Báo cáo thực tập tổng hợp
Mở đầu
Xu thế chung hiện nay của các nước trên thế giới là tiến
tới áp dụng cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, kế
hoạch hóa với tư cách là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
quốc dân hiện nay đã được khẳng định là yếu tố không thể
thiếu nhằm thực hiện có hiệu quả sự can thiệp của Chính phủ
vào nền kinh tế thị trường. Việt Nam là nước có lịch sử áp
dụng cơ chế Kế hoạch hóa tập trung ngay từ sau khi hòa bình
lặp lại cho đến thập niên 80. Quá trình sau đó chúng ta liên tục
có những bước đổi mới vận dụng linh hoạt cơ chế kế hoạch
hóa tập trung phù hợp với các điều kiện mới. Hiện nay ta đang
trong giai đoạn chuyển đổi từ kế hoạch háo tập trung sang kế
hoạch hóa định hướng phát triển. Không đi chệch khỏi xu
hướng đó, Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh Nghệ An cũng đã có
những thay đổi khá tích cực, một số chức năng nhiệm vụ mới
được bổ sung thêm, tổ chức bộ máy được tăng cường. Sở Kế
hoạch và Đầu tư là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân
dân tỉnh Nghệ An, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư, trong những
năm qua, những đóng góp tham mưu của Sở cho Ủy ban nhân
dân tỉnh là không thể phủ nhận, bên cạnh đó Sở còn có nhiều
công lao to lớn trong việc góp phần làm cho tỉnh nhà ngày càng
phát triển, đạt được thành công trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
Báo cáo thực tập tổng hợp
Phần I : Giới thiệu chung
I. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Sở Kế hoạch
& Đầu tư tỉnh Nghệ An
doanh có lãi, điển hình là liên doanh mía đường Nghệ An Tate & Lyle.
Các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, bưu chính viễn thông, ngân hàng, vận tải
quốc tế, tư vấn . đã được mở rộng đáp ứng cho các nhà đầu tư.
Cơ sở hạ tầng đã được đầu tư nâng cấp như sân bay Vinh, cảng biển Cửa
Lò, cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn, các tuyến đường quốc lộ, đường dây điện, hệ
thống khách sạn v v
2. Quá trình hình thành và phát triển Sở kế hoạch đầu tư
tỉnh Nghệ An
Công tác kế hoạch hoá phát triển kinh tế - xã hội được Đảng và Chính
phủ quan tâm từ những ngày đầu Cách mạng thành công. Trong không khí
hào hùng sôi sục khí thế Cách mạng, ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh
độc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà,
nhà nước Công - Nông đầu tiên ở Đông Nam á. Ngày 31/12/1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh thay mặt Chính phủ ký sắc lệnh số 78/ SL thành lập Uỷ ban nghiên
cứu kế hoạch kiến thiết quốc gia về các ngành kinh tế, tài chính, xã hội và văn
hoá. Uỷ ban gồm các uỷ viên và tất cả các Bộ trưởng, Thứ trưởng và các Tiểu
ban chuyên môn đặt dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Chính phủ.
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
Báo cáo thực tập tổng hợp
Ngày 14/5/1950 Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ký sắc lệnh
số 68/SL thành lập Ban kinh tế Chính phủ (thay cho Uỷ ban
nghiên cứu kế hoạch kiến thiết). Ban kinh tế Chính phủ có
nhiệm vụ nghiên cứu soạn thảo và trình Chính phủ những đề
án về chính sách, chương trình, kế hoạch kinh tế và những vấn
đề quan trọng khác.
Cuộc kháng chiến chống thực dân pháp thắng lợi bằng
chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ năm 1954 Miền Bắc được
hoàn toàn giải phóng, Miền Nam tạm thời bị chia cắt nằm dưới
sự kiểm soát của Mỹ Nguỵ. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta
tỉnh và HĐND tỉnh. Đồng thời giúp Uỷ ban hành chính tỉnh
giải quyết những công việc hàng này như chỉ đạo thực hiện kế
hoạch kinh tế - xã hội.
Ngày 09/10/1961, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số
159/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy Uỷ ban
kế hoạch Nhà nước. Đây là Nghị định mang tính pháp quy của
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quy định rõ nhiệm vụ
quyền hạn của cơ quan Kế hoạch Trung ương cho đến địa
phương.
