§Ò ¸n m«n häc Kinh tÕ ph¸t triÓn
Lª ThÞ Thanh T©m Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 40
Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta đang tiến những bước vững chắc với việc cải cách kinh tế theo hướng
mở cửa. Điều đó được thực hiện trên tinh thần “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” và
trên nguyên tắc “ bình đẳng cùng có lợi”. Chủ trương đó sẽ giúp chóng ta nhanh chóng hoà nhập
với nền kinh tế thế giới, tham gia một cách ngày càng có hiệu quả vào quá trình hợp tác và phân
công lao động quốc tế. Quá trình đó diễn ra cùng với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các mối
giao lưu thương mại giưã Việt Nam với các nước trên thế giới, để ổn định và phát triển kinh tế
Việt Nam theo hướng có lợi thì chúng ta không thể không đề cập đến vai trò điều tiết nền kinh tế
của chính phủ, một trong những công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô mà ta quan tâm ở đây là chÝnh
sách tiền tệ
Sức mạnh của nền kinh tế được thể hiện như thế nào trên thị trường cũng như trên mặt khác,
một nền kinh tế mạnh phải là một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định và để đạt được
điều đó thì chính sách tiền tệ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ổn định đồng tiền trong
nứơc, ổn định tỷ giá hối đoái, ổn định sức mua, giảm lạm phát và thúc đẩy nền kinh tế đi lên.
Giai đoạn trước đây, chính sách tiền tệ của chính phủ chỉ đơn thuần là hoạt động phát hành
tiền của NHTƯ, hiện nay cùng với sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng thì các công cụ của chính
sách tiền tệ được tăng cường nhiều hơn, có tác động lớn hơn tới nền kinh tế và vai trò của nó ngày
càng quan trọng hơn. Từ thực tế đó, việc ngiên cứu chính sách tiền tệ đó có thể hiểu rõ hơn về vai
trò mà em đã chọn đề tài “Vai trò của chính sách tiền tệ trong việc điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô
của Việt Nam giai đoạn 1996-2000” để thông qua đó em có thể đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn
thiện chính sách tiền tệ hiện nay của ta còn nhiÒu bất cập, không phù hợp với nền kinh tế tiền tệ
theo định hướng XHCN.
Việc viết bài này nhằm mục đích nghiên cứu về chính sách tiền tệ trong giai đoạn 1996-
2000. Đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của chính sách tiền tệ dựa trên cơ sở
đường lối phát triển kinh tế Việt Nam.
Bài viết được dựa trên phương pháp biện chứng, logic có tính kế thừa và phát huy, có cân
nhắc và phê phán.
Bài viết giúp chúng ta hiểu rõ các vấn đề lý thuyết và thực tiễn về chính sách tiền tệ của đất
nó. Đặc điểm của các công cụ chính sách tiền tệ là tạo cho NHTƯ khả năng tác động có hiệu lực
đến các yếu tố tiền đề bắt buộc các tổ chức tín dụng phải tự điều chỉnh hoạt của mình theo hướng
chỉ đạo của NHTƯ nhưng vẫn phải đảm bảo quyền tự chủ trong kinh doanh cũng như sự bình đẳng
trong môi trường cạnh tranh giữa các ngân hàng
1.2. Đặc điểm của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế –
tài chính của quốc gia. ở mỗi quốc gia, chính sách tiền tệ do NHTƯ vạch ra và NHTƯ sẽ đưa nó
vào hệ thống thực tế nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô. Trên cơ sở đó, tuỳ
thuộc vào từng thời kỳ hình thành của mỗi quốc gia mà xác định đâu là mục tiêu chính.
Một chính sách tiền tệ hoàn hảo sẽ xây dựng một “tứ giác thần kỳ” ứng với một tốc độ lạm
phát 1% - 3%, thất nghiệp vào khoảng 4% trên tổng số lao động, tăng trưởng kinh tế phải đạt từ 3%
- 5% và làm sao cho số dư trong cán cân thanh toán quốc tế chiếm từ 2% - 3% trên GNP. Một quốc
gia sẽ cực kỳ ổn định nếu nó đạt đựoc “ tứ giác thần kỳ” này.
2
§Ò ¸n m«n häc Kinh tÕ ph¸t triÓn
Lª ThÞ Thanh T©m Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 40
Đề án môn học
Vì chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành trong hệ thống các chính sách kinh tế – tài
chính của quốc gia và trong hệ thống đó, các bộ phận cấu thành có mối quan hệ tác động hữu cơ
với nhau. Do vậy, một chính sách tiền tệ hữu hiệu đòi phải được thiết lập và vận hành trong mối
quan hệ hữu cơ với chính sách khác đứng trên góc độ toàn cục, chứ không nên tồn tại với tư cách là
một yếu tố độc lập mặc dù nó cực kỳ quan trọng.
Tuy nhiên, chính sách tiền tệ có vai trò quan trọng tương đối độc lập với các chính sách
khác xuất phát từ ba luận điểm sau:
- Một là, sẽ không có tăng trưởng kinh tế nếu không có đầu tư
- Hai là, không thể có đầu tư mà không có tiết kiệm
- Ba là, không thể có tiết kiệm nếu thiếu sự ổn định giá cả và tiền tệ.
Chính vì vậy, chính sách tiền tệ có nhiệm vụ tác động vào nhiều hướng tạo ra đầu tư, tạo ra
tiết kiệm và tạo ra sự ổn định về giá cả và tiền tệ.
Như vậy, chính sách tiền góp phần quan trọng vào sự thành công hay thất bại của nền kinh
ra có tính tới yếu tố lạm phát thông thường nhưng không thể tính tới yếu tố lạm phát bất thường.
Khi đó mọi người nhất là các chủ đầu tư không quan tâm, tin tưởng trong việc tính toán công việc
đầu tư nên không khuyến khích đầu tư.
Nếu lạm phát cân bằng có dự tính trước thì sẽ không ảnh hưởng gì đến sản lượng thực tế,
hiệu quả hoặc phân phối thu nhập. Giả sử một nền kinh tế trong đó lạm phát hàng năm 10% mãi
mãi. Mọi người đều biết trước được điều đó, thấy trước được sự vận động của nó và có thể tính tới
điều đó khi thực hiện hành vi của mình.
