1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong đời sống hiện nay việc ứng dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật rất phổ
biến, trong đó lĩnh vực Hóa học Hữu cơ chiếm một vị trí quan trọng. Để làm rõ hơn vấn
đề chúng tôi viết bài tiểu luận này nhằm mục đích giới thiệu cho các bạn đọc về một phần
của ứng dụng Hóa học Hữu cơ là ứng dụng của axit Cacboxylic và dẫn xuất của axit
Cacboxylic.
Axit Cacboxylic và dẫn xuất của axit Cacboxylic là những hợp chất hữu cơ rất cần
thiết và tồn tại ở nhiều dạng trong đời sống của chúng ta. Con người sử dụng axit
Cacboxylic và dẫn xuất của axit Cacboxylic trong nhiều lĩnh vực như: thực phẩm, chăn
nuôi, công nghiệp, y tế,….
Trong khi viết bài tiểu luận chúng tôi đã cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu
sót, nên rất mong nhận được đóng góp ý kiến của bạn đọc để bài viết hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
2
Phần I: ỨNG DỤNG TRONG MỸ PHẨM VÀ LÀM ĐẸP
1.Cẩn thận với mỹ phẩm chứa axit Salixylic?
- Hiện nay có nhiều loại mỹ phẩm như nước rửa mặt, dầu tắm có chứa 2% axit
Salixylic, loại axit này được phép “rỉ tai” nhau mua dùng vì cho rằng những sản phẩm
này có thể giúp “ dọn dẹp” da mụn trên mặt và trên cơ thể.
- Axit Salixylic vốn là bà con dòng họ của Aspirin và rất dễ dàng thấm qua da để vào
hệ tuần hoàn máu, axit Salixyllic và Aspirin sẽ có tác dụng tương tự nhau trên cơ thể. Đã
có nhiều thống kê cho thấy axit Salixylic gây rũi ro cho sức khỏe, thậm chí gây tử vong.
- Một trong những tác hại nguy hiểm nhất của axit Salixylic là gây ra hội chứng Reye
vốn có thể gây tử vong cho người sử dụng hoặc có thể khiến họ bị tàn tật suốt đời.
- Axit Salixylic còn có thể gây ung thư da vì làm tăng tính nhạy cảm của da trước tia
cực tím.
- Theo viện rối loạn thần kinh và đột quỵ của quốc gia Mỹ hội chứng sẽ gây tác động
ô mai kết hợp địa du, hoa hòe, ngải thán, thược dược, đẳng sâm để chữa. Ra mồ hôi trộm
thì kết hợp ô mai với hoàng kì, đương quy, ma hoàng căn, cũng có hiệu quả điều trị khá
tốt.
Ô mai còn có tác dụng sinh tân dịch, chữa khô khát: Miệng khát do phiền nhiệt, dùng ô
mai kết hợp với thiên hoa phấn, ngọc trúc, thạch hộc. Để chữa cảm nắng cảm nóng và giải
khát, sinh tân dịch, dùng ô mai với số lượng vừa phải, 3 thìa con đường, cho đổ nước đun
sôi, để nguội uống. Người bị bệnh đái tháo đường, không tự chủ được tiểu tiện, cơ năng
sinh lý tuyến giáp trạng quá mức bình thường dẫn tới miệng khô khát thì dùng bài lục vị
địa hoàng thang thêm ô mai, ngũ vị tử và một ít nhục quế sẽ thấy hiệu quả rất tốt.
Ô mai cũng có các tác dụng sau:
- Trị giun đũa, chữa nôn, giảm đau: Do ô mai có vị chua nên làm cho giun đũa bị mềm
nhũn. Người có giun đũa thường buồn nôn, đau bụng. Có thể lấy 30 gam ô mai, 3 cùi dìa
đường, sắc trong một cốc nước to, để nguội, đưa bệnh nhân uống sẽ nhanh chóng hết đau.
- Lợi mật, làm tan sỏi mật: Nếu bị đau quặn do sỏi mật, viêm túi mật, dùng ô mai kết
hợp với kim tiền thảo, hải kim sa, diên hồ tố, kê nội kim, cam thảo chế sẽ thấy hiệu quả
đáng mừng. Y học hiện đại qua nghiên cứu đã cho thấy mơ chứa các loại axít hữu cơ có
trong táo tây, phật thủ, có tác dụng kháng khuẩn rõ rệt, đồng thời làm co túi mật, thúc đẩy
4
quá trình tiết mật.