Nghị định nêu rõ “Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước là cơ quan
của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch
hàng năm, 5 năm và kế hoạch dài hạn về phát triển kinh tế, văn
hoá quốc dân theo đường lối chính sách của Đảng và Chính
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
Báo cáo thực tập tổng hợp
phủ. Uỷ ban kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm quản lý công
tác xây dựng cơ bản đúng theo đường lối chính sách của Đảng.
Nhằm rút ngắn thời gian xây dựng đảm bảo chất lượng công
trình và giá thành hợp lý”.
Cùng với thời gian qua các thời kỳ phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước, Chính phủ đã có hàng loạt các Nghị định quy
định, bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho Uỷ ban Kế hoạch Nhà
nước như số 47/CP; số 209/CP
Nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước
từ Trung ương đến địa phương lúc đó là:
1. Xây dựng kế hoạch hàng năm và dài hạn về phát triển
nền kinh tế quốc dân.
2. Kiểm tra việc chấp hành thực hiện kế hoạch của các cơ
quan Nhà nước, rút ra những nhận xét, kiến nghị lên cấp trên.
máy có sửa đổi do sự phát triển và trưởng thành của công tác
kế hoạch nói chung và kế hoạch tỉnh nói riêng. Tầm quan
trọng đó như Bác Hồ thường nói: “ Công tác kế hoạch là
cương lĩnh thứ 02 của Đảng”. Trong bộ máy lãnh đạo của Tỉnh
cơ cấu 01 đồng chí Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh phụ
trách kinh tế trực tiếp làm chủ nghiệm Uỷ ban kế hoạch.
Tuy số lượng cán bộ còn ít, trình độ chuyên môn đào
tạo còn hạn chế. Năm 1965 chỉ có 05 đồng chí cán bộ có trình
độ Đại học mới ra trường đến năm 1971 tăng 03 đồng chí.
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
Báo cáo thực tập tổng hợp
Trong điều kiện khó khăn, vất vả của hoàn cảnh thời chiến
song các đồng chí đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Trong những năm chiến tranh ác liệt Uỷ ban kế hoạch tỉnh đã
thực sự tham mưu cho Tỉnh uỷ và Uỷ ban hành chính tỉnh xây
dựng kế hoạch kinh tế thời chiến phục vụ tốt các kỳ Đại hội
Đảng gắn việc phát triển kinh tế - xã hội với công tác an ninh
quốc phòng góp phần tích cực vào việc thực hiện 02 nhiệm vụ
chiến lược.
Ngày 30/4/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước
được thống nhất, non sông thu về một mối. Cộng hoà xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế,
lúc này nhiệm vụ cấp bách là tổ chức lại nền sản xuất, phân bố
lại lao động trong cả nước. Trong điều kiện thực trạng nền
kinh tế sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn
phá. Để đạt được mục tiêu trên, Chính phủ chủ trương sáp
nhập một số tỉnh có truyền thống về mọi phương diện. Từ đó,
tỉnh Nghệ Tĩnh được thành lập trên cơ sở 02 tỉnh Nghệ An và
Hà Tĩnh hợp nhất lại. Diện tích rộng, người đông, tiềm năng
kế hoạch và bằng các chính sách khác. Tuy rằng mô hình kế
hoạch hoá mới “ Kế hoạch hoá hướng dẫn gắn với vận dụng
nguyên tắc thị trường” còn chưa được hoàn thiện nhưng đã
bắt đầu phát huy được tính đúng đắn trong sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội.
