Thảo luận Tiền tệ ngân hàng
Thảo luận lý thuyết tiền tệ
Đề bài: Ảnh hưởng của cơ chế tỷ giá và tự do hoá tài khoản vốn đến chính sách
tiền tệ.
I- Tỷ giá hối đoái
1.Khái niệm :
Tỷ giá hối đoái là giá cả của đồng tiền nước này hể hiện bằng đồng tiền
nước khác. Tỷ giá chính là sự so sánh giá trị đồng tiền giữa các nước với nhau.
Tỷ giá có vai trò quan trọng khi được sử dụng như công cụ so sánh sức mua
của các đồng tiền, qua đó mà so sánh giá cả, gớa thành sản phẩm và năng suất lao
động giữa hai quốc gia. Tỷ giá còn được sử dung như công cụ để kích thích XNK
nhằm đạt được các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế và cuối cùng thông qua tỷ giá
thu nhập trong các hoạt động kinh tế đối ngoại được điều tiết một cách có hiệu
quả.
2.Các chế độ tỷ giá :
Cơ chế tỷ giá có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả của cs tiền tệ. Mức độ
ảnh hưởng này lại phụ thuộc vào môi trường áp dụng cơ chế tỷ giá: Khả năng và
mức độ hoàn hảo của hiện tượng di chuyển vốn giữa các quốc gia, khả năng và
chính sách thực hiện các hoạt động can thiệp triệt tiêu cũng như kĩ năng dự báo
trong quá trình điều tiết vĩ mô.
Về mặt lý thuyết có thể nêu ra ba loại chế độ tỷ giá, mức độ can thiệp của
NHTW trên thị trường ngoại hối trong từng chế độ tỷ giá là khác nhau
2.1.Chế độ tỷ giá cố định.
Chế độ tỷ giá cố định là chế độ tỷ giá mà trong đó NHTW buộc phải can
thiệp trên trường ngoại hối để duy trì tỷ giá cố định( tỷ giá trung tâm) do NHTW
xác định trong một biên độ hẹp đã định trước.
* Ưu điểm:
- Tỷ giá ổn định góp phần ổn định giá cả và nền kinh tế.
- Hạn chế được rủi do về biến động tỷ giá từ đó thúc đẩy dầu tư vào thương mại
quốc tế.
- Hạn chế được tình trạng đầu cơ ngoại tệ gây bất ổn nền kinh tế.
nhằm ảnh hưởng lên tỷ giá nhưng NHTW không cam kết duy trì một tỷ giá cố
định hay biên độ dao động xung quanh tỷ giá trung tâm.
* Ưu điểm:
Tương đối ổn định do đó góp phần ổn định kinh tế thúc đẩy các quan hệ
kinh tế quốc tế đảm bảo tính độc lập tương đối của cs tiền tệ, hạn chế được những
ảnh hưởng do các cú sốc từ bên ngoài đến nền kinh tế.
* Hạn chế:
NHTW phải có một lượng ngoại tệ đủ mạnh để can thiệp vào thị trường khi
cần thiết và phải xác định được mức độ can thiệp phù hợp nếu không sẽ trở thành
chế độ tỷ giá cố định.
3.Hiệu quả của CSTT trong các chế độ tỷ giá.
3.1. Hiệu quả của CSTT trong chế độ tỷ giá cố định .
* Trong điều kiện vốn di chuyển hoàn hảo.
Nhóm Alpha- Lớp KTCK8- Học viện Ngân hàng
2
Thảo luận Tiền tệ ngân hàng
Cán cân thanh toán quốc tế (PB) thăng bằng ở mức ls trong nước bằng mức
ls quốc tế (cán cân thanh toán quốc tế nhạy cảm với ls).
Khi NHTW thực hiện cs tiền tệ mở rộng đường LM dịch chuyển sang phải(
LM
1
-> LM
2
) làm cho lãi suất trong nước(i) giảm(i
1
->i
2
) nhu cầu được đầu tư và
sản lượng tăng.Nhưng i giảm khiến cho mức ls trong nước nhỏ hơn mức ls quốc tế
Thảo luận Tiền tệ ngân hàng
Giả sử tại A nền kinh tế cân bằng ở(i*,Y
1
)
Khi NHTW tăng MS,đường LMd/c phải, điểm cân bằng mới là C .Sản lượng
Y tăng làm kích thích NK, cc thương mại yếu đi, i giảm, kích thích vốn d/c
ra nước ngoài nhiều nhưng chậm hơn so với đk vốn hoàn hảo làm cc vốn yếu đi.