Như vậy lạm phát tồn tại rất lâu dài trong nền kinh tế hàng hoá. Bên cạnh tác hại của nó mà
người ta dễ dàng nhận thấy, thì lạm phát trong chừng mực nào đó lại là một yếu tố kích thích kinh
tế tăng trưởng. Các nhà kinh tế học còn gọi đó là liều thuốc bổ tăng trưởng kinh tế. Bởi lẽ, lạm phát
chính là việc đưa một khối lượng tiền ra lưu thông.Trong nền kinh tế thị trường, công việc đưa tiền
ra lưu thông thường thông qua con đường tín dụng. Khi bơm vốn vào nền kinh tế bằng con đường
tín dụng thì sẽ mở mang các doanh nghiệp tạo điều kiện đầu tư chiều rộng và chiều sâu và dẫn tới :
I ↑→ AD ↑→ Y↑, U↓.
Như vậy, nhiệm vụ của NHTƯ là kiểm soát lạm phát, ổ định tiền tệ, tạo tiền đề cho nền
kinh tế phát triển bình thường, đảm bảo đời sống cho người dân lao động. Tuy nhiên, thực chất của
việc kiểm soát lạm phát là chấp nhận sự biến động với biên độ cho phép.
2.2. Ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền
Trong nền kinh tế mở, xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế – tài chính thế giới diễn ra rất
nhanh và sâu sắc. Trước tình hình đó, các nước trên thế giới đều hướng về các thị trường tài chính
quốc tế để theo dõi sự biến động cuả các đồng tiền chủ chốt nhằm tránh các tác dụng tiêu cực của
các biến động trên thị trường tài chính thông qua hệ thống tỷ giá hối đoái. Một sự biến động của tỷ
giá hối đoái Ýt hay nhiều đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế trong nước tuỳ theo mức độ hướng
ngoại của nền kinh tế.
Tỷ giá hối đoái chịu sự tác động mạnh của khối lượng dự trữ ngoại hối, thị trường hối đoái
và các chính sách hối đoái, tình hình giá cả trong nước. Do đó, một chính sách tiền tệ nhằm ổn định
kinh tế trong nước cần phải đi đôi với những biện pháp nhằm ổn định tỷ giá hối đoái. Do tính chất
tổng hợp, tỷ giá hối đoái ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động kinh tế của một đất nước, đặc biệt là
hoạt động xuất nhập khẩu.
Chính vì vậy mà hiện nay hầu hết các quốc gia đều thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái thả
Về phương tiện cơ sở tiền tệ, để tăng trưởng kinh tế, NHTƯ thực hiện chính sách tiền tệ nới
rộng. Tác động đó thông qua hai chiều.
Khi khối lượng tiền tệ tăng, tác động nền kinh tế diễn ra dưới dạng sơ đồ:
MS ↑ → i ↓ → I ↑, mở rộng sản xuất → AD↑ → Y ↑.
Nếu tỷ lệ gia tăng tổng sản phẩm xã hội lớn hơn nhịp gia tăng dân số sẽ có tăng trưởng kinh
tế.
Mặc khác, sù gia tăng khối tiền đưa đến tác dụng làm tăng số cầu tổng hợp. Các thành phần
dân cư có tiền nhiều hơn sẽ tăng sức cầu tiêu thụ và hoạt động thương mại trên thị trường tăng giúp
giải quyết hàng tồn đọng, làm cho các doanh nghiệp gia tăng sản xuất, hàng hoá lưu thông, phân
phối với nhịp điệu nhộn nhịp hơn. Kết quả là đến một lúc nào đó doanh nghiệp phải tăng thêm
trang thiết bị, nhà xưởng, đầu tư vào máy móc, kỹ thuật công nghệ. Cả hai sức cầu về sản phẩm
tiêu dùng và đầu tư tăng. Từ đó tổng sản phẩm xã hội tăng. Nếu mức tăng đó lớn hơn nhịp độ gia
tăng dân số sẽ có tăng trưởng kinh tế.
Việc gia tăng khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế trong thời kỳ đầu các quốc gia thường sử
dụng hạn mức tín dụng. Khi nền kinh tế thị trường vận động một cách thuần thục thì việc cung ứng
tiền chủ yếu được thực hiện thông qua các công cụ gián tiếp: dữ trữ bắt buộc, tái chiết khấu, lãi
suất tín dụng và thị trường mở. Bốn công cụ đó cùng tác động vào mức cung tiền tệ cho nền kinh
tế.
2.4. Tạo việc làm, giảm bớt thất nghiệp
Như ta biết trong nền kinh tế thị trường giữa tăng trưởng và suy thoái được diễn ra theo chu
kỳ. Việc toàn dụng nhân công và thất nghiệp luôn đan xen nhau.
5
Đề án môn học Kinh tế phát triển
Lê Thị Thanh Tâm Lớp: Kinh tế phát triển 40
ỏn mụn hc
Tht vy, trong nn kinh t s tỏc ng ca tng cung v tng cu s nh hng n s tng
trng kinh t:
AD = C+ I + G + ( X- M)
AS = f ( T, R, K, L )
Trong thc t, s tng trng kinh t bt c nc no cng khụng th kộo di mói vi thi
6
NHTƯ Các
NH
Thị tr
ờng vốn
mức cung
tiền tệ
dữ trữ
1 2
Đề án môn học Kinh tế phát triển
Lê Thị Thanh Tâm Lớp: Kinh tế phát triển 40
ỏn mụn hc
Nhỡn khỏi quỏt v vn tin t nh hng nh th no n sn lng v lm phỏt nn kinh t
3. Cỏc cụng c chớnh sỏch v u nhc im ca nú
3.1. Chớnh sỏch lói sut cho vay v lói sut tin gi
Lói sut ngõn hng v thc cht l giỏ v quyn s dng vn bng tin. Nú l tiờu chun
cho vic thc hin cỏc giao dch v quyn s dng vn bng tin gia ngi i vay v ngi cho
vay. V nguyờn tc mc lói sut ph thuc vo tng quan cung cu v vn. Tuy nhiờn, do tớnh c
thự ca kinh doanh ngõn hng nờn mc lói sut huy ng li b chn di bi ch s lm phỏt v b
chn trờn mc lói sut cho vay. n lc lói sut cho vay li ph thuc vo hiu qu chung ca
vic s dng tin vn ca cỏc doanh nghip v ch s giỏ c. Hin nay lói sut do Nh nc khng
ch. Trờn bỡnh din v mụ chớnh sỏch lói sut cú nh hng rt ln n dũng lu chuyn tin t v
do oa nh hng trc tip n kinh doanh ca cỏc Doanh nghip. Vỡ vy, trong vic quy nh v
khng ch lói sut nu vi phm nguyờn tc nờu trờn tt yu s nh hng n mt trong hai phớa v
cui cựng n c hai phớa trong quan h tớn dng v s tng trng nn kinh t quc dõn.
