Chuyên đề tốt nghiệp
Tên đề tài :
Phương hướng phát triển công nghiệp Hà Tĩnh đến năm 2020
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết phải xây dựng đề tài và câu hỏi nghiên cứu
Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực,
trong đó có việc thực hiện các cam kết AFTA/ASEAN, APEC, Hiệp định thương
mại Việt – Mỹ và đặc biệt là thực hiện các cam kết với Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO) kể từ khi chính thức trở thành thành viên của tổ chức này (11/1/2007).
Là thành viên WTO, Việt Nam được đối xử bình đẳng trên sân chơi chung của
WTO, thị trường xuất khẩu cho hàng hoá và dịch vụ sẽ được mở rộng, cơ hội thu
hút các nguồn vốn bên ngoài như ODA, FDI, vốn từ thị trường chứng khoán quốc tế
sẽ tăng lên rất nhiều. Nhưng bên cạnh việc đưa lại nhiều thuận lợi cho quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở rộng lĩnh vực kinh tế đối ngoại, cơ hội
tạo dựng và củng cố vị thế của mình trong nền kinh tế thế giới hội nhập cũng buộc
Việt Nam phải đối đầu với những khó khăn, thách thức lớn trong bối cảnh cạnh
tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế thế giới, cộng với những dấu hiệu suy thoái
theo chu kỳ của một số nền kinh tế lớn một vài năm gần đây.
Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ Do có những đặc thù riêng,
là tỉnh có nhiều rủi ro về thiên tai, đất đai kém màu mỡ, thị trường nội tại nhỏ, cơ sở
hạ tầng còn yếu kém , nên tuy có những chính sách ưu đãi nhất định, hiện hoạt
động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Hà Tĩnh còn khiêm tốn, nhất là trong
lĩnh vực thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong bối cảnh hiện nay, Hà Tĩnh
đang xây dựng những hướng đi mới trong nhiều lĩnh vực nhất là trong các lĩnh vực
sản xuất hàng hóa cả về công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Cùng với sự ra đời Khu
Kinh tế Vũng áng, trong thời kỳ tới có nhiều dự án trọng điểm quốc gia sẽ được
triển khai tại Hà Tĩnh. Mặt khác, diễn biến toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới diễn ra
Trần Huyền Như Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
2
2
Chuyên đề tốt nghiệp
Tên đề tài “ Phương hướng phát triển công nghiệp Hà Tĩnh đến năm
2020”
Đề tài gồm 3 chương :
Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp
Đưa ra khái niệm, các mô hình phát triển và tăng trưởng kinh tế, phân
tích các nhân tố tác động đến công nghiệp, kinh nghiệm phát triển công nghiệp
trong nước và một số nước trên thế giới. Từ đó rút ra bài học phát triển cho
công nghiệp Hà Tĩnh.
Chương 2. Thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh
Phân tích điều kiện tự nhiên, tiềm năng, thực trạng phát triển công
nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2001 -2009 . Đánh giá, phân tích các khó khăn ,
thách thức, nguyên nhân tồn tại của công nghiệp Hà Tĩnh.
Chương 3. Phương hướng và đề xuất các giải pháp phát triển công nghiệp
đến năm 2020
Từ phân tích bối cảnh trong nước, quốc tế, định hướng phát triển công
nghiệp của Việt Nam, đưa ra các phương hướng phát triển công nghiệp Hà
Tĩnh nói chung, một số ngành công nghiệp cụ thể đến năm 2020. Từ đó đưa ra
một số giải pháp và đề xuất phát triển công nghiệp Hà Tĩnh.
Trong quá trình tìm hiểu và viết chuyên đề tốt nghiệp, tôi cũng đã gặp một
số khó khăn về phương pháp luận cũng như về số liệu thực tế, đặc biệt là việc đưa
ra các giải pháp thích hợp để giải quyết các vấn đề. Mặc dù vậy, với sự giúp đỡ và
tạo mọi điều kiện thuận lợi của các cán bộ ở phòng Kinh tế Ngành - Sở Kế hoạch và
Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh cùng với sự chỉ bảo nhiệt tình của giảng viên hướng dẫn, ThS.