KQ: Cán cân thanh toán quốc tế bội chi làm MS giảm dần, LM d/c về vị trí ba.
n đầu->CCTT không hiệu quả trong dài hạn.
3.2.Hiệu quả của CSTT dưới chế độ tỷ giá thả nổi .
*Trong điều kiện di chuyển vốn hoàn hảo.
Khi NHTW tăng MS,đường LM dc phải làm cho sản lượng tăng từ Y1-
>Y2,ls trong nước giảm và i<i*, dãn đến cầu nội tệ giảm, cầu ngoại tệ tăng, đồng
bản tệ giảm giá, cầu hàng hóa tăng, tư đó cải thiện cán cân thương mại. Đồng thời
đường IS dc phải và Y tăng Y
2
.
Kết quả:
Dưới chế độ tỷ giá thả nổi, việc thực hiện cctt là dc cả hai đường IS, LM-
>CSTT rất có hiệu quả.
Nhóm Alpha- Lớp KTCK8- Học viện Ngân hàng
4
IS
BP
LM
2
LM
1
A
2
LM
1
IS
E
F
i
i
*
5
Thảo luận Tiền tệ ngân hàng
Khi MS tăng, đường LM dc phải làm ls trong nước i giảm,sản lượng Y
tăng, điểm cân bằng từ E đến F với mức ls thấp hơn, ngăn cản dòng vốn từ ngoài
vào, giảm giá nội tệ,cỏn cân thanh toán mất cân đốiKQ: CSTT đạt hiệu quả thấp
hơn so với trong đk hoàn hảo.
II- ảnh hưởng của cơ chế tỷ giá đến CSTT của Việt Nam
Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, Việt Nam đã lựa chọn
cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết. Chúng ta đã từ bỏ cơ chế tỷ giá neo mềm, theo
đó tỷ giá thị trường được giao dịch quanh tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhà
nước (NHNN)cụng bố và một biên độ được ấn định sẵn. Việc thay thế tỷ giá chính
thức bằng tỷ giá bình quân liên ngân hàng cho thấy, lần đầu tiên tỷ giá do NHNN
công bố phản ánh mức tỷ giá do thị trường quyết định. NHNN tham gia vào thị
trường liên ngân hàng bằng hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường này. Hành
động đó thực chất là được soi đường bởi một “tỷ giá mục tiờu”. Tỷ giá mục tiêu là
mức tỷ giá phản ánh chính xác các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia,
là mức tỷ giá mà tại đó các nguồn lực tài chính được phân bổ một cách có hiệu
quả nhất. Khả năng tính toán tỷ giá mục tiêu cho nền kinh tế và mức độ tin cậy của
những tính toán này có ý nghĩa quyết định đối với vai trò điều tiết của NHNN
trong phạm vi cơ chế tỷ giá đã lựa chọn.
Trong CSTT, chính sách tỷ giá có vai trò lớn, tác động trực tiếp đến cán cân
kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Do tỷ giá hối đoái giảm xuống VND được đánh giá cao đã làm suy giảm
sức cạnh tranh quốc tế của hàng hóa và dịch vụ VN, làm cán cân thương mại và
cán cân thanh toán chuyển từ trạnh thái thặng dư năm 1991-1992 sang trạng thái
thâm hụt, bắt đầu tích lũy sự mất cân đối bên ngoài và dần chuyển sang mất cân
đối ổn định, mất cân đối bên trong nền kinh tế. Bởi vì, về bản chất, tỷ giá hối đoái
không chỉ tác động đến những vấn đề kinh tế đối ngoại mà còn tác động đến
những vấn đề đối nội thông qua sự tác động của tỷ giá đến thị trường tiền tệ và thị
trường vốn.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa ổn định đã có tác dụng tích cực trong việc thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng do ngoại tệ được đánh giá rẻ nờn đó
khuyến khích các nhà đầu tư vay ngoại tệ để đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều
vốn và nguyên liệu nhập khẩu- một nguồn lực được coi là khan hiếm ở VN. Điều
này đã đi ngược với chiến lược phát triển kinh tế dựa trên cơ sở khai thác các
nguồn lực sẵn có và những lợi thế so sánh của đất nước , đó là nguồn lực lao động.