Thụng thng chớnh sỏch lói sut i vay hay lói sut tin gi v lói sut cho vay bin i
-Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn bao giờ cũng phải bằng lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn.
-Lãi suất đồng ngoại tệ bằng lãi suất đồng nội tệ.
-Lãi suất dài hạn bao giờ cũng lớn hơn lãi suất ngắn hạn
-Lãi suất giữa các thành phần kinh tế khác nhau phải giống nhau
-Lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân
Hiện nay, trên thế giới có hai quan điểm về cơ chế hình thành lãi suất
-Quan điểm thứ nhất: Ên định lãi suất, tức là NHTƯ phải quy định lãi suất đối với các ngân
hàng trung gian.
-Quan điểm thứ hai: thả nổi lãi suất, tức là lãi suất do thị trường quyết định
Tuy nhiên tuỳ thuộc vào hoàn cảnh khách quan cũng như chủ quan của từng quốc gia mà có
những chính sách lãi suất phù hợp.
Tóm lại, công cụ lãi suất trong chính sách tiền tệ là một công cụ cực kỳ lợi hại, có sức phản
công rất ghê gớm, một nhà kinh tế người Mỹ đã nói, nó là một công cụ để kích thích sản xuất đồng
thời là một công cụ để làm hạn chế sản xuất, tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại của những
người sử dụng công cụ này.
3.2. Dự trữ bắt buộc
NHTƯ được giao quyền bắt buộc các ngân hàng trung gian phải ký gửi tại NHTƯ một phần
của tổng số tiền mah ngân hàng trung gian nhận được từ dân cư và các thành phần kinh tế theo một
tỷ lệ nhất định. Phần bắt buộc ký gửi đó được gọi là dữ trữ bắt buộc và tỷ lệ phần trăm mà NHTƯ
quy định như trên được gọi là tỷ lệ dữ trữ bắt buộc. Như vậy, tỷ lệ dữ trữ bắt buộc là hệ số giữa số
lượng phương tiện thanh toán cần phải vô hiệu hoá trên tổng số tiền ký thác của khách hàng tại
ngân hàng trung gian.
Mục đích của việc thực hiện dữ trữ bắt buộc là nhằm:
-Giới hạn khả năng cho vay của ngân hàng trung gian và đảm bảo an toàn tiền gửi cho
khách hàng
-Việc tập trung dữ trữ của ngân hàng trung gian ở NHTƯ còn là phương tiện để NHTƯ có
thêm quyền lực điều khiển hệ thống ngân hàng, tạo ra sự lệ thuộc của ngân hàng trung gian đối với
NHTƯ
-Duy trì khả năng thanh toán của các ngân hàng trung gian trong nhiều trường hợp khẩn
cấp như trường hợp xẩy ra đồng loạt rút tiền gửi của công chúng, tránh được cuộc khủng hoảng
Thông qua lãi suất tái chiết khấu, NHTƯ có thể khuyến khích giảm hoặc tăng mức cung
ứng tín dụng của NHTM đối với nền kinh tế,đồng thời giảm hoặc tăng mức cung ứng tiền. Khi thực
hiện chính sách “ thắt chặt tiền tệ”, NHTƯ sẽ nâng lãi suất chiết khấu lên. Khi đó, các NHTM sẽ
nâng lãi suất cho vay hoặc hạn chế bớt những co hội cho vay. Và ngược lại, nếu thực hiện chính
sách tiền tệ “ nới lỏng”, NHTƯ hạ thấp lãi suất chiết khấu, NHTM trong trường hợp này, đi vay rẻ
hơn nên có khuynh hướng giảm lãi suất cho vay dẫn đến nhu cầu cho vay gia tăng.
Ngoài ra, chính sách chiết khấu, tái chiết khấu còn là một công cụ đắc lực trong định hướng
phát triển kinh tế. Đối với chính sách kích thích xuất khẩu, NHTƯ sẽ ưu tiên mức tái chiết khấu
các thương phiếu xuất khẩu hoặc nâng hạn mức tái chiết khấu đối với thương phiếu đó.
Như vậy, chiết khấu và tái chiết khấu là hành động mua bán các thương phiếu của NHTƯ
nhằm điều chỉnh mức cung ứng tín dụng của NHTM đối với nền kinh tế, đồng thời qua đó điều
chỉnh cung ứng tiền tệ.
Tuy nhiên, mỗi một công cụ đều có ưu nhược điểm riêng của nó. Cũng vậy tái chiết khấu có
ưu nhược điểm sau:
ưu điểm:
• Các khoản cho vay của NHTƯ đều đảm bảo bằng giấy tờ có giá. Do đó nó có khả năng tự
thanh toán
• Có tính chất tích cực hơn biện pháp tín dụng do chịu sự tác động của quy luật cung cầu.
nhược điểm:
• NHTƯ bị động do yếu tố chủ động vay nằm ở NHTM.
3.4. Nghiệp vụ thị trường mở
9
§Ò ¸n m«n häc Kinh tÕ ph¸t triÓn
Lª ThÞ Thanh T©m Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 40
Đề án môn học
Nếu như công cụ tái chiết khấu là công cụ thụ động của NHTƯ, tức là NHTƯ phải đợi
NHTM có nhu cầu đi vay lại ở NHTƯ mới đÕn để xin tái chiết khấu thì nghiệp vụ thị trường mở là
công cụ chủ động của NHTƯ để điều khiển khối lượng tiền.