Nguyễn Quỳnh Hoa, tôi đã hoàn thành được đề tài “Phương hướng phát triển công
nghiệp Hà Tĩnh đến năm 2020 ”. Tuy nhiên, do thời gian có hạn, cộng với vốn kiến
thức thực tế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn hạn chế nên trong chuyên đề
+ Khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dung trong quá trình sản
xuất và sinh hoạt.
Công nghiệp theo nghĩa là một ngành kinh tế
Một nghĩa rất phổ thông khác của công nghiệp là "hoạt động kinh tế quy mô
lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa". Theo nghĩa ngày,
những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt được một quy mô nhất định sẽ trở thành
một ngành công nghiệp, ngành kinh tế như: công nghiệp phần mềm máy tính, công
nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp nghiệp thời trang, công nghiệp
báo chí…
1.1.2. Vị trí của ngành Công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Công nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất có vị trí quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân, vị trí đó xuất phát từ các lý do chủ yếu như: Công
Trần Huyền Như Kế hoạch 48A
5
5
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp là một bộ phận hợp thành trong cơ cấu công nghiệp,nông nghiệp,dịch
vụ Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ
vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế đó. Công
nghiệp là ngành khai thác tài nguyên và tiếp tục chế biến các loại tài nguyên,
khoáng sản thành các sản phẩm trung gian để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng nhằm
thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người . Ngành công nghiệp ngày
càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu giá trị sản xuất, trở thành động lực thúc đẩy
các ngành nông nghiệp, dịch vụ cùng phát triển .
Sự phát triển của công nghiệp là một yếu tố có tính quyết định để thực hiện
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.1.3. Vai trò của ngành Công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Công nghiệp có vai trò to lớn trong mọi lĩnh vực kinh tế, an nình quốc phòng
và đời sống của toàn xã hội . Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển ,các nước
đang tiến hành công nghiệp hóa , hiện đại hóa thì công nghiệp ngày càng phát huy
1.1.3.2 Công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp, dịch vụ cùng phát triển
Đối với nông nghiệp :
Công nghiệp vừa tạo ra thị trường ,vừa tạo ra những điều kiện cần thiết cho
nông nghiệp phát triển.Công nghiệp chế biến làm tăng giá trị và nâng cao sức cạnh
tranh trên thị trường. Công nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào cho nông nghiệp,
nâng cao năng suất lao động. Phát triển công nghiệp góp phần giải quyết việc làm
cho một bộ phận lao động trong nông nghiệp.
Riêng một nước như Việt Nam khi mà nền nông nghiệp đang chiếm ưu thế thì
công nghiệp có vai trò to lớn để công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn,
Đối với dịch vụ :
Khu công nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện dẫn dắt các ngành công nghiệp
phụ trợ, các dịch vụ cần thiết như dịch vụ công nghiệp, dịch vụ tài chính, ngân
hàng, dịch vụ cung cấp nguyên luyện, các dịch vụ lao động trong khu công nghiệp,
giao thông vận tải , thông tin liên lạc, du lịch …Đồng thời, việc thu hút lao động
cũng góp phần tạo nên khu dân cư tập trung, hình thành nên các khu đô thị, thành
phố công nghiệp, do đó giúp phân bố và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lao
Trần Huyền Như Kế hoạch 48A
7
7
Chuyên đề tốt nghiệp
động của địa phương.Công nghiệp là tác nhân quyết định đến sự nghiệp công
nghiệp hóa ,hiện đại hóa nền kinh tế xã hội.
1.1.3.3 Công nghiệp góp phần thay đổi phương pháp tổ chức quản lý sản xuất
Phương pháp tổ chức sản xuất theo chiều dọc và theo chiều sâu:
Theo chiều dọc: tạo dựng các mối liên hệ từ nơi khai thác hoặc nơi sản xuất
nguyên liệu đến nơi chế biến và phân phối sản phẩm
Theo chiều ngang: tạo mối liên hệ trong một xí nghiệp chuyên môn hóa mở
mang sang nhiều xí nghiệp có liên hệ về sản phẩm và thị trường, mở rộng không
gian sản xuất và dịch vụ.