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
Báo cáo thực tập tổng hợp
Tháng 9 năm 1991, tỉnh Nghệ An được tái thiết lập Uỷ ban
Kế hoạch Nghệ An thực hiện nhiệm vụ chính trị trong điều
kiện của một tỉnh mới chia tách. Nền kinh tế mất cân đối lớn
lại phải đương đầu với nhiều khó khăn, thiếu thốn. Đời sống
cán bộ công nhân viên gặp nhiều khó khăn về nơi ăn, chốn ở
và làm việc. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND
tỉnh, cùng với sự chỉ đạo của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. Cơ
quan Uỷ ban Kế hoạch tỉnh đã sớm khắc phục khó khăn thiếu
thốn, ổn định công tác để tham mưu cho Tỉnh uỷ, HĐND,
UBND rà soát lại kế hoạch quý IV của năm 1991, chuẩn bị
khẩn trương kế hoạch năm 1992 và nội dung cho Đại hội Tỉnh
Đảng bộ. Công tác kế hoạch lúc này chủ yếu là dự báo, định
hướng và hoạch định các chương trình phát triển kinh tế - xã
hội để làm cơ sở xây dựng hệ thống dự án chuẩn bị đầu tư và
tham gia xây dựng các chính sách kinh tế - xã hội. Uỷ ban Kế
hoạch tỉnh phối hợp với các ngành, các huyện, thị xã tranh thủ
sự giúp đỡ của Trung ương xây dựng tốt kế hoạch hàng năm và
làm tròn trách nhiệm vai trò Thường trực của Ban chỉ đạo thực
hiện Nghị định 388/CP. Ban đổi mới doanh nghiệp, Ban thực
hiện chương trình 327, 773 của Chính phủ, thành viên Hội
đồng thẩm định dự án chuẩn bị đầu tư , cung cấp số liệu, tài
liệư và báo cáo kịp thời các kỳ họp Tỉnh uỷ, HĐND và UBND
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
Báo cáo thực tập tổng hợp
Tháng 6 năm 2007, được UBND tỉnh chuyển giao Trung
tâm xúc tiến đầu tư tỉnh về trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Tháng 11 năm 2007, được UBND tỉnh chuyển giao Ban đổi
mới doanh nghiệp trực thuộc Sở Nội vụ về trực thuộc Sở Kế
hoạch và Đầu tư.
Tóm lại: Quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị từ ngày
thành lập cho đến nay, ngành Kế hoạch từ Trung ương đến địa
phương được thể hiện qua các thời kỳ như sau:
1. Thời kỳ 1955-1960: Là thời kỳ xây dựng kế hoạch khôi
phục kinh tế sau chiến tranh (1955-1957) và kế hoạch cải tạo
và phát triển kinh tế Miền Bắc (1958 - 1960).
2. Thời kỳ 1961-1965: Là thời kỳ thực hiện kế hoạch năm
năm lần thứ nhất, nội dung cơ bản là thực hiện công nghiệp
hoá ở Miền Bắc, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, xây dựng
một số khu công nghiệp nhà máy quy mô lớn, lấy cơ chế quản
lý tập trung, bằng những chỉ tiêu pháp lệnh làm công cụ điều
hành nền kinh tế.
3. Thời kỳ 1966-1975: Là thời kỳ Kế hoạch thời chiến tuyển
quân, hậu cần cung ứng nhân tài, vật lực cho tiền tuyến Miền
Nam. Khẩu hiệu “ Miền Nam gọi Miền Bắc sẳn sàng”, lập kế
hoạch phục vụ chiến đấu như cầu đường, hầm hố, kho tàng, kế
hoạch sơ tán, phân tán các cơ sở kinh tế, trường học, bệnh
viện, thiết bị máy móc, khoa học kỷ thuật về nơi an toàn. Trong
kế hoạch chú trọng phát triển công nghiệp, địa phương sản
xuất hàng tiêu dùng.v.v Hình thức chủ yếu là kế hoạch ngắn
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
6. Thời kỳ 1986-1990: Là thời kỳ thực hiện kế hoạch 05
năm lần thứ tư, nhằm ổn định và cải thiện một bước đời sống
của nhân dân, đồng bộ hoá sản xuất và tăng cường một bước
cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng, củng cố quan hệ sản xuất
mới XHCN; Sử dụng tốt các thành phần kinh tế, hình thành cơ
chế quản lý mới đảm bảo yêu cầu củng cố quốc phòng an ninh
chính trị trong tình hình mới, chuyển đổi từ nền kinh tế đơn
sang nền kinh tế nhiều thành phần. Chuyển từ nền kinh tế
nặng tự cung tự cấp sang nền kinh tế mở cửa với các nước bên
ngoài.
7. Thời kỳ 1991-1995: Là thời kỳ là thời kỳ thực hiện kế
hoạch 05 năm lần thứ năm, với mục tiêu đề ra là ổn định tình
hình kinh tế xã hội, chính trị, sớm thoát ra khỏi tình trạng
khủng hoảng và lạm phát. Nhiệm vụ cụ thể là làm ổn định nền
kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhất định. Tiếp tục xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật, đầu tư chiều sâu hiện đại hoá các cơ sở
kinh tế, nhất là sản xuất hàng xuất khẩu. Tiếp tục đổi mới đồng
bộ cơ chế quản lý Nhà nước và cơ chế sản xuất kinh doanh,
chuyển hoàn toàn sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước.