Việc phá giá đồng NDT 50% năm 1994 của Trung Quốc đã tác động tiêu
cực tới tỷ giá hối đoái giai đoạn này, hàng hóa dịch vụ của Trung Quốc quá rẻ đã
tràn ngập thị trường VN qua con đường buôn bán mậu dịch và buôn lậu gây khó
khăn cho sản xuất trong nước và làm tăng nhập siêu của VN từ TQ.
3- Giai đoạn từ 1997 đến trước ngày nay:
* Giai đoạn từ 1997 đến trước WTO:
Chính sách tỷ giá hối đoái được điều hành nhằm chống đỡ tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực và khắc phục tình trạng VND thời gian
trước đó.
Nhóm Alpha- Lớp KTCK8- Học viện Ngân hàng
7
Thảo luận Tiền tệ ngân hàng
cuộc khủng hoảng tiền tệ tài chính Đông Nam ỏ đã làm cho một loạt đồng tiền các
nước trong khu vực giảm giá mạnh so với đồng USD và VND điều đó có nghĩa là
VND lại bị đánh giá cao hơn nữa làm cho xuất khẩu của VN giảm sút một cách
mại hai chiều giữa VN và TQ năm 2004 đạt 7,2 tỷ và TQ đã trở thành đối tác xuất
khẩu lớn nhất vào VN chiếm xấp xỉ 15%, kim ngạch nhập khẩu và thâm hụt
thương mại của VN đạt 1,7 tỷ so với 2003 là 1,4 tỷ USD.
Nhóm Alpha- Lớp KTCK8- Học viện Ngân hàng
8
Thảo luận Tiền tệ ngân hàng
+ Đầu tư trực tiếp của TQ vào VN tăng nhanh: năm 2003 chiếm 10,3%
tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào VN; năm 2004 chiếm 14,4%.
+Tỷ trọng vốn vay TQ của VN còn thấp nhưng đã gia tăng mạnh từ xấp xỉ
3% năm 2003 đến 8% năm 2004, điều đó cho thấy ảnh hưởng kinh tế TQ đối với
VN ngày càng lớn và quan hệ kinh tế, thương mại đã có dáng dấp quan hệ kinh tế
Bắc- Nam.
Việc TQ mở rộng biên độ tỷ giá hối đoái ở mức độ nhỏ thì về thương mại
sẽ có tác dụng cải thiện thâm hụt thương mại của VN nhưng mức độ không lớn do
sức cạnh tranh mạnh của hàng hóa TQ với chi phí thấp và lợi thế hơn nhiều so với
hàng hóa VN, mặt khác do cơ cấu hàng xk và nk của TQ vào VN cũng khác
nhau( TQ xk hàng công nghiệp còn VN xk hàng nông sản), trong quan hệ hai
chiều cho nên tác động tích cực của việc tăng giá nhân dân tệ không bù đắp lợi thế
và sức bán của hàng TQ.
Tuy TQ là một quốc gia lớn và ảnh hưởng kinh tế TQ đối với nền kinh tế
VN ngày càng mạnh nhưng trước mắt đồng nhân dân tệ chưa phải đồng tiền mạnh
và chưa sử dụng làm phương tiện thanh toán của VN, do vậy dự trữ của đồng
NDT trong hệ thống ngân hàng VN là không đáng kể, thanh toán chính ngạch của
VN đối với TQ qua hệ thống ngân hàng vẫn chủ yếu bằng đồng USD và EUR.
Trên thực tế mức độ điều chỉnh NDT không lớn sẽ không ảnh hưởng đáng kể đến
thị trường tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng của VN. Mặt khác
sự lên giá của NDT có thể hỗ trợ sự giải quyết thâm hụt kép của Mỹ hiện nay, điều
này mới có ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ VN, đặc biệt trong điều kiện thâm hụt
thương mại của VN đối với phần còn lại của thế giới là khá lớn và tình trạng USD
hóa chưa được xử lý triệt để.
mình. Song mua rồi phải bán ra nếu không sẽ vi phạm “vượt trạng thái ngoại tệ”
theo quy định của NHNN. Thế nên trong bối cảnh VND/USD có xu hướng giảm
việc giữ ngoại tệ quỏ lõu chắc chắn sẽ bị thua lỗ. Hơn thế nhu cầu mua ngoại tệ
cũng chỉ giới hạn theo nhu cầu của các dn bởi các NHTM khác trong hệ thống
cũng đang dư thừa ngoại tệ. Do vậy, các NHTM chỉ còn một hướng là bán ngoại
tệ cho NHNN với tư cách là “người mua bán cuối cựng”trrờn thị trường ngoại hối
liên ngân hàng. Song NHNN mua ngoại tệ còn tùy thuộc vào quy mô dự trữ ngoại
tệ, chỉ tiêu cung ứng VND ra lưu thông và mục tiêu điều hành tỷ giá.
Vì vậy, NHNN chậm mua USD của các NHTM nên ý kiến cho rằng NHNN
đang bắt NHTM “ụm USD” đứng trên góc độ thị trường liên ngân hàng là hoàn
toàn có cơ sở. Đồng thời cung USD tăng mạnh làm cho tỷ giá trên thị trường diễn
ra nghịch lý: tỷ giá mua ngoại tệ của NHTM bằng tỷ giá bán ngoại tệ của chính
ngân hàng đó; tỷ giá mua bán ngoại tệ của NHTM thấp hơn tỷ giá của NHNN
công bố và có thời điểm cao hơn tỷ giá trên thị trường tự do, cụ thể: tỷ giá mua
ngoại tệ của các NHTM hiện nay chỉ là 16.082VND/USD, tỷ giá bán là
16.085VND/USD; đồng thời so với tỷ giá mua bán cách đây một năm của các
NHTM thì hầu như không tăng, chỉ tăng 0,19%: năm 2006 tỷ giá mua của NHTM
là 16.055VND/USD, tỷ giá bán là 16.057VND/USD.
Trước diễn biến của thị trường ngoại tệ phó thủ tướng thường trực Chính
phủ Nguyễn Sinh Hựng đó cú văn bản chỉ đạo NHNN tiếp tục mua USD vào quỹ
Nhóm Alpha- Lớp KTCK8- Học viện Ngân hàng
10
Thảo luận Tiền tệ ngân hàng
dự trữ ngoại tệ quốc gia. Song khối lượng mua và tiến độ mua thế nào là con số bí
mật trong điều hành chính sách tiền tệ.
Tóm lại chính sách tiền tệ với những đổi mới hoàn thiện công cụ của nó, cụ
thể là chế độ tỷ giá đã tác động tích cực tới quá trình phát triển kinh tế ở VN trong
những năm qua. Cùng với chính sách tài chính đã duy trì sự ổn định tăng trưởng
của nền kinh tế, vượt qua ảnh hưởng tiêu cực của những tác động của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ tạo cơ sở vững chắc cho VN mở cửa hội nhập trong quá
quyết định phát hành và đầu tư vốn trên thị trường chứng khoán, là việc cho phép
rộng rãi các ngân hàng và các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các giao dịch
chứng khoán ở thị trường trong nước, là quá trình dỡ bỏ kiểm soát các luồng vốn
vào và luồng vốn ra khỏi nền kinh tế.
Về thực chất, Tự do hóa tài khoản vốn là việc cho tự do tiến hành chuyển đổi
các tài sản tài chính trong nước thành tài sản tài chính ở nước ngoài và ngược lại
theo tỷ giá hối đoái do thị trường quy định.
Để đáp ứng những nhu cầu trờn thỡ tự do hóa tài khoản vốn được xem xét trên
một số lĩnh vực sau:
- Khả năng chuyển đổi tiền tệ đối với các giao dịch qua tài khoản vãng lai;
- Các luồng vốn vào các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), bao gồm vấn đề
chuyển tiền và rút vốn của quỹ đầu tư, trả cổ tức, thanh toán hoàn trả các khoản
vay trực tiếp với nước ngoài của các dự án FDI;
- Các luồng vốn vào được đầu tư theo danh mục qua TTCK (Portfolio investment
inflows), bao gồm vấn đề chuyển tiền vào và rút vốn ra, về vay nợ, cổ phần, cho
vay ngoại tệ đối với công dân nước sở tại;
- Luồng vốn FDI ra nước ngoài, bao gồm cả việc mua sắm của các công dân nước
sở tại;
- Luồng vốn ra được đầu tư theo danh mục qua TTCK (Portfolio investment
outflows), vấn đề sở hữu trái phiếu bằng đồng nội tệ của người nước ngoài và
luồng vốn ra của các khoản vay bằng ngoại tệ;
- Tất cả các hạn chế còn duy trì đối với các giao dịch tài chính qua biên giới của
công dân nước sở tại.
Một trong những nội dung của tự do hóa tài khoản vốn là tự do hoá thương
mại dịch vụ tài chính, đặc biệt là dịch vụ chứng khoán là vấn đề mang tính chất
thời sự bởi tất cả sự phỏt trớển bền vững, ổn định hay suy thoái của nền kinh tế
của một quốc gia đều thể hiện qua sự hoạt động của thị trường chứng khoán của
nước đó.
Trong thời gian qua để hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực cũng như thế
hóa tài khoản vốn làm cho vốn tự do luân chuyển qua biên giới quốc gia. Nú giỳp
cho nền kinh tế quốc gia trở nên linh hoạt hơn, hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu
vực và thế giới. Song, nó cũng làm cho nền kinh tế quốc gia trở nên dễ bị tổn
thương hơn. Trước những lợi ích do việc thực hiện tự do hóa tài khoản vốn mang
lại thì nước ta ngay những ngày đầu năm 2007, các tín hiệu liên tục được phát ra
như: công bố Nghị định hướng dẫn Pháp lệnh Ngoại hối với nhiều cởi mở cho
dòng vốn ra-vào; nới rộng biên độ dao động tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đô la
Mỹ; sẽ tăng tỷ lệ được phép sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh
nghiệp trong nước cho thấy Việt Nam dường như đang đẩy nhanh tiến trình tự
do hóa tài khoản vốn và thực hiện một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn.
Nhóm Alpha- Lớp KTCK8- Học viện Ngân hàng
13
Thảo luận Tiền tệ ngân hàng
Động thái này chắc chắn được nhiều chuyên gia kinh tế mà trước tiên là IMF
khuyến khích, thậm chí là thúc giục vỡ phớa ủng hộ cho rằng điều đó sẽ có lợi cho
nền kinh tế. Tuy nhiên, những người phản đối lại cho rằng dòng vốn ra - vào tự do
với tỷ giá không được kiểm soát dễ làm tổn thương đến nền kinh vốn nhỏ và mỏng
manh của Việt nam.
Trước hết, có lẽ cần nhìn vào các con số dự báo để tìm hiểu tình hình tài chính
của Việt Nam. Thứ nhất, về dòng vốn chảy vào và chảy ra theo tính toán của IMF
(2006) thì giai đoạn 2002-2010 sẽ có khoảng 34,2 tỉ đô la đổ vào Việt Nam thông
qua tài khoản vốn, trong đó phần lớn là vốn đầu tư trực tiếp. Tổng nợ vay của Việt
Nam vào năm 2010 sẽ khoảng 28,8 tỉ đô la, tăng thêm 9 tỉ đô la so với cuối năm
2006, bằng 39,5% GDP. Con số này chỉ thấp hơn tỷ lệ nợ tư nhân nước ngoài của
Thái Lan vào 1996, năm trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính, là 1,5%. Nhưng
rất may Việt Nam chủ yếu là Chính phủ vay dài hạn với số phải trả vào năm cao
nhất chỉ là 3.9 tỉ $ nên không có áp lực lớn lắm. Điều cần chú ý là trong ước tính
của IMF không thể hiện rừ dũng vốn đầu tư gián tiếp. Nếu tài khoản vốn thông
thoáng, thị trường chứng khoán phình to thì đây là một ẩn số hai mặt. Do vậy, khi
dòng vốn đi vào nhiều, nếu Việt Nam có thể điều khiển tốt để chúng chảy vào nơi
Nếu không thiết lập được những cơ chế và công cụ để hạn chế những tác động bất
lợi của tự do hoỏ dũng vốn, có khả năng sẽ xảy ra những hậu quả khôn lường cho
nền kinh tế. Bài học nhãn tiền là cuộc khủng khoảng tài chính kinh tế ở khu vực
Đông Á, mà một trong những tác nhân chính là các nước đã mở cửa tài khoản vốn
mà không có đầy đủ các biện pháp phát hiện, ngăn ngừa, và giải quyết các tác
động xấu một khi xảy ra.
trong lĩnh vực này là yêu cầu bức thiết đối với các cơ quan chức năng của Việt
Nam.Tham gia tích cực và hiệu quả các chương trình hợp tác khu vực và quốc tế
đối với lĩnh vực tự do hoá thị trường vốn sẽ giúp Việt Nam đẩy nhanh quá trình
hội nhập nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Trong lĩnh vực tài khoản vốn thì
phải làm sao thu hep khoảng cách giữa thị trường vốn ở nước ta với các nước
trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên trong kinh tế chúng ta không nên quá thận
trọng vì đôi khi như thế nền kinh tế sẽ kém năng động và linh hoạt đối với những
sự thay đổi của thị trường đồng thời cũng sẽ đánh mất nhiều cơ hội tốt dẫn đến sự
quá thận trọng sẽ trở nên không tốt. Hy vọng rằng với ngày càng nhiều chính sách
đổi mới phù hợp với điều kiện kinh tế trong và ngoài nước thì tất cả các tác động
hạn chế trên là chỉ trong ngắn hạn chúng ta sẽ khắc phục dần để phục vụ tốt hơn
mục tiêu phát triển đất nước trong dài hạn.
• Bài học về tự do hóa tài khoản vốn tại Thái Lan
Nhóm Alpha- Lớp KTCK8- Học viện Ngân hàng
15
Hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng các tiêu chí quản lý thận trọng và nâng
cao năng lực quản lý nhà nước
Thảo luận Tiền tệ ngân hàng
Việt Nam có thể học được những bài học kinh nghiệm lớn từ cuộc khủng
hoảng tài chính châu Á năm 1997 tại nước láng giềng Thái Lan sau đó lan
sang một loạt các nước Đông nam Á khác.
Thái Lan được xem là nơi châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ tại châu Á vào năm 1997-1998. Lúc đó, nhiều người không tin điều tồi tệ
như vậy lại có thể xảy ra.
16
Thảo luận Tiền tệ ngân hàng
được thả nổi. Điểm đáng chú ý nhất của Thái Lan là sau khi phá giá đồng Baht,
thặng dư thương mại ngày càng gia tăng. Hơn thế nữa, dòng vốn nước ngoài
đang quay trở lại ngày một nhiều hơn. Hệ quả tất yếu của điều này là áp lực
tăng giá đồng tiền trong nước tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu.
2.Ảnh hưởng của tự do hóa tài khoản vốn đến chính sách tiền tệ
• Ảnh hưởng của tự do hóa tài khoản vốn trong cơ chế tỷ giá cố định
Khi vốn di chuyển hoàn hảo
Trong điều kiện vốn di chuyển hoàn hảo, cán cân thanh toán quốc tế thăng
bằng ở mức lãi suất trong nước bằng mức lãi suất quốc tế ( cán cân thanh
toán quốc tế nhạy cảm với lãi suất).
Khi ngân hàng TW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, đường LM dịch
chuyển sang phải làm cho i giảm nhu cầu đầu tư tăng và sản lượng cũng tăng.i
< i*.
Nhóm Alpha- Lớp KTCK8- Học viện Ngân hàng
PB
A
i
1
=i
*
i
2
Y
i
17
Thảo luận Tiền tệ ngân hàng
Trong chế độ tỷ giá cố định NHTW buộc phải mua hay bán ngoại tệ,trực
tiếp tác động đến cung cầu ngoại tệ nhằm giới hạn tỷ giá trong biên độ đã
tõm.Vỡ vậy trong chế độ này tự do hóa tài khoản vốn ảnh hưởng trực tiếp tới
việc thực hiện chính sách tiền tệ cua chính phủ.
thảo luận
MÔN LÝ THUYẾT TIỀN TỆ
Nhóm Alpha- Lớp KTCK8- Học viện Ngân hàng
18
Thảo luận Tiền tệ ngân hàng
Đề tài :
ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ CHẾ TỈ GIÁ VÀ TỰ DO HOÁ
TÀI KHOẢN VỐN ĐẾN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Nhóm Alpha- Lớp KTCK8- Học viện Ngân hàng
19