- Bổ dạ dày, khai vị: Ô mai kết hợp với thuốc bổ khí có tác dụng tốt làm sản sinh nhanh
tân dịch, giúp dễ tiêu, dễ hấp thụ thức ăn.
Ngoài ra, người bị trúng phong, hàm răng nghiến chặt có thể dùng ô mai đánh gió. Ô
mai dùng ngoài còn có tác dụng làm mềm, làm tan mụn cóc (hạt cơm) trên da.
3.Alpha –hydroxy acid (AHA) có tác dụng như thế nào trong ngành mỹ phẩm?
Tác dụng để làm gì?
Alpha - Hydroxy Acid (AHA): là nhóm acid với một chức rượu (gốc hydroxy) ở vị trí
trên carbon có chứa các chức năng acid
* Cấu trúc phân tử: R-CHOH-COOH
+ Đặc tính:
- Kích thích tái tạo da.
thúc đẩy sản xuất collagen trong tầng trung bì. Nó
giúp làm tươi mới da, thúc đẩy tăng trưởng tế bào mới
và phá hủy các gốc tự do.
TÁC DỤNG LỘT TẨY DA (ở nồng độ cao)
AHA gây ra một sự suy yếu trong sự gắn kết sừng bằng cách hoạt động trên các liên
kết ion của tế bào sừng. AHA thấp hơn độ pH của da và thay đổi sự gắn kết của chất
sừng. Do đó, chúng làm tăng sự bong tróc. Làm suy yếu sự kết dính giữa các tế bào
sừng. Thúc đẩy tái tạo da. Kích thích sản xuất Collagen và Elastin.
TÁC ĐỘNG GIỮ ẨM (ở nồng độ thấp)
- AHAs biến đổi tế bào sừng trong da thành các amino acid, là những yếu tố căn bản để
tạo ẩm và làm cho da mềm mại.
- AHAs tăng cường sản xuất các Glycosaminoglycans, một phân tử có ái lực với nước,
và do đó làm tăng khả năng giữ nước trong các tầng sừng, làm tăng độ mềm dẻo của da.
Beta- Hydroxy Acid (BHA): là nhóm axit với 2 gốc chức năng tương tự như AHA,
nhưng là lipid- hòa tan thay vì hòa tan trong nước. Cấu trúc này cho phép nó thâm nhập
vào da thông qua các nang bã nhờn, giúp nó thích hợp cho bệnh nhân có làn da nhờn và lỗ
chân lông to.
6
+ Cấu trúc phân tử: R-CHOH-R-COOH
+ Thường được sử dụng trong mỹ phẩm với acid salicylic, có tác động tẩy lột mạnh &
phân giải sừng.
+ Được sử dụng là thành phần làm sạch mụn và chống lại các dấu hiệu lão hóa da.
+ Ít gây kích ứng hơn AHAs
4. Tác dụng của thuốc acid Salicylic trong mĩ phẩm
Acid Salicylic là thuốc phổ biến được dùng tại chỗ dưới dạng đơn chất hoặc phối hợp
với thuốc khác (resorcinol, lưu huỳnh) để điều trị triệu chứng các trường hợp: Viêm da tiết
bã nhờn, vảy nến ở mình hoặc da đầu, vảy da đầu và các trường hợp bệnh da tróc vảy
khác; Loại bỏ các hạt mụn cơm thông thường và ở bàn chân; Chứng tăng sừng khu trú ở
gan bàn tay và gan bàn chân và trong các trường hợp bị mụn trứng cá thường.
Thuốc có tác dụng làm tróc mạnh lớp sừng da và sát khuẩn nhẹ khi bôi trên da. Ở nồng
7
O
8
): Với vai trò là một chất phụ gia axit Citric được
dùng làm gia vị, chất bảo quản thực phẩm và đồ uống, đặc biêt là chất giải khát, nó mang
mã số E330. Muối Citrat của nhiều kim loại được dùng để vận chuyển các khoáng chất
trong các thành phần của chất ăn kiêng cho cơ thể. Tính chất đệm của các phức Citrat
được dùng để hiệu chỉnh độ pH của chất tẩy rửa và dược phẩm.