8. Thời kỳ 1996-2000: Là thời kỳ thực hiện kế hoạch 05
năm lần thứ sáu, mục tiêu tổng quát của kế hoạch 05 năm lần
thứ 6 là khai thác, sử dụng tốt các nguồn lực để đạt tốc độ tăng
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
Báo cáo thực tập tổng hợp
trưởng cao hơn; kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết
những vấn đề bức xúc về mặt xã hội, chuẩn bị giai đoạn phát
triển cao hơn vào đầu thế kỷ 21.
9. Thời kỳ 2001- 2005: Là thời kỳ thực hiện kế hoạch 05
hoạch và Đầu tư.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn
1. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quyết định,
chỉ thị về quản lý lĩnh vực Quy hoạch, Kế hoạch và Đầu tư
thuộc phạm vi của Sở theo quy định của pháp luật, phân cấp
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và chịu trách nhiệm nội dung các
văn bản đã trình .
2. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định phân công, phân
cấp quản lý về các lĩnh vực Kế hoạch và Đầu tư cho Ủy ban
nhân dân cấp huyện và các Sở, Ban, ngành của tỉnh theo quy
định của pháp luật; chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra tổ
chức thực hiện các quy định của cấp đó.
3. Tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm việc
tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về kế hoạch
và đầu tư ở địa phương, trong đó có chiến lược, quy hoạch phát
triển kinh tế xã hội của cả nước trên địa bàn tỉnh và những vấn
đề có liên quan đến việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế
hoạch sử dụng các nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội của
tỉnh.
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
Báo cáo thực tập tổng hợp
4. Công tác quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội
Chủ trì tổng hợp và trình Ủy ban nhân dân tỉnh quy hoạch
tổng thể kinh tế - xã hội, kế hoạch dài hạn, kế hoạch 5 năm và
hàng năm, bố trí kế hoạch vốn đầu tư thuộc ngân sách tỉnh
quản lý, các cân đối chủ yếu về kinh tế - xã hội, của tỉnh trong
đó có cân đối tích lũy và tiêu dùng, cân đối nguồn lực cho đầu
tư phát triển, cân đối tài chính.
địa phương để trình các cấp có thẩm quyền quyết định thực
hiện .
Chủ trì, phối hợp với Sở tài chính và các Sở, Ban, ngành có
liên quan thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư của các dự án
xây dựng cơ bản tập trung, các chương trình mục tiêu Quốc gia
và các chương trình dự án khác theo yêu cầu của Ủy ban nhân
dân tỉnh.
6. Quản lý đầu tư nước ngoài:
Trình và chịu trách nhiệm về các nội dung văn bản đã
được trình trước Ủy ban nhân dân tỉnh về danh mục các dự án
đầu tư trong nước, các dự án thu hút vốn đầu tư nước ngoài
cho từng thời kỳ kế hoạch và điều chỉnh trong trường hợp cần
thiết.
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
Báo cáo thực tập tổng hợp
Thẩm định các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; cấp giấy phép ưu đãi đầu
tư cho các dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh theo phân cấp.
Làm đầu mối giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý hoạt động
đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào địa
bàn tỉnh theo quy định của Pháp luật, tổ chức hoạt động xúc
tiến đầu tư, hướng dẫn thủ tục đầu tư và cấp phép đầu tư thuộc
thẩm quyền.
7. Về quản lý vốn ODA và các nguồn viện trợ phi Chính
phủ
Là cơ quan đầu mối vận động, thu hút, điều phối quản lý
vốn ODA và các nguồn viện trợ phi Chính phủ. Hướng dẫn các
Sở, ban, ngành xây dựng danh mục và nội dung các chương
trình sử dụng vốn ODA và các nguồn viện trợ phi chính phủ
tình hình phát triển ở địa phương.
10. Về doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh và sử dụng hợp
tác xã:
Chủ trì, phối hợp các Sở, Ban, ngành liên quan trình Ủy
ban nhân dân tỉnh chương trình, kế hoạch sắp xếp, đổi mới
phát triển doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý. Cơ
chế quản lý và chính sách hỗ trợ đối với việc sắp xếp doanh
nghiệp nhà nước và phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa
thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh.