Phương pháp sản xuất dây chuyền và sản xuất hàng loạt nâng cao chất lượng
mọi nhu cầu của thị trường, nhu cầu ngày một cao của mỗi người dân.Góp phần giải
quyết việc làm, giảm thất nghiệp và tạo ra những vùng ,khu kinh tế mới.
Tích lũy cho nền kinh tế bao gồm nguồn tài chính, nhân lực và trình độ khoa
học công nghệ.Tăng nguồn ngân sách cho nhà nước, tăng tích lũy cho các doanh
nghiệp và nâng cao đời sống nhân dân về cả vật chất lẫn tinh thần . Góp phần rất
lớn trong việc nâng cao chất lượng nguồn lao động,thúc đẩy khoa học công nghệ
phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu hướng tới một nền công nghiệp tự động
hóa với nhiều ngành nghề mới , việc làm mới, thu nhập mới cho người lao động .
Vậy công nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển từ nền
kinh tế nhỏ lên nền sản xuất lớn, đó là một tất yếu khách quan. Tính tất yếu khách
quan đó xuất phát từ bản chất vốn có của công nghiệp.Công nghiệp có vai trò chủ đạo
trong quá trình phát triển nền kinh tế Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa bởi
trong quá trình phát triển nền kinh tế , công nghiệp là ngành có khả năng tạo ra động
lực,là định hướng phát triển các ngành kinh tế khác lên ngành sản xuất lớn.
Công nghiệp có những điều kiện tăng nhanh tốc độ phát triển khoa học công
nghệ, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ đó vào sản xuất,có khả năng và
điều kiện sản xuất hoàn thiện. Nhờ động lực đó sản xuất công nghiệp sản xuất
nhanh hơn các ngành kinh tế khác. Do đó quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp
với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất.
Trong quá trình phát triển nền kinh tế, hiện nay đảng ra có chủ trương (coi
nông nghiệp là mặt trận hàng đầu) giải quyết cơ bản lương thực, cung cấp nguyên
liệu để phát triển công nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu nông sản,hàng hóa. Để thực
hiện những nhiệm vụ cơ bản đó, công nghiệp có vai trò quan trọng cung cấp các yếu
tố đầu vào bằng những công nghệ ngày càng hiện đại để phát triển nông nghiệp,gắn
công nghiệp chế biến với nông nghiệp, phát triển công nghiệp nông thôn lên nền
sản xuất hàng hóa.
Trần Huyền Như Kế hoạch 48A
9
9
Chuyên đề tốt nghiệp
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Một là, du nhập các kỹ thuật trung gian và truyền thống của các nước phát
triển trên cơ sở đó nhanh chóng bắt nhịp với trình độ hiện đại của nền sản xuất thế
giới. Nam Triều Tiên là nước đi theo con đường này.
Hai là, nhập các bằng phát minh sáng chế, nghiên cứu, ứng dụng chúng vào
sản xuất để tạo dựng cho mình một tầng công nghiệp hiện đại. Tầng công nghiệp
truyền thống được coi là tiền đề để áp dụng hướng thứ hai. Hướng thứ nhất càng mở
rộng, càng mạnh thì khả năng nghiên cứu ứng dụng và phát minh sáng chế càng lớn.
Các nước đang phát triển hiện đứng trước một thách thức mới. Đó là lợi thế của
các quốc gia này về nguồn nguyên liệu, nhưng tỷ trọng giao dịch nông sản phẩm
khoáng sản trên thị trường thế giới ngày càng giảm do cách mạng khoa học kỹ thuật
công nghệ đang phổ biến. Vì vậy, các nước đang phát triển phải áp dụng chính sách
kinh tế mới, thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, tham gia cạnh tranh quốc tế,
sử dụng những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật và dịch vụ quốc tế.
Những thay đổi về cơ cấu kinh tế thế giới dẫn tới những thay đổi về thị
trường: thị trường của hàng hoá có hàm lượng kỹ thuật cao và thị trường dịch vụ sẽ
ngày càng mở rộng, còn thị trường hàng hoá truyền thống sẽ ngày càng thu hẹp và
cạnh tranh để tiêu thụ ngày càng gay gắt.
Hiện nay, khu vực dịch vụ ở các nước phát triển chiếm khoảng 50 – 60% dân
số lao động và 60 – 65% tổng số sản phẩm quốc dân, khu vực công nghiệp chỉ còn
chiếm khoảng 40% lao động, 30 -35% tổng sản phẩm quốc dân. Dự báo thế kỷ XXI
khu vực dịch vụ ở các nước này có thể tăng 70 – 80% dân số lao động và khu vực
công nghịêp sẽ giảm đi tương ứng, mà trong đó tỷ trọng của những ngành công
nghiệp sản xuất ra hàng hoá có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao tăng lên và tỷ
trọng của những ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật trung gian sẽ giảm đi.
Trước xu hướng phát triển hiện nay, xu hướng nền kinh tế thế giới đang
chuyển dần sang một nền văn minh hậu công nghiệp , nền kinh tế trí tuệ đang hình
thành và phát triển . Đó là những người máy công nghiệp sẽ thay thế bằng những
người lao động. Các quá trình lao động trí óc cũng được người máy thay thế. Các
tiến bộ xã hội, vì thế nó là nhân tố không thể thiếu để thực hiện quá trình ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật , phát triển công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu và đẩy nhanh
tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của các quốc gia và lãnh thổ đã cho thấy
mối quan hệ chặt chẽ giữa vốn trong nước và vốn ngoài nước, nếu muốn tiếp nhận
vốn nước ngoài thì trước hết phải tăng cường vốn trong nước . Sẽ ảo tưởng nếu cho
rằng cứ gọi được nhiều vốn nước ngoài là có thể tăng trưởng kinh tế nhanh chóng .
Điều quan trọng là phải tạo ra các biện pháp như : ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm
phát , tạo môi trường kinh doanh thuận lợi với những thủ tục đơn giản, nhanh nhất ,
Trần Huyền Như Kế hoạch 48A
12
12
Chuyên đề tốt nghiệp
thực hiện lãi suất tiết kiệm dương, lãi suất cho vay cao hơn lãi suất tiền gửi tiết
kiệm Đặc biệt phải đầu tư nhiều vào công nghiệp chế biến , các ngành công
nghiệp mũi nhọn các dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng, tư vấn, du lịch , tránh đầu tư quá
nhiều vào bất động sản …
Việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền kinh tế đóng vai trò vô cùng quan trọng trong
việc phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng, được thực hiện trên cơ
sở hiệu quả sản xuất, nguồn của nó là lao động thặng dư của người lao động thuộc
mọi thành phần kinh tế. Tăng năng suất lao động xã hội là con đường cơ bản để giải
quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước.
Vốn ngoài nước bao gồm các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI , vốn hỗ
trợ phát triển chính thức ODA, các khoản vốn vay tín dụng Biện pháp cơ bản để
thu hút được nguồn vốn ngoài nước là đẩy mạnh mở rộng các hình thức hợp tác
quốc tế, tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà kinh doanh nước ngoài.
Hiện nay, ở nước ta, nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp nên phải tận dụng các
nguồn vốn bên ngoài để tạo cú “ huých” từ bên ngoài, tránh cái vòng luẩn quẩn của
một nước nghèo . Tuy nhiên, việc tạo nguồn vốn cần phải gắn chặt với việc sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn này.
thể phát triển công nghiệp nếu không có đội ngũ đông đảo những công nhân lành
nghề , những nhà kỹ thuật tài năng,giỏi chuyên môn nghiệp vụ,những nhà doanh
nghiệp tháo vát,những nhà lãnh đạo quản lý tận tụy,biết nhìn xa trông rộng.Phải
phát huy tiềm lực của mỗi người để góp phần đẩy mạnh công nghiệp phát triển bắt
kịp với các nước công nghiệp khác .