Axit Citric có khả năng tạo phức với nhiều kim loại. Có tác dụng tích cực trong xà
phòng và chất tẩy rửa bằng cách phức hóa các kim loại trong nước cứng. Các phức này
cho phép các chất tẩy rửa tạo nhiều bọt hơn mà không cần làm mềm nước trước. Bên cạnh
đó axit Citric còn được dùng làm sản xuất các chất trao đổi ion để làm mềm nước bằng
cách tách ion kim loại ra khỏi phức Citrat.
8
Axit Citric được dùng trong công nghệ sinh học và công nghệ dược phẩm để làm sạch
ống dẫn thủy mà không cần axit nitric.
Axit Citric là một trong nhưng hóa chất cần thiết cho quá trình tổng hợp Hexametylen
tripeoxit diamin (HMDT) là một chất dễ phát nổ giống Axeton Peoxit, nhạy với nhiệt và
má sát.
Axit Citric cũng được cho vào thành phần của kem để giữ các giọt chất béo tách biệt.
Ngoài ra nó cũng được thêm vào nươc ép chanh tươi.
Axit Citric được coi là an toàn sử dụng cho thực phẩm ở các quốc gia trên thế giới. Nó
là một thành phần tự nhiên có mặt ở hầu hết các vật thể sống. Lượng dư axit Citric sẽ bị
chuyển hóa và đào thải khỏi cơ thể.
6. Khi bị ong, muỗi, kiến đốt người ta thường bôi chất gì lên chỗ bị đốt?
Vì sao lại làm như vậy?
Khi bị ong, muỗi, kiến đốt chúng tiết ra một chất là axit Focmic (HCOOH) chất này
gây cho chúng ta cảm giác nhức, ngứa khó chịu tại vùng bị đốt. Và khi đó ta nên sử dụng
Ca(OH)
2
quả chua (chanh…), trong một số loại lá cây (bông, thuốc lá, thông….).
Là tinh thể có màu trắng, t = 153
0
C, dễ tan trong nước. Axit Xitric lẩn phẩm trung gian
của quá trình trôi đổi các axit Tricacboxylic trong cơ thể.
Axit Xitric làm chất bảo quản, chất tạo vị trong công nghiệp thực phẩm. Trong công
nghiệp thực phẩm axit Xitric chiếm hàng đầu trong số các axit hưu cơ. Axit Xitric còn được
dùng trong dược phẩm và các chất tẩy giặt.
9. Bạn có biết nho là một loại trái cây rất ngon và bổ vào mùa thu ?
Mùa thu là mùa thu hoạch nho, cũng là thời điểm quả nho có đủ các dưỡng chất tốt nhất.
Quả nho từ hạt, vỏ, củi nho đều giúp bạn có thể giảm béo. Trong quả nho có chứa đến 70%-
85% là nước, 10%-30% là đường, axit Galic, axit Silicic, axit Chanh, axit Formic, axit
Oxalic và nhiều loại vitamin.
10. Trong cơ thể và trong đời axit Axetic (CH
3
COOH) có tác dụng quan trọng gì
đối với cơ sống hằng ngày ?
Trong đời sống hằng ngày:
- Ứng dụng trong công nghệ chế biến mủ cao su: trong sản xuất mủ cao su người ta sợ
nhất là hiện tượng đông đặc của mủ trước khi đi chế biến. Để chống hiện tượng đó người ta
sử lý chúng bằng NH
3
rồi sau đó cho them vào dung dịch CH
3
COOH 2,5% với lượng là
3,5 -10 kg/tấn dung dịch mủ. Nhu cầu về CH
3
COOH là rất lớn, hiện nay người ta vẫn phải
nhập axit Axetic từ nước ngoài.
- Ứng dụng trong công nghệ thực phẩm: sản xuất giấm ăn
các mô da liên kết mạnh mẽ,làm ẩm cho da. Vì vậy chỉ cần áp dụng thoa nước dừa vùng da
xấu xí trước lúc khi đi ngủ có thể hạn chế mụn trứng cá, nếp nhăn, vết rạn, ngứa da và
eczema. Nước dừa chứa ít đường và hàm lượng natri ít hơn hẳn so với các loại nước thể
thao khác nhưng lại có nhiều Kali, Canxi, và Chloride giúp bổ xung và nâng cao mức năng
lượng của cơ thể cho bạn năng lượng tối ưu. Có kali, axit Laurit cao nên uống nước dừa
thường xuyên có thể khá hiệu quả trong việc điều hòa huyết áp, điều hòa dịch nội bộ và bổ
xung nước cho cơ thể. Nước dừa chứa axit Laurit khi vào cơ thể chúng sẽ chuyển thành
monolaurin sẽ giúp kháng vi rút, kháng khuẩn, chống giun đường ruột, kí sinh trùng và
nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ em và người lớn. Nước dừa vai trò như là một thuốc
kháng sinh và là một phương thuốc đơn giản cho những vấn đề về đường ruột.
12. Vì sao không nên pha sữa đậu nành với trứng gà hoặc đường đỏ?
Sữa đậu này có giá trị dinh dưỡng rất cao, có tất cả 8 loại gốc axit amin cần thiết cho cơ
thể, rất tốt cho việc bồi bổ, tăng cường sức khỏe.
11
Axit béo không bão hòa trong sữa đậu nành ngoài tác dụng ngăn không cho mỡ đóng
tầng trong cơ thể còn có tác dụng làm đẹp da mặt. Vitamin B
1
trong sữa đậu nành có tác
dụng phòng chống bệnh phù. Tuy sữa đậu là đồ ăn tốt như vậy nhưng cũng phải biết cách
dùng.
Không được hòa sữa đậu với trứng gà vì chất Abumin trong lòng trắng trứng dễ kết hợp
với chất tripxin trong sữa đậu nành thành những chất khó hấp phụ với cơ thể người làm
mất đi giá trị dinh dưỡng.
Không được pha sữa với đường đỏ vì axit hữu cơ trong đường đỏ có thể kết hợp với
protein trong sữa đậu, sinh ra những chất khó hấp thu trong cơ thể người. Với đường trắng
thì không có hiện tượng này.
13. Nguyên nhân gây ra đau mỏi khi vận động?
Người ít vận động khi vận động mạnh, lượng vận động nhiều thì cục bộ cơ bắp có hiện
tượng đau mỏi, đó được xem như là điều tự nhiên. Nhưng nguyên nhân gây đau mỏi thực
16. Tại sao bột ngọt lại ngọt
Để tăng thêm vị ngọt cho thức ăn, trong quá trình chế biến, người ta thêm vào một ít
bột ngọt. Thức ăn sai khi thêm bột ngọt sẽ có mùi vị ngon hơn. Vậy tại sao bột ngọt lại
làm tăng vị ngọt cho thức ăn?
Do trong bột ngọt chủ yếu chứa Natri Glutamat tạo nên vị ngọt. Axít Glutamic là một
trong những amino axit tạo thành các Protein. Nhưng khi các phân tử kết hợp với nhau tạo
thành phân tử protein thì không có vị ngọt, do đó người ta phải dùng axit Clohidric phân
giải các chất để giải phóng ra Axit Glutamic.
Khi đã có axit Glutamic đem trung hòa thì được Natri Glutamat có vị ngon ngọt. Bột
ngọt là muối Natri của Axit Glutamic khi phân giải là một amino axit cần thiết cho cơ thể
nên có giá trị dinh dưỡng cao nhưng vì có vị ngọt nên làm cho món ăn ngon hơn.
17.Vì sao trái hồng nên xếp hồng với lê khi giấm (rú quả)
Kinh nghiệm dân gian cho thấy, khi ngắt những trái hồng xanh về giấm thường rất lâu
chín. Nhưng nếu người ta để mấy quả lê hay vài quả hồng chín thì những quả xanh kia
cũng mau chín hơn hẳn.
13
Trong mỗi quả xanh đều có một loại axit gây chua, chát. Ví dụ. trong hồng có axit
tanin, táo có axit Malic, quýt chanh có axit Xitric. Khi quả chín, các axit này bị phân hủy
dần và vị chua chát sẽ mấy đi màu quả cũng chuyển dần từ xanh sang vàng.
Một bí mật được hé mở, khi nhà hóa học Svet tìm ra phương pháp sắc kí- tức là
phương pháp xác định thành phần các chất khí. Đo đạc cho thấy quả chính thường thoát ra
khí Etylen. Một số quả nhu lê táo chín nhanh hơn các quả hồng, mận. Chúng cũng giải
phóng nhiều Etylen hơn. Loại khí này có cấu trúc phân tử 1 nguyên tử C và 4 nguyên tử
H. Nó có tính hoạt động hóa học tương đối mạnh, xúc tiến hoạt động hô hấp của cây khiến
Oxy dễ lọt qua lớp vỏ vào quả hơn. Lúc này quả sẽ chín nhanh hơn.
18.Vì sao nước rau muống đang xanh rồi khi vắt chanh vào lại có màu đỏ?
Có một số hợp chất hóa học gọi là chất chit thị màu chúng làm cho dung dịch thay đổi
màu khi độ axit thay đổi. Trong rau muống có chất chỉ thị này. Trong chanh có chứa 7%
axit Citric, vắt chanh vào nước rau làm thay đổi độ axit và tạo phức với axit Citric. Do đó
làm thay đổi màu nước rau. Khi chưa vắt chanh, nước rau muống màu xanh của rau là lúc
chết VSV. Do đó trong sữa chua hầu như không có vi sinh vật gây bệnh. Có thể nói sữa
chua là loại thực phẩm vừa bổ dưỡng, vừa vô trùng.
2. Tại sao khi nấu canh cá người ta thường cho them chất chua (từ quả dọc, quả
me, giấm bổng,…)? Hãy giải thích cách nấu trên.
Chất chua (axit Lactic có trong nước dưa, me, axit Axetic có trong giấm, axit Xitric có
trong chanh,…) rất có “duyên” với cá. Nó nâng chất lượng (hương vị) của món canh cá. Mặt
khác, hạn chế chất tanh.
Do trong chất tanh của cá có hỗn hợp các amin: Đimetyl amin (CH
3
)
2
NH và Trimetyl
amin (CH
3
)
3
N, có tính bazơ yếu. Các chất chua dùng để nấu canh cá đều là axit hưu cơ, chúng
phản ứng với các amin tạo thành muối, do đó làm giảm hoặc làm mất vị tanh của cá.
Thí dụ:
CH
3
COOH + (CH
3
)
2
NH CH
3
COOH
2
N(CH
cần thiết cho dinh dưỡng hằng ngày của cơ thể người nhằm phục vụ quá trình tạo mới tế
bào. Nhu cầu về chất này tăng cao ở phụ nữ khi mang thai, thậm chí khi có ý định mang
thai nên các bà mẹ nên chú ý tới việc bổ sung nó. Axit Folic có thể giúp ngăn ngừa cả dị
tật bẩm sinh ở não và cột sống của thai nhi, giảm nguy cơ sinh non và khuyết tật tim. Các
nhà nghiên cứu tham gia dự án Nutrimenthe đã kết luận axit có tác dụng cải thiện hành vi
ở trẻ mới biết đi.
5. Trong cá hồi, cá kiếm người ta tiềm thấy axit béo omega-3. Bạn có biết nó có
tác dụng như thế nào ?
Trong cá hồi, cá kiếm người ta tiềm thấy axit béo omega-3 là axit Linoleic có tác dụng
bảo vệ tim mạch bằng cách giảm lượng triglyerides (1 loại chất béo trong máu) giảm viêm
nhiễm và ngăn ngừa các rối loạn tim nhịp.
Ta có thể uống một ly rượu vang mỗi ngày giúp cho axit béo omega-3 hấp thụ dễ vào
máu.
17
6. Acid béo Omega-3 cần cho sức khỏe và tiến hóa của loài người
Ta thường nghe dầu thực vật tốt cho sức khỏe hay tốt cho tim mạch hơn mỡ động vật là
do acid béo chứa trong nó các acid béo không no (có chứa nhiều nối đôi). Thật ra không
chỉ có dầu thực vật mà cả mỡ động vật nếu thành phần của nó có chứa acid béo không no
đều là loại tốt. Acid béo omega-3 có nhiều trong mỡ cá ở vùng biển lạnh và sâu như cá
tuna, cá salmon (chất lỏng lấy từ mỡ loại này ở nước ta quen gọi là dầu gan cá thu).