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
Báo cáo thực tập tổng hợp
Làm đầu mối thẩm định và chịu trách nhiệm về các đề án
thành lập, sắp xếp tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước do địa
phương quản lý. Tổng hợp tình hình sắp xếp đổi mới, phát triển
doanh nghiệp nhà nước và tình hình phát triển các doanh
nhgiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Tổ chức thực hiện đăng ký kinh doanh cho các đối tượng
trên địa bàn thuộc thẩm quyền của Sở. Hướng dẫn nghiệp vụ
dăng ký kinh doanh cho cơ quan chuyên môn quản lý về kế
hoạch và đầu tư cấp huyện, phối hợp với các ngành kiểm tra,
theo dõi, tổng hợp tình hình và xử lý theo thẩm quyền các vi
phạm sau đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp tại địa
phương, thu thập lưu trũ và quản lý kinh doanh theo quy định
của pháp luật .
Chủ trì phối hợp với các Sở, ban, nghành đề xuất các mô
hình và cơ chế ,chính sách phát triển kinh tế hợp tác xã, kih tế
hộ gia đình ,hương dẫn theo dõi, tổng hợp và báo cáo Ủy ban
nhân dân tỉnh,Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tình hình phát
triểnkinh tế hợp tác xã, kinh tế hộ gia đình trên địa bàn tỉnh.
III. CƠ CẤU TỔ CHỨC
Lãnh đạo sở
Lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư gồm 1 giám đốc và 4 phó
giám đốc
Các Phòng, Ban giúp việc
- Văn phòng
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
Báo cáo thực tập tổng hợp
- Thanh tra Sở
- Phòng Tổng hợp
- Phòng Kế hoạch Nông nghiệp và PTNT
- Phòng Kế hoạch Công nghiệp và Dịch vụ
- Phòng Kế hoạch Văn hóa và Xã hội
- Phòng kinh tế Đối ngoại
- Phòng Đăng ký kinh doanh
- Phòng Thẩm định dự án đầu tư và xét thầu
Tổ chức sự nghiệp trực thuộc Sở
- Trung tâm Xúc tiến đầu tư Nghệ An
IV. Kết quả hoạt động của Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh
Nghệ An
Trong 3 năm ( từ 2006 đến 2008) Sở đã có những đóng góp
không nhỏ cho Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc tham mưu,
định hướng phát triển các ngành, địa phương theo chủ trương
đường lối chính sách của Tỉnh. Vì vậy một cách gián tiếp, Sở
cũng đã đóng góp vào quá trình phát triển mọi mặt của Tỉnh
nhà, không chỉ về mặt định hướng hoạt động mà còn cả về đôn
đốc, hướng dẫn, theo dõi, đánh giá việc thực hiện kế hoạch của
các ngành, các đơn vị
Công tác tham mưu đề xuất : (giúp lãnh đạo sở thực hiện
dựng trường, lớp học, đến 2008 tỷ lệ kiên cố phòng học khối
phổ thông đạt 72%, đưa tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch
47B
Báo cáo thực tập tổng hợp
329 trường, chiếm 42,7% số trường và vượt kế hoạch 2,7%.
Thực hiện chương trình kiên cố hoá trường lớp học theo Quyết
định số 20/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, từ đầu năm đến
nay, tỉnh đã đầu tư xây mới 1.432 phòng học và nhà công vụ
cho giáo viên giai đoạn 2008-2012.
Các bệnh viện tuyến huyện tiếp tục được đầu tư phát triển
về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế từ nguồn vốn bổ sung có mục
tiêu và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, góp phần cải thiện
điều kiện khám chữa bệnh cho nhân dân.
Nâng cấp, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông,
tạo điều kiện phát triển mạnh dịch vụ vận tải.
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Thời kỳ 2002 – 2004 có 39 dự án của 14 nước và tổ chức
quốc tế như Pháp, Đan mạch , Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Phần Lan, EU, ADB, UNDP, WB, JIBIC, Áo, Bỉ, Lúc Xăm
Bua.
Trong đó:
Đã hoàn thành có 20 dự án: Vốn thực hiện 67,2 tr USD/
cam kết 67,2 tr USD.
Đang thực hiện có 19 dự án: Vốn thực hiện 41,65 tr USD/
cam kết 68,45 tr USD, đạt 80.24%.
Tổng số vốn cam kết: 135,65 triệu USD,
Tổng số vốn đã thực hiện: 108,85 triệu USD, đạt 80,24 %
vốn cam kết
Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch