bằng tên gọi là “phong cách” hay tên
gọi khác.”[13] Ở đây người viết cho thấy phương pháp sáng tác gốc
của nó là phong cách, người ta đã lấy nội dung của phong cách mà
làm phương pháp. L.I. Timofeev chủ trương gọi phương pháp sáng
tác là phương pháp nghệ thuật thể hiện một cách hiểu khác, đó là
nguyên tắc thiết kế mĩ học của sáng tác. Anh là nhà nghệ sĩ, khi sáng
tác một tác phẩm anh phải xử lí chất liệu đời sống, anh phải xây dựng
thời đại, đó là phong cách chung trong thời đại. Đem nội dung của
phong cách chung gọi bằng phương pháp, rồi xoá bỏ khái niệm
phong cách chung, một khái niệm đã có từ lâu trước khái niệm
phương pháp (như phong cách gothic, phong cách roman, phong
cách baroc,…) là không hợp lí. Mặt khác, khái niệm phương pháp
sáng tác thực chất chỉ là “nguyên tắc phản ánh” tức là nguyên tắc
nhận thức, mà chỉ là nguyên tắc phản ánh thì nó còn rất trừu tượng,
chưa thể là phương pháp sáng tác nghệ thuật. Một số người gọi
phương pháp sáng tác là “nguyên tắc phản ánh” như ông G. N.
Pospelov chính là cách bày tỏ thái độ không đồng tình với khái niệm
phương pháp sáng tác, không sử dụng nó mà đặt ra thuật ngữ khác.
Đến khi xem phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa là
“một hệ thống mở” như D. Markov đã làm thì trên thực tế ông đã
đánh tráo khái niệm phương pháp thành hệ thống văn học. Xét yêu
cấu đối với sáng tác văn học, theo M. Bakhtin, mỗi sáng tác chỉ cần có
ba yếu tố: chủ đề, cách tổ chức kết cấu và phong cách ngôn từ, ngoài
ra không cần gì nữa[15]. Phương pháp sáng tác là thừa. Đó là lí do vì
sao trong lí luận văn học các nước trên thế giới không ai sử dụng khái
niệm phương pháp sáng tác cả. Chính vì đưa một khái niệm giả tạo
vào hệ thống lí luận cho nên người ta đã làm méo hệ thống ấy. Một là
xoá bỏ khái niệm phong cách chung. Hai là đề cao không đúng vấn
đề phong cách cá nhân, có thời coi đó như là toàn bộ sự đa dạng của
văn học trong sự thống nhất về phương pháp. Các nhà lí luận phong
cách như A. N. Sokolov[16], G. N. Pospelov[17] đã lần lượt phủ nhận
khái niệm phong cách cá nhân. Theo các ông bản chất của phong
cách nghệ thuật là nguyên tắc thẩm mĩ, mĩ học, chứ không phải là cá
tính. Cá tính chỉ là nhân tố tạo phong cách chứ không phải nguyên
tắc của phong cách. Do đó định danh phong cách cá nhân, lấy cá tính
sáng tạo làm cơ sở của phong cách là thiếu khoa học.
Mọi ý muốn bảo vệ khái niệm phương pháp sáng tác, làm cho
gì cho nhiễu loạn tư duy. Ngày nay vấn đề đề tài, chủ đề hầu như đã
được giải quyết theo hướng mở, các văn kiện chính thức chỉ có lời
khuyên chứ không áp đặt đề tài, chủ đề cho nhà văn. Chính vì thế tác
dụng của phương pháp cũng không còn, do đó nó rơi vào trạng thái
chết dần dần lặng lẽ[19]. Rút cuộc, chỉ có các giảng viên dạy lí luận
văn học là khổ, bỏ phương pháp sáng tác đi thì không dám, mà giữ
nguyên thì không biết dạy thế nào. Viết giáo trình thì thêm mắm
muối cho đủ mâm bát. Các giảng viên đùn đẩy cho nhau, không hào
hứng dạy phần này và không ra bài tập cho sinh viên vào chỗ ấy, vì
hơn ai hết họ hiểu nỗi khổ tâm của học trò.
Từ sự phân tích trên chúng tôi cho rằng từ nay cần loại bỏ khái
niệm phương pháp sáng tác ra khỏi chương trình lí luận văn học ở các
cấp. Bỏ nó đi giáo trình sẽ viết lại khoa học hơn, giảng viên yên tâm,
sinh viên không còn lo lắng. Các nhà lí luận giành thì giờ bàn luận về
phong cách, tất cả đều hay. Bỏ khái niệm phương pháp sáng tác
không phải là hành vi theo đuôi nước ngoài, mà là bỏ đi một thuật
ngữ nguỵ tạo của lí luận văn học Xô viết, một thuật ngữ dị loại đối với
khoa học văn học. [20].