1.1.5.3. Khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ là động lực phát triển ngành công nghiệp :
Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam với mục tiêu của ngành công
nghiệp là phát triển với nhịp độ cao, có hiệu quả, và trong đầu tư chiều sâu, đối với
thiết bị công nghệ tiên tiến và tiến tới hiện đại hóa từng thành phần các ngành sản
xuất công nghiệp. Muốn đạt được mục tiêu này từ điểm xuất phát thấp, quá trình
công nghiệp hóa ở nước ta phải thực hiện rút ngắn “đi tắt ,đón đầu” có như vậy
chúng ta mới rút ngắn được khoảng cách và tiến tới đuổi kịp các nước phát triển
Muốn rút ngắn được khoảng cách phát triển ngành công nghiệp, không còn cách
nào khác là phải vận dụng những thành tựu mới của khoa học công nghệ vào sản
xuất và khoa học công nghệ trở thành bộ phận chính yếu,là động lực phát triển
ngành công nghiệp. Dưới tác động của khoa học công nghệ, các ngành có hàm
lượng khoa học công nghệ cao sẽ phát triển nhanh hơn so với các ngành truyền
thống, chất lượng sản phẩm được nâng cao, năng suất và giá trị sản lượng không
ngừng được tăng lên
Trần Huyền Như Kế hoạch 48A
14
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa học công nghệ thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu
công nghiệp:
Cơ cấu công nghiệp là số lượng các bộ phận hợp thành và mối quan hệ tương
tác giữa các bộ phận ấy.Khoa học công nghệ thúc đẩy sự phát triển phân công lao
động thích ứng.Phân công lại lao động là tác nhân trực tiếp của sự hình thành công
nghiệp và sự phân hóa nội bộ công nghiệp thành những phân hệ khác nhau.Bởi vậy
phát triển thúc đẩy công nghiệp phát triển , giảm dần tỷ trọng trong khu vực nông
nghiệp, tăng tỷ trọng trong ngành công nghiệp .
Góp phần gia tăng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp :
Việt Nam khi áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất công nghiệp đã tạo ra
giá trị sản lượng cao , nhiều sản phẩm có chất lượng cao : hàng may mặc, đồ điện
máy, điện tử …nhất là chế tạo máy móc , thiết bị phụ tùng và đổi mới công nghệ,
sản xuất kinh doanh ô tô và xe máy nhằm giải quyết nguyên nhiên liệu và thiết bị
thay thế . Đặc biệt trong công nghiệp dầu khí đội ngũ các bộ khoa học đã có tiếp thu
và làm chủ được dây chuyền công nghệ mới và công nghệ chế biến nông –lâm-thủy
hải sản cũng đã và đang được đầu tư đẩy mạnh một bước …
1.1.5.4. Các cơ chế,chính sách và sự quản lý của nhà nước
Cơ chế chính sách của nhà nước có vai trò rất quan trọng với việc phát triển
công nghiệp trong ngắn hạn cũng như dài hạn . Nó đề ra mục tiêu, phương hướng
và các chiến lược,quy hoạch kế hoạch …cho từng thời kỳ,từng giai đoạn phát triển
kinh tế xã hội nói chung và sự phát triển công nghiệp nói riêng của đất nước .Huy
động, phân bổ, điều chỉnh nguồn lực theo yêu cầu của phát triển công nghiệp.Đề ra
các chính sách cần thiết để khai thác mọi tiềm năng trong và ngoài nước để thực
hiện nhanh và hiệu quả quá trình phát triển bền vững công nghiệp. Chính sách phù
hợp sẽ thúc đẩy nhanh việc phát triển công nghiệp ,phát triển kinh tế xã hội cũng
như đảm bảo các yếu tố bền vững về môi trường,con người hiện tại cũng như trong
tương lai.