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động NHTƯ mua bán giấy tờ có giá với mục đích tác động
đến thị trường tiền tệ, điều hoà cung và cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối dữ trữ của
lưu thông giảm theo.
3.6. Kiểm soát tín dụng chọn lọc
10
§Ò ¸n m«n häc Kinh tÕ ph¸t triÓn
Lª ThÞ Thanh T©m Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 40
Đề án môn học
Chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc được áp dụng ở rất NHTƯ, chẳng hạn ở Nhật,
Pháp, Đức,
Chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc sẽ giới hạn mức tín dụng tối đa cấp cho các ngành
mà nhà nước không muốn phát triển nữa, ngược lại, ưu đãi những ngành hoạt động được coi như
ưu tiên,cần yểm trợ tín dụng mạnh hơn. Nếu không có chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc,
ngân hàng trung gian sẽ chỉ hướng tín dụng vào những ngành kinh doanh lớn, xí nghiệp nước
ngoài, mua bán chứng khoán, Ýt chú trọng tới những ngành hoạt động có lợi Ých xã hội.
Để chính sách này thật sự mang tính hữu hiệu, cần phải thường xuyên nâng cao chất lượng
kiểm soát và thanh tra ngân hàng trung gian.
3.7. Ấn định hạn mức tín dụng
Ên định hạn mức tín dụng là việc NHTƯ quy định, một khối lượng tín dụng phải cung cấp
cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định và sau đó tìm cách để đưa nó vào nền kinh tế. Biện
pháp này được áp dụng rất lâu và khá phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa theo cơ chế kế hoạch
hoá tập trung trước đây.
Khi NHTƯ muốn bành trướng khối tiền tệ, khối lượng cho vay ở các ngân hàng trung gian
mở rộng hạn mức tín dụng. Ngược lại, nếu muốn hạn chế tín dụng ở ngân hàng trung gian, giảm
thiểu khối tiền tệ thì NHTƯ sẽ thu hẹp hạn mức tín dụng.
Ngoài những công cụ được trình bày trên đây, còn có các công cụ khác cũng được áp dụng trong
việc thực thi chính sách tiền tệ như : chính sách tỷ giá, Ên định một biên vực bắt buộc trong việc
cho vay, chính sách ngoại hối, dữ trữ ngoại hối
4. Kinh nghiệm thực hiện chính sách tiền tệ ở một số nước trong những
năm 1996 2000
4.1. Tổng quan về nền kinh tế vĩ mô
vĩ mô đã không điều chỉnh được quá trình bùng nổ và bị ru ngủ bởi bản chất tư nhân của dòng vốn.
Sự hội nhập và toàn cầu hoá đã khiến cho mỗi nước trở thành một “mắt xích” trong guồng
máy hoạt động kinh tế thế giới. Chính vì vậy, sự khủng hoảng tiền tệ năm 1997 đã ảnh hưởng rất
lớn đến nền kinh tế của nhiều nước trong đó có Việt Nam. Đồng thời chính trong giai đoạn 1996 –
2000, sau cuộc khủng hoảng, các nước Đông Nam Á đã từ từ khôi phục lại nền kinh tế của mình.
Từ cuộc khủng hoảng đó, đã đặt ra cho Việt Nam những vấn đề gì ? trong khi: xu thế toàn cầu hoá,
khu vực hoá và quốc tế hoá thị trường nói chung Việt Nam nên nhìn nhận những bài học kinh
nghiệm của các nước đi trước để tránh đi những bước sai lầm, đặc biệt là trong vấn đề thực thi
chính sách tiền tệ.
4.2. Những bài học kinh nghiệm.
Về cơ cấu vĩ mô : Trong suốt gần hai thập kỷ, du các quốc gia này đến chú trọng đến việc
nâng cao tỷ lệ tiết kiệm nội địa.nhưng nếu so sánh với tốc độ tăng trưởng của các ngừn vốn nước
ngoài thì vẫn có sự tương thích đối với tài chính ngân hàng.Bản thân hệ thống tài chính ngân hàng
vẫn còn một số nhược điểm nhất định, vẫn còn yếu kém như cho vay còn phụ thuộc rất nhiều quan
hệ cá nhân, nạm tham nhũng vẫn còn hoành hành, thì việc đầu tư các ngân hàng không đảm bảo
hiệu quả kinh tế. Trong khi đó các quan hệ tài chính chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng, mà Ýt
dựa vào hệ thống thị trường chứng khoán, hệ thống NHTM được xem như là một cong cụ để thực
hiện các chính sách của Chính phủ, chứ không phải một định chế kinh doanh độc lập trong cơ chế
thị trường.
Trên thực tế, các quốc gia này đã thực hiện một số chính sách tự do hoá tài chính trên cơ sở
hệ thống tài chính yếu kém, các nguồn vốn chu cấp đến mức không thể kiểm soát được, dẫn đến
tình trạng khi các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn thì khủng hoảng phải là điều tất yếu .
Mô hình phát triển kinh tế của các nước chủ yếu dựa vào xuất khẩu (do chiếm được ưu thế
về sức lao động rẻ), trong đó xuất khẩu vào thị trường như Mỹ, Nhật chiếm tỷ trọng rất lớn. Những
đánh giá lạc quan về triển vọng phát triển theo mô hình này trong một thời gian dài đã làm cho
chính sách của các quốc gia này thiếu hẳn nét linh hoạt. Do vậy, một khi có những biến động bất
lợi từ phía các thị trường lớn thì ngay lập tức sẽ dẫn tới phản ứng dây chuyền đối với ngành sản
xuất công nghiệp.
12
Lª ThÞ Thanh T©m Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 40
Đề án môn học
PHẦN II
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ 1996 - 2000
I. THỰC TRẠNG
1. Bối cảnh chung của nÒn kinh tế vĩ mô
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam thời gian qua, chóng ta đã thu được những
kết quả bước đầu rất khả quan, tạo được niềm tin trong dân chúng cũng như các nhà đầu tư trong
và ngoài nước. Nền kinh tế đạt được nhịp độ tăng trưởng tương đối khá và bắt đầu có tích luỹ, đầu
tư được mở rộng,sản xuất lưu thông phát triển. Tuy nhiên, kể từ tháng 9 năm 1997, do sự tác động
của cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính trong khu vực,nên từ chỗ có mức tăng trưởng liên tục
trong nhiều năm (8% - 9%), nên kinh tế nước ta bắt đầu có dấu hiệu chững lại, mức tăng trưởng
năm 1998 chỉ còn 5,8% và năm 1999 là 4,8%, năm 2000 là 6,75%. Tác động của khủng hoảng tài
chính khu vực đã đưa đến những tổn thất cho nền kinh tế trên các mặt:
-Nguồn vốn đầu tư nước ngoài giảm sút gây ra sự hẫng hụtlớn trong đầu tư phát triển. Một
số ngành kinh tế vốn rất sôi động trước đây như: xây dựng, du lịch cũng gặp những khó khăn nhất
định.
-Thu nhập, sức mua của người dân giảm dẫn đến sức tiêu thụ hàng hoá trên thị trường giảm
sút làm cho các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ sản
phẩm của mình.
-Nền kinh tế từ chỗ luôn đối phó với tình trạng lạm phát, thì nay phải đề phòng với nạn
giảm phát.
14
§Ò ¸n m«n häc Kinh tÕ ph¸t triÓn
Lª ThÞ Thanh T©m Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 40
Đề án môn học
- Chỉ số giá tiêu dùng và dịch vụ liên tục giảm từ tháng 3 đến tháng 10, qua tháng 11 có
tăng chút đỉnh nhưng nhìn chung, chỉ số trượt giá và lạm phát 11 tháng đầu năm 1999 vẫn tiệp tục
giảm 0,4% và năm2000 vẫn ở mức thấp , giảm 0,6% so với 31/12/1999, một hiện tượng chưa từng
Chóng ta sẽ xem xét sự hoạt động của chính sách tiền tệ trong giai đoạn 1996 – 2000 thông
qua các công cụ sau.
2.1. Công cụ lãi suất
Trong những năm qua chính sách và mức lãi suất đã được thay đổi ngayg càng phù hợp hơn
với tình trạng tương quan cung cầu trên thị trường vốn, với điều kiện giao dịch của hệ thống ngân
15
§Ò ¸n m«n häc Kinh tÕ ph¸t triÓn
Lª ThÞ Thanh T©m Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 40
Đề án môn học
hàng và Doanh nghiệp và những diễn biễn của kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, lãi suất tín dụng ngân
hàng ở Việt Nam hiện nay đang còn bộc lộ nhiều yếu điểm ảnh hưởng xấu tới sự vận động bình
thường của dòng lưu thông tiền tệ trong điều kiện của cơ chế kinh tế thị trường và tới môi trường
kinh doanh của các Doanh nghiệp. Cụ thể:
Từ cuối năm 1995 có sự thay đổi trong chính sách lãi suất và để phù hợp quá trình thay đổi
đó trong năm 1996, NHNN ban hành 4 quyết định điều chỉnh lãi suất, các NHTM cảm thấy hết sức
lúng túng vì phải liên tục điều chỉnh mà trên thực tế tác dụng không có là bao vì biên độ của mỗi
lần điều chỉnh từ 0,1% - 0,2%.
Năm 1998 chính sách lãi suất được thực hiện trong mối quan hệ hài hoà voí tỷ giá nhằm
hạn chế những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đến Việt Nam. NHNN tiếp tục
thực hiện việc kiểm soát lãi suất trên thị trường tiền tệ bằng chính sách quy định trần lãi suất cho
vay đối VNĐ và ngoại tệ; xoá bỏ quy định chênh lệch lãi suất cho vay với lãi suất huy động bình
quân 0,35%/ tháng như năm 1996, 1997; đã xoá bỏ sự phân biệt mức lãi suất cho vay trên địa bàn
nông thôn và thành thị, tự do hoá lãi suất tiền gửi. Trong năm có 2 lần điều chỉnh lãi suất như sau:
-Lần thứ nhất: (ngày 20/1/1998) cho vay ngắn hạn điều chỉnh từ 1%/tháng tăng
1,2%/tháng; cho vay trung hạn điều chỉnh từ 1,1%/tháng tăng 1,25%/tháng; trần lãi suất cho vay
QTDND cở sở cho vay thành vien là 1,5%/ tháng; trần lãi suất cho vay bằng USD vẫn giữ nguyên
8,5%/năm như trước đây.
-Lần thứ hai: (11/9/1998) Trần lãi suất cho vay bằng USD được điều chỉnh từ 8,5%/năm
xuống 7,5%/năm để phù hợp mặt bằng lãi suất LIBOR, SIBOR hiện hành. Cụ thể lãi suất các loại
tiền gửi bằng USD của pháp nhân được quy định :
cho vay trung hạn tại thời điểm cho vay cộng với biên độ do Thống đốc NHNN quy định. Trong
năm 2000, biên độ cho vay ngắn hạn là 1%/năm, biên độ cho vay trung và dài hạn là 2,5%/năm.
1996 – 1997 1998 1999 2000
lãi suất thực dương
Xoá bỏ lãi suất cho vay
thoả thuận, đưa thêm lãi
suất tín dụng khu vực nông
thôn và khu vực QTD vào
hệ thống lãi suất cho vay.
Xoá bỏ việc quy định cụ thể
lãi suất tiền gửi
áp dụng chênh lệch lãi suất
đầu vào đầu ra
Thống nhất lãi suất tín dụng
giữa khu vực thành thị và
khu vực nông thôn.