Acid béo omega-3 được xem là tốt cho tim mạch do người ta nhận thấy người Eskimo
hiếm bị bệnh động mạch vành (động mạch vành bị hẹp bít do cặn mỡ) và dân tộc này ăn
rất nhiều cá có chứa acid béo omega-3. Từ năm 1963-1967 toàn bộ người Eskimo ở vùng
Greenland chỉ có ba người bệnh động mạch vành. Các nhà khóa học cho rằng, loại axit
béo có nhiều trong thủy hải sản này là một trong những yếu tố giúp tổ tiên loài người trở
thành Homo sapiens (người khôn ngoan). Omega-3 đã góp phần tạo nên trí thông minh
của chủ nhân trái đất.
Các nhà khóa học cho rằng, loại axit béo có nhiều trong thủy hải sản này là một trong
mạch vành vì tộc người này rất hay ăn cá.
Những tác động của omega-3 đến hành vi ứng xử cũng được chứng minh khá rõ. Người
ta đã thử loại bỏ hết omega-3 trong thức ăn của chuột và nhận thấy chúng đã thay đổi hoàn
toàn hành vi sau vài tuần: trở nên lo lắng, hoảng hốt khi gặp hoàn cảnh khó khăn, thậm chí
còn giảm cả hoạt động đùa nghịch với nhau Ngược lại, chế độ ăn giàu omega-3 của
người Eskimo ở Bắc cực (16g dầu cá/ngày) sẽ làm tăng chất lượng của vùng não cảm xúc
(tăng bài tiết các chất dẫn truyền thần kinh liên quan đến nghị lực và tính khí vui vẻ).
Thai nhi và trẻ sơ sinh có nhu cầu rất lớn về acid béo omega-3 vì não đang phát triển
mạnh. Một nghiên cứu của Đan Mạch đã xác nhận, những thai phụ dùng nhiều thức ăn có
omega-3 sẽ sinh con có cân nặng tốt và ít khi bị sinh non.
Nguồn cung cấp omega-3 là tảo và các vi sinh vật nổi, tôm, cua, cá (tích lũy trong mô
mỡ). Cá nước lạnh đặc biệt nhiều mỡ và là nguồn phong phú nhất về omega-3. Cá nuôi có
ít chất này hơn so với cá hoang dã. Nguồn omega-3 đáng tin cậy nhất, ít bị nhiễm chất độc
và chất gây ung thư nhất là cá thu ma-kơ-rô, cá trồng (phải ăn cả con), cá sác-đin và cá
trích.
Một số thực vật cũng có omega-3 nhưng phải qua nhiều chặng chuyển hóa mới thành
acid béo cấu tạo màng tế bào thần kinh. Đó là hạt lanh (có thể ăn sống), dầu cải, dầu gai,
dầu quả hồ đà. Mọi loại rau xanh đều chứa tiền chất của omega-3 nhưng không nhiều,
điển hình là rau sam, rau bi-na, tảo biển và tảo xoắn xanh spiruline. Cỏ và lá mà các súc
vật hoang dã vẫn ăn cũng có omega-3; thế nên những con vật được săn bắt như hoẵng hay
lợn rừng có nhiều omega-3 hơn thỏ, lợn nuôi. Gia súc càng được nuôi nhiều bằng thức ăn
chế biến sẵn thì thịt của chúng chứa càng ít omega-3. Theo một tạp chí y học của Anh,
19
trứng gà công nghiệp bán ở siêu thị có hàm lượng omega-3 ít hơn trứng gà nuôi thả đến 20
lần.
7.Vì sao ăn cá có lợi cho sức khỏe?
- Cá có nguồn đạm quý với đủ các axit amin cần thiết. Hàm lượng Lysin, Tirozin,
Triptophan, Systin, Methyonin trong cá cao hơn thịt. Chất đạm của cá tươi dễ tiêu hóa, dễ
30% năng lượng, trong đó chất béo không no có nhiều nối đôi PUFA: Polyunsaturated
Fatty Acid) (omega-3, omega-6) nên có từ 3-7% tổng năng lượng; khoảng 0,6-0,8g/kg
thể trọng/ngày (tối đa 1,5g/kg thể trọng/ngày). Trong đó acid béo omega-6 (Lioleic
acid) 40-60mg/kg thể trọng/ngày; tổng số acid béo nhóm omega-3: 50-150mg/kg/ngày,
trong đó DHA nên 35-75mg/kg/ngày. Tỷ số DHA: AA nên từ 1:1 tới 1:2 là thích hợp.
10.Axit glutamic trong thực phẩm hằng ngày
Giới thiệu Glutamic (GA):
Axit Glutamic (gọi tắt là GA), là một loại axit amin có trong Protein thiên nhiên
(Amino acid). Do GA có thể tổng hợp trong cơ thể người. Nó cũng được liệt vào loại
Glutamic axit không cần thiết (Non- essential amino acid).
GA thường thấy trong cơ thể động vật và thực vật dưới nhiều dạng khác nhau. Và
Amination amide của GA (Glutamine, gọi tắt là Gln), là một axit amin rất quan trọng
trong cơ thể người. Do đó GA và các chất dẫn xuất có đặt tính riêng của nó thường được
sử dụng trong y học trị liệu cũng như bổ sung dinh dưỡng và sử dụng để bổ sung dinh
dưỡng cho quá trình sinh trưởng cho thực vật.
Trong kết cấu phân tử của GA có hai gốc Hydroxyl (Carboxyl group) và một gốc
Amin (Amino group), đó là chất lưỡng tính mang cả hai tính axit và kiềm, có thể làm
nguyên liệu cho các loại mỹ phẩm, thực phẩm và hóa chất.
Ứng dụng trong lĩnh vực phi thực phẩm:
Sử dụng GA làm thuốc thử
- Nghiên cứu GA dùng làm thuốc thử và phân tích tiêu chuẩn sản phẩm, dùng
trong nghiên cứu sinh hóa, phân tích sinh hóa, tổng hợp Protein.
- Ứng dụng trong y học trị liệu và dược liệu, sử dụng làm trong các dược vật
phẩm như dịch bổ sung dinh dưỡng đường ruột cũng như tiêm truyền, các tật
bệnh về chuyển hóa, cao huyết áp, an thần, thuốc nhỏ mắt…
- Nguyên liệu của hợp chất hóa học dung trong hợp chất thuốc chữa bệnh, thuốc
trừ sâu, Surfactant, sản phẩm hóa học…
Nguyên liệu mỹ phẩm chất hấp thu tia cực tím, chất giữ ẩm, thành phần trong dầu gội đầu.
Ứng dụng khác của loại GA hạt kết tinh (Bột ngọt):
22
Phần III: ỨNG DỤNG TRONG CÔNG NGHIỆP
1. Nêu một số công dụng của axit Propionic ?
- Axit Propionic ngăn cản sự phát triển của nấm mốc và một số vi khuẩn. Do vậy, phần
lớn axit Propionic được sản xuất để sử dụng làm chất bảo quản cho cả thực phẩm dành
cho con người cũng như thức ăn dành cho gia súc. Đối với thức ăn cho gia súc, nó được sử
dụng hoặc trực tiếp hoặc là dưới dạng muối Amoni. Đối với thực phẩm dành cho con
người, đặc biệt là bánh mì và các sản phẩm nướng khác, nó được dùng dưới dạng các
muối Natri hay Canxi.
- Axit Propionic cũng là một hóa chất trung gian có ích. Nó có thể sử dụng thay đổi các
sợi Xenlulozo tổng hợp. Nó cũng được dùng để sản xuất một số thuốc trừ sâu và dược.
2. Axit propionic có tác dụng gì trong đời sống?
Axit Propionic (C
3
H
6
O
2
) ngăn cản sự phát triển của nấm mốc và một số vi khuẩn. Do
23
vậy axit Propionic được dùng để làm chất bảo quản cho các thực phẩm dành cho con
người và thức ăn giành cho gia súc. Đối với thức ăn giành cho gia súc nó được sử dụng
trực tiếp hoặc là dưới dạng muối amoni. Đối với thực phẩm giành cho con người, đặc
biệt là bánh mì hoặc các sản phẩm nướng khác. Nó được dùng dưới dạng các muối Natri
hay Canxi.
Axit Propionic cũng là một hóa chất trung gian có ích. Nó có thể sử dụng để thay đổi
các sợi Xenlulozo tổng hợp. Nó cũng được dùng để sản xuất một số thuốc trừ sâu và
dược phẩm. Các este của axit Propionic đôi khi được dùng làm dung môi hay các chất
tạo mùi nhân tạo.
sẽ tạo thành chất mùn và axit Humic, ngoài việc tăng độ phì nhiêu cho đất, cung cấp chất
dinh dưỡng cho cây còn có tác dụng kích thích sự sinh trưởng và tăng sức đề kháng của
cây. Tỉ lệ chất hữu cơ được phân hủy tạo thành mùn (gọi là hệ số mùn hóa) trong các loại
phân chuồng đã ủ hoai trung bình 30 – 50%, phân xanh 20 – 30%. Than bùn là loại phân
hữu cơ tự nhiên chứa một khối lượng khá lớn trong lòng đất, tạo thành các mỏ than bùn.
Ở nước ta đã phát hiện và thăm dò nhiều mỏ than bùn, trong đó vùng Đồng bằng sông
Cửu Long đã thăm dò 8 mỏ than bùn (ở các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Hậu Giang, Long
An) với trữ lượng khoảng 500 triệu m3. Than bùn ở các mỏ này có chất lượng tốt, hàm
lượng mùn trung bình 40 – 50%, axit humic 20 – 30% và nhiều chất dinh dưỡng khác.
Than bùn trở thành nguồn nguyên liệu chủ yếu cung cấp chất hữu cơ và axit humic cho
công nghệ sản xuất phân hữu cơ hiện nay.
Axit Humic không tan trong nước nên cây không hấp thụ trực tiếp được, phải chuyển
thành dạng muối Humat tan được trong nước và giảm độ chưa mới sử dụng cho cây trồng.
Công việc này gọi là sự hoạt hóa axit Humic, có thể dùng các loại muối kiềm như muối
Natri, muối kali, thường dùng nhất là nước Amoniac. Than bùn nghiền nhỏ trộn với 2 -3%
nước Amoniac rồi ủ khoảng 5 – 6 giờ là phản ứng có thể xảy ra hoàn toàn.
Chất đạm trong nước amoniac gắn với gốc hữu cơ của axit humic tạo thành Humat
amôn, vừa dễ hòa tan vừa thêm chất đạm và giảm độ chua. Một số bà con ủ than bùn với
vôi để bón, như vậy chỉ giảm độ chua và cung cấp thên chất hữu cơ cho đất chứ không có
tác dụng hoạt hóa vì tạo thành Humat Canxi cũng rất khó tan trong nước, cây không sử
dụng được.
Cũng có thể dùng vi sinh vật để hoạt hóa than bùn nhưng thời gian hoạt hóa lâu hơn
25
dùng các muối kiềm, có thể phải 2 – 3 tháng.
Than bùn sau khi hoạt hóa có thể dùng làm phân bón ngay hoặc phối trộn thêm với các
phân khoáng đa, trung và vi lượng để tạo thánh các loại phân hữu cơ – khoáng, hoặc trộn
với vi sinh vật có ích tạo thành phân hữu cơ – vi sinh. Các loại phân hữu cơ được chế biến
từ than bùn đã hoạt hóa không những cung cấp chất hữu cơ, vi sinh vật và các chất dinh
dưỡng cho đất mà còn sử dụng được tính chất kích thích sinh trưởng vả tăng sức đề kháng
cho cây trồng của axit Humic.
dung dich axit Oxalic loãng. Sau đó ta nhỏ 1 giọt axit lên vết gỉ quần áo, sau vài lần làm
như vậy vết gỉ sẽ biến mất .
Axit Oxalic tẩy được vết gỉ sắt do có tính khử mạnh . Vết gỉ là hợp chất của Sắt(III)
không tan trong nước. Khi gặp axit nó được khử thành Sắt(II) dễ tan trong nước hơn. Axit
Oxalic còn tẩy được vết mực (trong mực có hợp chất của axit Tanic (H
76
C
54
O
46
) với Sắt(II)
khi gặp không khí thì lập tức trở thành hợp chất axit Tanic với Sắt(III)-hợp chất này