Cơ chế chính sách của nhà nước có vai trò quyết định trong việc xây dựng cơ
cấu và định hướng phát triển công nghiệp ( công nghiệp chế biến , khai thác …).Các
chính sách thu hút vốn đầu từ các nguồn trong và ngoài nước, đặc biệt là vốn đầu tư
nước ngoài, khuyến khích tư bản bằng cách tạo điều kiện ưu đãi về mọi mặt, tạo
hành làng pháp lý thuận lợi, lập các khu mậu dịch tự do…Nhà nước xây dựng hệ
thống bộ máy quản lý vững mạnh về số lượng và chất lượng với kinh nghiệm và
trình độ để có thể đưa ra những chính sách phát triển công nghiệp bắt kịp với thời
đại, xu hướng phát triển của khu vực và thế giới .Xây dựng hệ thống pháp luật ,
kiểm tra giám sát , đôn đốc …đảm bảo điều kiện tốt nhất để phát triển các ngành
cơ chế thị trường và các bộ phận cấu thành : Cung cầu , giá cả, cạnh tranh sẽ quyết
định phát triển công nghiệp , quyết định các phương án lựa chọn đầu tư …Nhưng
cơ chế thị trường có những khuyết tật và hạn chế riêng của nó . Cho nên quá trình
phát triển công nghiệp lệ thuộc vào các yếu tố thị trường sẽ không đạt được những
mục tiêu công bằng xã hội ,an ninh quốc phòng và an ninh xã hội, sự bền vững môi
trường .Thực tế khách quan đòi hỏi sự quản lý của nhà nước thông qua các công
cụ : định hướng kế hoạch phát triển , luật pháp …
Trần Huyền Như Kế hoạch 48A
17
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhà nước thực hiện một số biện pháp vĩ mô tạo điều kiện cho việc phát triển
công nghiệp như : Dẫn dắt phát triển kinh tế đúng hướng với các chính sách về kinh
tế hợp lý ,tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho đầu tư,phát triển ( ổn định chính
trị , thiết lập khuôn khổ pháp luật thống nhất, hệ thống chính sách nhất quán ) , ổn
định môi trường vĩ mô như : chống lạm phát ,chống khủng hoảng và các đột biến
xấu trong nền kinh tế ảnh hưởng tới việc phát triển công nghiệp , xây dựng kết cấu
hạ tầng ,thực hiện chức năng quản lý về kinh tế, chủ sở hữu về đất đai , thực hiện
tiến bộ công bằng xã hội, môi trường …
Tóm lại cơ chế chính sách và quản lý của nhà nước có vai trò vô cùng quan
trọng trong việc phát triển công nghiệp nói riêng , quá trình công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước nói chung trong quá khứ , hiện tại và tương lai.
1.2. Các mô hình, lý thuyết tăng trưởng và phát triển
1.2.1. Lí thuyết cái “vòng luẩn quẩn” và cú huých từ bên ngoài của
Samuellson.
Samuellson cho rằng 1 quốc gia muốn đạt được tới sự tăng trưởng và phát
triển cần phải có 4 nhân tố: nhân lực, tài nguyên, tư sản, kĩ thuật. Trong điều kiện
cụ thể của các quốc gia nghèo thi cả 4 nhân tố này đều ở trong tình trạng khan hiếm
và chất lượng thấp.
+Về nhân lực. Ở các nước nghèo, tuổi thọ trung bình thấp, tỉ lệ người biết chữ
1.2.2. Mô hình hai khu vực của Lewis
Trong mô hình Lewis, nông nghiệp là khu vực truyền thống, ở đó lao động dư
thừa, năng suất thấp, người dân chia nhau sản phẩm thu hoạch ít ỏi (so với dân số)
trong tinh thần tương trợ. Để kinh tế phát triển phải khởi động một khu vực khác
năng động và hiện đại đó là khu vực công nghiệp. Từ một tích luỹ ban đầu, khu vực
nầy sẽ phát triển nhanh vì trong một thời gian dài tận dụng được nguồn cung cấp
lao động vô hạn định từ khu vực nông nghiệp. Mức lương thực tế phải trả cho người
lao động di chuyển từ nông sang công nghiệp không tăng cho đến khi công nghiệp
thu hút hết lao động dư thừa ở nông nghiệp, do đó lợi nhuận của khu vực công
nghiệp tăng liên tục. Lợi nhuận nầy được tái đầu tư mở rộng khu vực công nghiệp
nên lại đẩy nhanh quá trình thu hút lao động từ nông nghiệp.