Tù do hoá hoàn toàn lãi suất
đầu vào
Hợp nhất lãi suất cho vay
ngắn hạn, dài hạn
Xoá bỏ kiểm soát lãi
suất tiết kiệm ngoại tệ
ChuyÓn từ cơ chế lãi
suất trần sang cơ chế
lãi suất cơ bản để điều
tiết
lãi suất tín dụng dài hạn cao hơn lãi suất tín dụng ngắn hạn
2.2 Công cụ dữ trữ
Ngày 1/12/1997 DTBB được thực hiện theo quy chế mới. Quy chế dữ trữ bắt buộc lần này
đã quy điịnh cụ thể hơn, linh hoạt hơn thể hiện ở quy định tiền gửi, dữ trữ bắt buộc tại NHNN được
2.3. Công cụ tái cấp vốn và tái chiết khấu
Trong năm 1998 NHNN thực hiện tái cấp vốn ngắn hạn nhằm bù đắp khó khăn tạm thời về
thanh toán cho các NHTM theo các hình thức:
- Cho vay thế chấp chứng từ
- Cho vay thế cháp bằng tiền gửi ngoại tệ của các NHTM tại NHNN
Lãi suất tái khấu được điều chỉnh từ mức 1%/tháng lên 1,1%/tháng, thấp hơn trần lãi suất
cho vay ngắn hạn là 0,1%/tháng
Năm 1999 NHNN đã 4 lần giảm lãi suất cho vay tái cấp vốn từ mức 1,1%/tháng đầ năm
xuống còn 0,5%/tháng.Đông thời NHNN đã ban hành quy chế về nghiệp vụ chiết khấu của NHNN
đối với các ngân hàng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ và tạo khả năng cân đối vốn hoạt động
cho vay của các ngân hàng. Các giấy tờ có giá ngắn hạn được chiết khấu tại NHNN là tín phiếu kho
bạc thông qua đấu thầu tại NHNN, tín phiếu NHNN và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác được quy
định trong từng thời kỳ. Lãi suất chiết khấu được công bố là 0,45%/tháng.
2.4. Tỷ giá
Trong thời gian 1996 – 1997, chính sách điều hành tỷ giá được linh hoạt hơn theo cơ chế
thị trường, nhằm khuyến khích hoạt động xuất khẩu, bảo đảm hạn chế nhập khẩu. Quý 1/1997
NHNN đã chủ động điều chỉnh tỷ giá mở rộng biên độ so với tỷ giá chính thức từ ± 1% lên ± 5%.
Tỷ giá USD/VNĐ có xu hwongs nhích lên, hầu hết các NHTM niêm yết sát trần tỷ giá.
Năm 1998, trước những tác động bất lợi từ cuộc khủng hoảng khu vực đến Việt Nam,
NHNN đã thực hiện biện pháp điều hành tỷ giá linh hoạt và kịp thời đạt được những mục tiêu đề ra
đồng thời không gây sốc lớn trong nền kinh tế. Trong năm 1998, tỷ giá chính thức đã được điều
chỉnh 2 lần: Lần thứ nhất vaod ngày 16/2/1998, tỷ giá chính thức tăng từ mức 11.175 VND/USD
lên 11.800 VND/USD với biên độ giao động ±10%( tăng 5,6 % so với đầu năm). Đến ngày
7/8/1998 NHNN điều chỉnh tăng lần thứ hai đưa tỷ giá chính thức lên 12.998 VND/USD(tăng
16,3% so với đầu năm ), đồng thời biên độ giao dịch được điều chỉnh giảm từ +10% xuống 7% để
thu hẹp dần khoảng cách giữa tỷ giá chính thức với tỷ giá trên thị trương ngoại tệ liên ngân hàng.
Sau hai lần điều chỉnh tỷ giá phản ánh sát hơn tương quan cung cầu ngoại tệ trên thị trường, góp
phần hạn chế việc đầu cơ ngoại tệ làm tăng doanh sè giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng giảm bớt sức Ðp đối với dữ trữ ngoại tệ của Nhà nước .
18
đáng kể, cụ thể trong năm 1998 đã tăng cường khả năng kiểm soát luồng ngoại tệ của NHNN, Thủ
Tướng Chính Phủ đã ban hành quyết định về nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ của người cư trú
là tổ chức. Đây là một giải pháp tình thế để giảm bớt căng thẳng giữa cung và cầu ngoại tệ. Mặt
khác, để tăng cường khả năng hoà hợp quốc tế, Chính Phủ đã ban hành cơ chế quản lý ngoại hối
mới thay thế cơ chế quản lý ngoại hối cũ, thể hiện ở Nghị định 63/NĐ-CP ngày 17/8/1998. Việc
ban hành nghị định 63 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế,
từng bước thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng Việt Nam trong các hoạt động ngoại hối và
hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối của Việt Nam, tăng cường giám sát và quản lý ngoại hối của
Nhà nước.Công tác quản lý nợ nước ngoài cũng từng bước hoàn thiện.Ngày 7/11/1998, CP đã ban
hành Nghị định số 90/NĐ-CP thay thế nghị định số 58/CP về quản lý vay trả nợ nước ngoài. Kết
quả dư nợ ngắn hạn vay nước ngoài của năm 1998 chỉ bằng 46% năm 1997.
Trong năm 1999, trọng tâm của công tác quản lý ngoại hối là tiếp tục thực hiện chủ trương
cải cách các thủ tục hành chính, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước nhưng vẫn đảm bảo tính
19
§Ò ¸n m«n häc Kinh tÕ ph¸t triÓn
Lª ThÞ Thanh T©m Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 40
Đề án môn học
chủ động, linh hoạt cho các Doanh nghiệp. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thực
hiện các quy định của Nhà nước về quản lý ngoại hối, NHNN đã tiến hành hệ thống hoá lại các văn
bản về quản lý ngoại hối, thay thế một số văn bản cũ, ban hành các văn bản mới mang tính chất
hướng dẫn. Cùng với việc hướng dẫn các quy định, NHNN tiếp tục tăng cường kiểm soát vay, trả
nợ nước ngoài, quản lý kinh doanh vàng…Trong năm 1999, NHNN cũng đã thực hiện điều chỉnh
tỷ lệ kết hối ngoại tệ từ 80% các nguồn thu vãng lai của doanh nghiệp xuoóng 50% để tăng cường
tính chủ động trong việc sửdụng ngoại tệ của các doanh nghiệp, từng bước tiến tới tự do hoá các
giao dịch ngoại tệ.
Năm 2000, chính sách quản lý ngoại hối tiếp tục đổi mới theo hướng nới lỏng các giao dịch
vãng lai, khuyến khích thu hút nguồn vốn ngoại tệ vào Việt Nam thông qua việc cho phép được
nhận tiền chuyển từ nước ngoài về bằng ngoại tệ hoặc VND,không phải đóng thuế, cho phép người
cư trú là cá nhân được gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ không kể nguồn gốc tại các TCTD được phép,
được hưởng lãi suất bằng ngoại tệ, được rót ra cả gốc và lãi bằng ngoại tệ, bán ngoại tệ cho các
Đề án môn học
Về phạm vi đã mở rộng đối tượng khách hàng vay vốn của các TCTD. Loại cho vay,
phương thức cho vay được đa dạng hoá để TCTD áp dụng linh hoạt phù hợp với từng khách hàng
có đặc điểm chu kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau.
Để thoá gỡ khó khăn cho khách hàng trường hợp không trả nợ đúng hạn do nguyên nhân
khách quan, ngoài biện pháp cho gia hạn nợ, TCTD được phép thoả thuận điều chỉnh kỳ hạn nợ;
TCTD được quyền xem xét cho miễn giảm lãi tiền vay theo quy chế, nếu khách hàng bị rủi ro thiệt
hại về tài sản có liên quan đến vốn vay do nguyên nhân khách quan.
Trong năm 1999, chính sách tín dụng đã thực thi với các giải pháp đồng bộ nhằm mở rộng
tín dụng, chú trọng kết hợp với nâng cao chất lượng tín dụng phù hợp với chủ trương, chính sách
“kích cầu” của Chính phủ nhằm góp phần ngăn chặn đà sút giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế.
-Bên cạnh quy chế tín dụng số 324/1998/QĐ-NHNN, để đáp ứng yêu cầu mở rộng đầu tư ở
khu vực nông nghiệp – nông thôn, ngày 30/3/1999,TTCP đã ban hành quyết định số 67/QĐ-TTg về
một số chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, trong đó quy định: mở
rộng cho vay trung, dài hạn, cho vay đối với cả dự án xây dựng CSHT nông thôn, NHNN quy định
trần lãi suất cho vay đối với khu vực nông thôn lớn khu vực thành thị để tạo điều chuyển phân bổ
khối lượng vốn ngày càng lớn đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn; chương trình cho vay xoá đói,
giảm nghèo được triển khai ngày càng sâu rộng.
-Tín dụng xuất khẩu: NHNN đã khuyến nghị các NHTM tăng cường cho vay và có chính
sách khách hàng ưu đãi đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu nhằm góp phần
chặn đứng tình trạng giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế và khắc phục sự mất cân đối về cán cân
thương mại.
-Tín dụng tiêu dùng: Thực hiện các giải pháp kích cầu của Chính phủ, NHNN đã khuyến
khích các TCTD tăng cường cho vay tiêu dùng đối với cá nhân, hộ gia đình nhưng phải đảm bảo
chất lượng tín dụng.
-Tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ: Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày
càng tăng đối với sự phát triển nền kinh tế, đối tượng khách hàng quan trọng của các TCTD. Vì
thế, cơ chế tín dụng hiện hành áp dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng bình đẳng như đối
với các doanh nghiệp khác.
Năm 2000, cơ chế tín dụng ngân hàng đã tiếp tục hoàn thiện góp phần mở rộng đầu tư tín
giá ngày 12/10/1997 song các áp lực giường như lại cá xu hướng tăng lên. Tỷ giá liên ngân hàng
luôn ở mức trần cho phép và tỷ giá thi trường tự do còn biến động cao hơn mức trần tới gần 9%
ngày 23/10/1997 và tới 15% vào giữa tháng 12 năm 1997.
Trong bối cảnh như vậy, việc còn duy trì kiểm soát lãi suất là rất thiết thực, vì NHTƯ có
thể ngay lập tức tăng giá trị tương đối của việc nắm giữ đồng nội tệ bằng cách tăng lãi suất các tài
sản tài chính của hệ thống ngân hàng. Thực tê, NHNNVN đã phải sử dụng chính công cụ này để
hạn chế các dòng dịch chuyển nguồn tiền tệ, cụ thể là:
+Tăng trần lãi suất tín dụng từ 1,1% lên 1,2%/tháng đối với tín dụng ngắn hạn và từ 1,2%
lên 1,25%/ tháng đối với tín dụng dài hạn.
Nâng lãi suất tái cấp vốn của NHNN cho các tổ chức tín dụng từ 0,9% lên 1,1%/tháng theo
quyết định số 40/1998/QĐ ngày 17/1/1998.
+ Giảm lãi suất ngoại tệ theo quyết định 309/1998/QĐ - NHNN1 ngày 10/9/1998. Theo
quyết định này, trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ áp dụng đối với các loại hình không kỳ hạn, kỳ hạn 6
tháng và trên 6 tháng giảm xuống các mức tương ứng là 0,5%/năm; 3%/năm và 3,5%/năm.
Hơn thế nữa, khủng hoảng kinh tế Châu á đã làm bùng phát nợ có vấn đề của hệ thống
ngân hàng. Cuối năm 1997, tỷ lệ nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng là trên 12%. Vấn đề nghiêm
trọng hơn là cũng do khủng hoảng, sức mua giảm, cùng với cung vượt quá cầu trong lĩnh vực BĐS,
giá hàng hoá thế chấp, cầm cố giảm mạnh(khoảng 30 – 50%), nên nợ mất khả năng thu hồi gia tăng
(khoảng 50% nợ quá hạn). Nếu việc kiểm soát lãi suất được xoá bỏ hoàn toàn thời kỳ này thì hoạt
động hệ ngân hàng sẽ bị đẩy vào tình trạng rất rủi ro, đặc biệt là đang tồn tại sự bảo đảm ngầm của
Nhà nước. Lãi suất tín dụng có thể bị đẩy lên cao vì chính các khách hàng cũng muốn theo đuổi các
hoạt động mạo hiểm để cải thiện những khó khăn tài chính do điều kiện bất ổn kinh tế trong ngoài
nước gây ra và bản thân ngân hàng cũng có động cơ theo đuổi các hoạt động maọ hiểm để bù lỗ.