Trong mô hình Lewis, khu vực công nghiệp là một thực thể hoàn toàn mới xuất
hiện trong nền kinh tế, mang tính hiện đại ngay từ đầu và hành động theo cơ chế thị
truờng. Điều này cũng không phải là phi thực tế. Ta có thể hình dung hoạt động của
các khu chế xuất hoặc khu công nghiệp ở Việt Nam là hiểu ngay. Mô hình này cũng
đã được áp dụng để phân tích quá trình phát triển của Nhật và nhiều nước Á châu
Trần Huyền Như Kế hoạch 48A
19
19
Chuyên đề tốt nghiệp
khác. . Trong mô hình này, vai trò của nông nghiệp là cung cấp lao động, lương thực
và thị trường cho công nghiệp. Ngược lại công nghiệp phát triển sẽ thu hút lao động
dư thừa ở nông thôn và cung cấp các sản phẩm tư bản (máy gặt, máy bom nước, )
hoặc sản phẩm như phân bón, thuốc trừ sâu cho nông nghiệp góp phần tăng năng
suất lao động và năng suất đất canh tác trong khu vực này.
1.2.3. Mô hình phát triển bền vững công nghiệp
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de
Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững
tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định “Phát triển bền
vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của
mô hình này, phát triển kinh tế Đông á cũng dược phân chia thành 3 thời kỳ khác
nhau, dựa trên sự phát triển của khoa học và công nghệ:
Giai đoạn 1 dựa trên cơ sở sức lao động;
Giai đoạn 2 dựa trên cơ sở vốn tư bản;
Giai đoạn 3 dựa trên sự phát triển của khoa học tri thức.
Theo Mô hình "Đàn nhạn bay", quá trình công nghiệp hoá cần và nên phải
bắt đầu từ các ngành công nghiệp dựa nhiều vào sức lao động, trước khi tiến hành
công nghiệp hiện đại khác. Mô hình này nhấn mạnh tầm quan trọng của xu hướng
mở rộng xuất khẩu. Các nước Đông á đều thực hiện theo các bước phát triển của mô
hình này và đã thành công. Theo Mô hình "Đàn nhạn bay", Nhật Bản được coi là
con chim đầu đàn và được đặt ở tầng nấc đầu tiên, tiếp theo là các nền kinh tế công
nghiệp mới Đông á-EANIEs và cuối cùng là các nước công nghiệp mới (ASEAN-
4). Mối quan hệ giữa 3 nấc thang này là sự kế thừa vững chắc của các ngành công
nghiệp trưởng thành
Cho đến đầu thập niên 1990, hầu hết các nhà nghiên cứu kinh tế đều cho rằng
việc áp dụng mô hình đàn nhạn bay để giải thích sự lan toả của công nghiệp tại
vùng Đông Á là có cơ sở. Nhìn toàn cục, ta thấy có sự tiến triển nhanh trong việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước theo hướng công nghiệp hoá, các nước đi
sau đuổi theo các nước đi trước, rút ngắn khoảng cách phát triển công nghiệp.
Mô hình đàn nhạn bay, theo ý tưởng của Akamatsu và những nhà kinh tế Nhật Bản
khác có công phổ biến nó là Kojima Kiyoshi và Okita Saburo gồm có ba phiên bản.
•Phiên bản đầu tiên áp dụng cho trường hợp một nước và một sản phẩm.
•Phiên bản thứ hai áp dụng cho trường hợp một nước và nhiều sản phẩm.
•Phiên bản thứ ba áp dụng cho nhiều nước.
Trần Huyền Như Kế hoạch 48A
21
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Mỗi phiên bản có một cách thức phát triển riêng nên áp dụng cho từng giai đoạn,
với một nước đang phát triển như Việt Nam thì hiện tại có thể áp dụng phiên bản
22
Chuyên đề tốt nghiệp
điện lưới không thể vươn tới, xây dựng nhà máy nhiệt điện tại Quỳnh Lưu thành
trung tâm nguồn điện của cả nước.
+ Từng bước tin học hóa mọi hoạt động xã hội, đưa Nghệ An trở thành trung
tâm công nghiệp điện tử, tin học của vùng Bắc Trung Bộ.
+ Tập trung phát triển ngành công nghiệp sợi may : Góp phần tăng giá trị kim
ngạch xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm và xây dựng Nghệ An thành trung tâm
công nghiệp dệt may của vùng Bắc Trung Bộ, đủ sức hòa nhập với công nghiệp dệt
may của cả nước và khu vực.