Việc xoá bỏ chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra vào năm 1998 cũng là phù hợp. Một mặt,
các TCTD cần tự chủ động trong từng trường hợp quyết định mức lãi suất tiền gửi để hạn chế sự
dịch chuyển tiền tệ. Mặt khác, tình trạng tài chính của các TCTD không như nhau được phơi bầy
trong thời kỳ khủng hoảng, hạn chế việc áp dụng các kiểm soát như nhau đối với lãi suất kinh
doanh của các TCTD.
22
§Ò ¸n m«n häc Kinh tÕ ph¸t triÓn
Năm 1996 1997 1998 1999 2000
Tốc độ tăng
trưởng (%)
9,34 8,15 5,76 4,77 6,75
Tốc độ kinh tế trong những năm 1998, 1999, 2000 có xu hướng giảm, nhưng với điều kiện
khách quan cũng như chủ quan trên để đạt được những kết quả đó cũng nói lên được sự góp phần
to lớn của chính sách tiền tệ . Đồng thời cũng chững tỏ sự trưởng thành và lớn mạnh của hệ thống
ngân hàng.
1.3. Góp phần chuyển dịch cơ cÊu
Trong thời gian qua,cơ cấu nền kinh tế quốc dân được chuyển dịch theo hướng : kinh tế
quốc oanh vẫn giữ vị trí quan trọng trong các khâu then chốt. Cơ cấu ngành kinh tế cũng chuyển
dịch theo hướng mong đợi.
23
§Ò ¸n m«n häc Kinh tÕ ph¸t triÓn
Lª ThÞ Thanh T©m Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 40
Đề án môn học
Năm 1996 1997 1998 1999 2000
Nông lâm nghiệp và thuỷ
sản
27,76 25,77 25,78 25,43 24,3
Công nghiệp và xây dựng 29,73 32,08 32,49 35,5 36,61
Dịch vô 42,51 42,15 41,73 40,67 39,09
Toàn bộ cơ cấu kinh tế ngành bước đầu chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành
công nghiệp và dịch vụ. Trong nông nghiệp, tỷ trọng của cây công nghiệp và chăn nuôi tăng khá.
Sự chuyển dịch cơ cấu trên đây phù hợp với định hướng của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với
bước đi của nền kinh tế thị trường theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, và giữ vai trò chủ đạo
của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế quốc dân.
Trong sự chuyển dịch trên đây, hệ thống ngân hàng đã có những đóng góp quan trọng. Cơ
cấu tín dụng ngân hàng đã tăng dần cho lĩnh vực kinh tế ngoài quốc doanh, trong khi bảo đảm có
chọn lọc việc duy trì những doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh có hiệu quả. Đồng thời cho thấy
tiền tệ trực tiếp bao gồm: hạn mức tín dụng, lãi suất, tỷ giá. Bên cạnh đó, các công cụ gián tiếp như
dữ trữ bắt buộc và chính sách tái cấp vốn, nhưng hiệu quả tác động còn hạn chế. ĐÓ bổ trợ cho các
công cụ trên, NHNN Việt Nam còn sử dụng một loạt chính sách điều chỉnh trực tiếp như chính
sách tín dụng, chính sách quản lý ngoại hối.
Cơ chế điều chỉnh trực tiếp đã đem lại sự thành công đáng kể cho chính sách tiền tệ trong
thập kỷ 90 khi nhìn vào các chỉ số phản ánh sự biến động của các mục tiêu vĩ mô: lạm phát, sản
lượng và công ăn việc làm. Chính sách tiền tệ đã đạt hiệu quả tối đa của nó: tỷ lệ lạm phát dưới một
chữ số cùng với tốc độ tăng trưởng bình quân 8,6% trong gần 10 năm. Điều này dương như trái với
kết luận của các nhà kinh tế học hiện đại khi cho rằng, chính sách tiền tệ chỉ có thể ảnh hưởng đến
các yếu tố thực của nền kinh tế như sản lượng hoặc công ăn việc làm trong thời gian ngắn từ một
đến hai năm. Về mặt dài hạn, các yếu tố có xu hướng quay về mức tự nhiên của nó, do đó mọi sự
thay đổi của khối lượng tiền cung ứng không gây nên những ảnh hưởng đến sản lượng và thất
nghiệp, ngoại trừ sự biến động của giá cả.
Thực chất hiệu quả bền vững của chính sách tiền tệ trong thời gian qua không chỉ kết quả
của chính sách tiền tệ, mà còn là kết quả của việc Chính Phủ Việt Nam đã sử dụng các giải pháp
cải cách mạnh mẽ có khả năng mở rộng liên tục mức sản lượng tiềm năng
Nếu quan niêm rằng mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị tiền tệ với ý
nghĩa là ổn định tỷ lệ lạm phát ở mức thấp thì trong thời gian qua, mục tiêu này chưa được thực
hiện một cách hoàn hảo: tỷ lệ lạm phát biến động tương đối mạnh và khó dự đoán từ năm này sang
năm khác. Những tác động về hiệu quả và phân phối lại của lạm phát do ảnh hưởng đến giá trị thực
của các chỉ tiêu giá trị nảy sinh từ mức lạm phát cao, mà chủ yếu từ sự bất ổn định của tỷ lệ lạm
phát. Và điều quan trọng hơn là bắt đầu từ năm 1996, mặc dù tổng phương tiện thanh toán tăng liên
tục, nhưng giá cả có xu hướng giảm ở các tháng đầu năm 1996,1997,1998 và sự giảm giá này diễn
ra hầu hết các tháng trong năm 1999 và trong năm 2000 vẫn ở mức thấp, giảm 0,6% so với
31/12/1999. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng giảm mạnh từ năm 1998 mặc dù năm 2000 có xu
hướng tăng. Điều này chứng tỏ chính sách tiền tệ của NHNN tá ra lúng túng và thiếu chủ động
trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng để đảm bảo cho nó phù hợp với nhu cầu về tiền tệ của nền
kinh tế.
Lý do chủ yếu dẫn đến tình trạng này có lẽ xuất phát từ hạn chế vốn có của cơ chế điều
chỉnh trực tiếp trong chính sách tiền tệ mà ngày càng bộc lộ rõ nét.