+ Tập trung vào các lĩnh vực đào tạo lao động có tay nghề cao, có kiến thức
tốt trên các lĩnh vực để phát triển công nghiệp.
1.3.2. Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của các nước trên thế giới.
1.3.2.1. Kinh nghiệm Nhật Bản : Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế
•Hội nhập quốc tế và chính sách phát triển:
Việc gia nhập các định chế phát triển quốc tế luôn đặt ra hai thái cực đối với
nền kinh tế Nhật Bản. Lo âu, trì hoãn và tích cực để phát triển thị trường thế giới.
Trước các nghĩa vụ khi tham gia vào các định chế quốc tế và khả năng yếu kém
cạnh tranh của nền kinh tế Nhật Bản trong thời kỳ đầu của công nghiệp hóa, chính
phủ Nhật Bản đã lên kế hoạch một cách tỉ mĩ để giảm bớt thách thức, đồng thời nỗ
lực nắm bắt thời cơ trong quá trình mở cửa và hội nhập. Chính sách phát triển công
nghiệp của Nhật Bản là tập trung phát triển các ngành công nghiệp có tiềm năng
cạnh tranh tương lai trên thị trường thế giới để điều chỉnh cơ cấu ngành công
nghiệp. Các ngành có lợi thế cạnh tranh tương lai là những ngành có khả năng tăng
nhanh năng suất lao động qua việc dễ tiếp thu công nghệ và nhu cầu tăng khi thu
nhập tăng. Với cơ cấu công nghiệp mới, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ qua
thuế và tín dụng cũng được soạn thảo nhằm trợ giúp phát triển và hoàn thiện cơ cấu
ngành công nghiệp theo mục tiêu mong muốn. Ngoài ra, sự thỏa hiệp của Chính
phủ và cộng đồng kinh doanh qua các hình thức thảo luận và định hướng phát triển
luôn được duy trì. Để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa công nghiệp Nhật
Có thể nhận thấy sự kết hợp khéo léo giữa mục tiêu công nghiệp hóa và thu hút
đầu tư nước ngoài tại Thái Lan. Chính sách thu hút FDI của Thái Lan rất năng động,
liên tục được điều chỉnh để thích nghi với từng thời kỳ phát triển đất nước. Điểm nổi
bật của chính sách này là thông thoáng và bộ máy thực hiện rất có hiệu quả.
Thái Lan luôn xác định nước thu hút đầu tư trọng điểm, từ đó, xây dựng các
bộ phận chuyên trách riêng biệt cho từng nguồn xuất xứ của nhà đầu tư. Chính sự
chuyên môn hóa và tổ chức này đã đáp ứng nhu cầu cụ thể của các nhà đầu tư nước
ngoài có quốc tịch khác nhau.
1.3.2.3. Kinh nghiệm Hàn Quốc : Công nghệ và chuyển giao kỹ thuật
Trần Huyền Như Kế hoạch 48A
24
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Chính sách du nhập công nghệ nước ngoài có hai nội dung cơ bản, một là cố
gắng đưa kỹ thuật và công nghệ vào Hàn Quốc bằng các hợp đồng nhập khẩu công
nghệ, bằng sáng chế kỹ thuật, tránh đầu tư trực tiếp. Hai là, hạn chế tỷ lệ góp vốn
của đối tác nước ngoài dưới 49% nếu phải du nhập công nghệ trực tiếp. Do vậy,
Chính phủ đã ban hành qui chế giám sát cần thiết để lựa chọn công nghệ tiên tiến
với giá cả của thị trường thế giới.
Để hoàn chỉnh chính sách du nhập công nghệ nước ngoài, Chính phủ Hàn
Quốc đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân lực để tiếp thu, học hỏi và phát triển
công nghệ. Ngoài ra, đầu tư của Chính phủ vào nghiên cứu và phát triển với mục
tiêu là phát triển và hoàn thiện các công nghệ được du nhập từ nước ngoài và thành
lập các cơ quan quản lý, các viện nghiên cứu để phổ biến, khai thác và hướng dẫn
chuyển giao công nghệ.
Ta có thể tổng hợp thành bảng sau :
Giai đoạn
Chính sách phát triển công
nghiệp
Chính sách phát triển khoa học
25