TỰ DO HÓA TÀI KHOẢN VỐN –
KINH NGHIỆM CỦA UGANDA
Trình bày bởi Louis A. Kasekende - Đại diện ngân hàng Uganda
Viện Phát triển Hải ngoại
Ngày 21/06/2000
I. Giới thiệu
Trong hai thập kỷ qua, cơ cấu kinh tế thế giới cơ bản đã được chuyển đổi với sự gia
tăng toàn cầu hoá thị trường tài chính và các vấn đề liên quan đến sự luân chuyển vốn
giữa các quốc gia đã trở thành trọng tâm của hệ thống tiền tệ quốc tế. Sự phát triển mạnh
mẽ của hội nhập tài chính thế giới đã được thúc đẩy bởi sự nới lỏng kiểm soát vốn và mở
rộng tự do hóa tài chính ở hầu hết các nước, cũng như sự phát triển của khoa học viễn
thông và công nghệ mới đã tạo điều kiện cho việc chuyển vốn ra nước ngoài. Đối với
Uganda, việc tự do tài khoản vốn đã được thực hiện từ tháng 7/1997. Sau đó dòng vốn
đã được phép tự do luân chuyển giữa Uganda và các nước trên thế giới, dòng vốn này
cho phép cả người cư trú và không cư trú được giữ tài khoản ngoại tệ trong hệ thống
ngân hàng trong nước và cho phép người cư trú nắm giữ tài khoản ngoại tệ và các giấy
tờ có giá ở nước ngoài. Tự do hóa tài khoản vốn được thực hiện như là một phần trong
một loạt các chính sách cải cách và ổn định mà đã được cam kết từ năm 1987.
Trước khi tự do hóa, thị trường song song (thị trường chợ đen) chiếm một tỷ lệ
đáng kể trong các giao dịch kinh tế. Chẳng hạn, hơn một nửa xuất khẩu chính của quốc
gia là cà phê đã được nhập lậu vào Kenya. Mặt khác các đại lý còn tham gia vào kinh
doanh chênh lệch giá giữa thị trường chính thức và thị trường song song không chỉ ở tài
sản tài chính và ngoại hối mà còn ở hàng hoá. Điều này đã làm giảm hiệu quả cho nền
kinh tế. Trong bối cảnh đó, khái niệm về tự do hóa tài khoản vốn đã loại bỏ tình trạng
không rõ ràng như trên trong nền kinh tế Uganda. Quan trọng cần lưu ý là ngay khi áp
dụng chính sách tự do hóa, thực thi đầy đủ các việc kiểm soát hiện tại là điều không thể
thực hiện. Vì thế các quốc gia phải có một tài khoản vãng lai và tài khoản vốn ngay lúc
chính phủ công bố tự do hóa, chính thức hóa những gì đã tồn tại. Việc không rõ ràng
được mô tả về giai đoạn kiểm soát được rút ra từ sự thất bại của chính quyền trong việc
1
thực thi đầy đủ các quy định hành chính và sự nỗ lực của khu vực tư nhân để phá vỡ sự
2
Hệ thống ngoại hối đã được tự do hoá đáng kể vào năm 1990 với sự xuất hiện
nhiều các quầy thu đổi ngoại tệ để phân phối các khoản thu ngoại hối với nhiều cách sử
dụng theo nhu cầu thị trường. Các quầy thu đổi ngoại tệ được tăng cường hơn nữa với
việc giới thiệu các phiên đấu giá ngoại hối hàng tuần để phân bổ nguồn lực cho các
ngành công nghiệp chiến lược. Tuy nhiên, với một nền kinh tế vẫn còn mong manh và dễ
bị tổn thương trước những cú sốc bên ngoài. Tiết kiệm và đầu tư vẫn rất thấp (1% và
11% GDP), lạm phát vẫn còn cao và không chắc chắn để khuyến khích kinh doanh dài
hạn và các sáng kiến khác cần thiết cho phát triển kinh tế bền vững. Quan trọng hơn, khu
vực tài chính có những yếu kém lớn cùng với sự thiếu hiệu quả cũng đóng góp đáng kể
cho sự bất ổn định kinh tế vĩ mô.
Nhằm giải quyết những vấn đề này, chính phủ thực hiện một chương trình cải cách về
lĩnh vực tài chính. Các cải cách này nhằm loại bỏ kiểm soát lãi suất, giảm bớt rào cản để cho
các ngân hàng tư nhân mới đi vào hệ thống, hạn chế vai trò trực tiếp của chính phủ trong việc
phân bổ các nguồn lực tài chính bao gồm tài trợ hàng hoá trong các vụ mùa nông sản và từ bỏ
quyền sở hữu của chính phủ trong các ngân hàng thương mại. Quá trình này được hoàn thiện
bởi các chính sách song song để tăng cường giám sát ngân hàng và khuyến khích kỷ luật tài
chính thông qua các điều khoản, các quy định mới và các chính sách để nâng cao hiệu quả và
lợi nhuận của các tổ chức tài chính. Những biện pháp này khẳng định tự do hóa tài khoản vốn
tháng 07/1997 đã đảm bảo cho lĩnh vực tài chính đủ mạnh để chống lại bất kỳ cú sốc phát sinh
nào ngoài sự gia tăng của bất kỳ nguồn vốn.
III. Mục tiêu của tự do hoá tài khoản vốn
Thành tựu của các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô được tiếp nối với những cải cách
tiếp nối thứ hai để loại bỏ bất kỳ rào cản ràng buộc để cung cấp và đáp ứng môi trường
kinh tế vĩ mô ổn định. Các cải cách này nếu không được thực hiện thì chắc chắn rằng các
vấn đề của sự mất ổn định kinh tế vĩ mô sẽ tái xuất hiện. Do đó, trong giai đoạn 1995-
1997, nhiều cuộc tranh luận nội bộ tập trung vào các vấn đề sau:
Không có khả năng thực hiện có hiệu quả kiểm soát vốn và sự cần thiết để
thu hút các nguồn lực cho đầu tư để duy trì tốc độ tăng trưởng cao kể từ khi tiết kiệm tư
nhân tỷ lệ là 1% GDP ở mức thấp hay ngay cả đối với một tỷ lệ đầu tư là 11% GDP.
thấy trong bảng 1 dưới đây, viện trợ chính thức trong các hình thức của cán cân thanh
toán và hỗ trợ dự án đã phát triển qua thời gian, và không có cơ chế để tạo điều kiện
chuyển giao các nguồn lực để khu vực tư nhân. Mở cửa tài khoản vốn sẽ tạo điều kiện
cho một chuyển trực tiếp các nguồn lực từ các nguồn bên ngoài để các thực thể tư nhân
trong nước để thúc đẩy đầu tư.
4
Bảng 1: Thành phần hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Uganda
Giai đoạn 92-93 93-94 94-95 95-96 96-97 97-98 98-99
Cán cân thanh
toán
165,1 154,8 178,9 86,2 110,8 166,4 127,8
Dự án 307,8 331,8 419,0 446,2 419,1 475,8 405,9
Tổng dòng vốn
đầu tư
472,9 486,6 597,9 532,4 529,9 642,2 533,7
Tỷ trọng dòng
vốn đầu tư so
với GDP (%)
15,7 13,1 11,3 9,7 9,3 10,4 9,2
Nguồn: Cán cân thanh toán của Uganda
Theo ghi nhận của Calamitsis và Dhonte (1996), " để đạt được mục tiêu trong thu nhập
GDP bình quân đầu người, các khoản tiết kiệm và đầu tư của tư nhân là chìa khóa để đạt mục
tiêu". Về mặt này, các cuộc họp của nhóm tư vấn 1989 đã nhất trí rằng sản xuất hiệu quả sẽ
được thực hiện thông qua khu vực tư nhân và do đó tìm cách giảm bớt vai trò của chính phủ
trong sản xuất trực tiếp. Do đó, quá trình tư nhân hoá đã được thực hiện thông qua các doanh
nghiệp nhà nước phải được thực hiện để đạt được mục tiêu này. Đến nay, hơn 85% doanh
nghiệp nhà nước đã được chuyển đổi hoặc tư nhân hóa, và điều này đã chiếm một phần cho sự
tăng vốn FDI và trả lại cho các dòng vốn lưu chuyển khác.
Việc mở cửa của tài khoản vốn nhằm khuyến khích việc cung cấp để thu hút tiền
tiết kiệm khu vực tư nhân bổ sung từ các nguồn bên ngoài được cần thiết cho việc tăng
ông, đầu tiên cần được loại bỏ kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài và dòng vốn liên
quan đến thương mại, khi thực hiện chương trình cải cách kinh tế. Trong thực tế, tùy
thuộc vào điều kiện môi trường kinh tế của một đất nước, trình tự cải cách sẽ thay đổi.
Chương trình cải cách của Uganda được trình bày dưới đây:
a. Chính sách tài chính, chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái:
6
- Trong kinh tế vĩ mô, một trong những điều kiện quan trọng tự do hóa tài khoản
vốn là cải cách tài chính để làm giảm thâm hụt tài chính và đảm bảo mức lạm phát chấp
nhận được. Duy trì tự do hóa tài khoản vốn có nghĩa là: Thuế không phải là nguồn thu
quan trọng trong ngân sách của nhà nước. Hơn nữa, để giảm thiểu những chi phí liên
quan đến việc tiếp cận các nguồn vốn lớn, phải quản lý chính sách tiền tệ theo mức lãi
suất và tỷ giá hối đoái, nó phải thích ứng, linh hoạt, phù hợp với nguyên tắc cơ bản và
điều kiện cụ thể của từng thị trường.Lãi suất trong nước phải phù hợp với những thay đổi
hiện hành của thị trường tài chính quốc tế. Các dòng vốn ngắn hạn, có độ nhạy cao, dễ
dàng làm cho chính sách kinh tế vĩ mô của một quốc gia thành công hay thất bại. Các
nước thận trọng trong kinh tế vĩ mô, chính sách tài chính, tiền tệ luôn vững chắc, đạt
được hiệu suất lớn, đa dạng hóa lợi ích từ việc tự do hóa tài khoản vốn.
- Ngay từ khi thực hiện chương trình cải cách kinh tế vào năm 1987, giá cả ổn định là
một trong những mục tiêu quan trọng trong kinh tế vĩ mô. Do đó, việc can thiệp vào tài khoản
vốn cần phải được cân nhắc, đảm bảo khả năng thanh khoản trong nước, không để lạm phát
xảy ra, đồng thời đảm bảo khả năng cạnh tranh cho hàng xuất khẩu của Uganda, không gây áp
lực mất giá để buộc phải thực hiện thắt chặt chính sách tiền tệ với lãi suất cao.
- Chính sách kiềm chế lạm phát được thực hiện năm 1987, chủ yếu dựa vào sự cân
bằng của cung và cầu thị trường. Kết quả chủ yếu là dựa vào sự kết hợp của việc mở
rộng chính sách tiền tệ một cách thận trọng và hạn chế chi tiêu công của chính phủ. Tiến
trình điều chỉnh đã giải quyết một số khó khăn. Lạm phát năm 1987 là 250 %, xuống còn
30 % trong năm 1992, sau đó là 10 % năm 1995 và thậm chí có lúc xuống dưới mức
10%. Năm 1999 - 2000, lạm phát là 5%. Lạm phát duy trì ở mức thấp kết hợp với các
chính sách cải cách tài chính từng bước tạo nên sự tự tin cho hoạt động của hệ thống
ngân hàng.
chức tài chính này thiếu chiến lược hiệu quả khi gia nhập vào thị trường, sự cạnh tranh bị
hạn chế mà nguyên nhân là do thông tin bất đối xứng và năng lực giám sát hệ thống tự
do hoá tài chính có phần hạn chế, gây khó khăn cho sự phát triển trong ngành tài chính.
- Duy trì tự do hóa tài khoản vốn đòi hỏi phải tăng cường sự giám sát thận trọng
đối với hoạt động các tổ chức tài chính, đặc biệt rủi ro tỷ giá hối đoái. Cuối cùng, theo
điều lệ đã được sửa đổi năm 1993, cả hai tổ chức tài chính (FIS) và Ngân hàng của
Uganda (BOU) hỗ trợ Ngân hàng Trung ương trong việc xây dựng chính sách tiền tệ,
giám sát và điều chỉnh hoạt động của tất cả các tổ chức tài chính. Việc làm này nhằm
chống lại được những cú sốc bên ngoài trong khi thực hiện tự do hóa tài khoản vốn, hệ
thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung. Cần phải cẩn thận trong xây dựng
8
chính sách tài chính, thiết lập lãi suất linh hoạt hơn, sắp xếp và tái cơ cấu vốn các tổ
chức tài chính trong nước, xác định rõ phạm vi, chức năng của các tổ chức tài chính
trong nước. Theo FIS (1993) có quy định đầy đủ những yêu cầu về tăng cường vốn của
các tổ chức tài chính và tăng cường giám sát, nhằm bù đắp cho rủi ro xảy ra.
- Các ngân hàng được yêu cầu phải cung cấp báo cáo định kỳ cho Ngân hàng của Uganda
nhằm cho mục đích thống kê. Theo quy định về ngoại hối (2000), bảng báo cáo phải có các
thông tin chi tiết liên quan đến các giao dịch của tài khoản vốn. Việc tự do hoá tài khoản vốn có
thể làm cho các giao dịch ngoại hối tăng và hàm chứa nhiều rủi ro. Các ngân hàng được yêu cầu
phải thiết lập hệ thống riêng, để kiểm soát và hạn chế những rủi ro.
c. Cơ cấu nợ :
- Uganda là một nước nghèo mắc nợ nặng nề, việc giảm nợ ở nước này rất quan
trọng, để cải thiện tài chính của quốc gia, tạo điều kiện để nước này tiếp cận với thị
trường tài chính quốc tế. Giảm được chi phí đi vay, đảm bảo tiến trình cải cách hợp lý và
giảm tỷ lệ nợ của đất nước này. Cơ cấu nợ cần thiết để giảm bớt những khó khăn trong
hoạt động ngoại hối lâu dài, tăng cường sự bền vững đối với các dòng vốn ngoại hối.
Các giai đoạn chính cơ cấu lại nợ của Uganda:
• Uganda xây dựng một chiến lược nợ vào năm 1991, kèm với những nỗ lực cơ cấu
lại nợ thông qua tái cơ cấu nợ.
• Năm 1993, Uganda đã giảm được nợ bằng cách mua lại nợ và hoán đổi nợ, được
giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh. Thực tế, ở Châu Á, chính phủ tôn trọng
quyền sở hữu của tư nhân.
Chi phí cao là một khó khăn cho sản xuất tại Uganda và nó ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh của Uganda. Để giải quyết khó khăn này, các cải cách hữu ích đã được thực hiện trong
lĩnh vực viễn thông. Vào năm 2001, một nhà máy điện mới, với công suất 250 MW, được xây
dựng bởi một nhà đầu tư tư nhân, sẵn sàng đi vào hoạt động năm 2004. Mặt khác, việc tự do
hoá lĩnh vực thông tin liên lạc đã loại bỏ tình trạng độc quyền.
Phát triển chính sách đối ngoại:
Một số tổ chức đã trở thành thành viên trong chính sách đối thoại. Chúng bao gồm
Nghị viện, các Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Kinh tế (EPRC) tại Đại học Makerere,
Hiệp hội Uganda các nhà sản xuất (UMA), Hiệp hội khu vực tư nhân (PSF), Liên hiệp
10
quốc gia như Tổ chức công đoàn (NOTU), Hiệp hội nông dân…là các cơ quan phục vụ
công ích và vừa là cơ quan giám sát.
Những thay đổi lớn về chính sách kinh tế hiện đang được xem xét và thông qua bởi
quốc hội. Xử lý các trường hợp tham nhũng và tăng cường minh bạch và trách nhiệm
trong hành chính công.
Như đã đề cập ở trên, tự do hóa tài khoản vốn là sự thiết lập của những gì đã tồn tại,
bởi vì các giao dịch mang tính chất vốn đã được thực hiện trên thị trường chợ đen. Vì thế
người ta mong đợi hiệu suất sẽ tăng từ những nguồn lực đã được sử dụng trước đó để
tránh sự quản lý và bây giờ có thể được sử dụng một cách hiệu quả hơn. Tuy nhiên, lợi
ích chính của việc tự do hóa tài khoản vốn đối với các quốc gia đang phát triển là nó có
thể mở ra cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn tư nhân bên ngoài và do đó tăng mức đầu tư,
trong điều kiện tiết kiệm trong nước của hầu hết các quốc gia đang phát triển là có hạn.
Liên quan đến vấn đề này, những hạn chế về tài khoản vốn sẽ làm giảm khả năng thu hút
vốn của các quốc gia này vì các nhà đầu tư sẽ ngần ngại đầu tư trừ phi họ tự tin là sẽ thu
hồi được lợi nhuận, chi trả lãi suất và vốn. Dòng tài chính tư nhân bên ngoài chảy vào đã
hỗ trợ tăng mức đầu tư tư nhân và giúp nền kinh tế duy trì mức tăng trưởng mạnh ở châu
Mỹ La-tinh và châu Á trong những năm 1990.
Kể từ lúc bắt đầu quá trình tái thiết vào năm 1987, các dòng vốn đổ vào Uganda đã
lực tăng giá và giảm giá được duy trì trên thị trường ngoại hối. Xét một cách tổng thể thì
sự bất ổn định này gắn liền với các dòng vốn liên quan đến thương mại (chẳng hạn đợt
bùng nổ vào năm 1994 và đợt giảm giá vào năm 1999/2000 của giá cà phê) xuất hiện
luân phiên. Các nhân tố khác bao gồm tính mùa vụ của các giao dịch xuất khẩu cà phê và
sự thay đổi quan điểm của những bên tham gia thị trường đối với sự bền vững của quá
trình tái thiết. Giống như các thị trường được tự do hóa khác, thị trường ngoại hối đã
biến động trước những lời đồn đại và đầu cơ. Những quả bong bong tồn tại không lâu
nhưng không nằm ngoài dự đoán đã gây thiệt hại cho các nhà đầu tư, gây sự bất ổn trên
thị trường và làm tổn hại uy tín của NH trung ương. Hiệu ứng quan trọng nhất của các
dòng vốn lớn chính là việc thị trường ngoại hối tăng giá và kèm theo là sức cạnh tranh
xuất khẩu giảm sút. Gánh nặng bình ổn thị trường ngoại hối được chia đều cho các chính
sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong năm 1994. Tuy nhiên phản ứng của chính sách
với các biến động thương mại trong năm 1999/2000 thiên về điều chỉnh bằng tài khóa
nhiều hơn. Thực tế, điều này chứng tỏ sự chuyển biến từ các mục tiêu bình ổn giá cả
trong nước sang bình ổn giá trên thị trường ngoại hối.
Một hệ quả nữa của việc tự do hóa tài khoản vốn là việc nắm giữ các tài khoản tiền
gửi nội tệ có liên quan đến các tài khoản ngoại hối trong hệ thống ngân hang. Đến tháng
12
6/1997, số tài khoản ngoại hối của dân chúng đã tăng lên 12.8% khối tiền tệ mở rộng
(M3). Một năm sau quá trình tự do hóa, tỉ lệ này đã tăng lên 14.4% và sẽ tăng tiếp lên
17.9% và 23.4% lần lượt vào cuối tháng 6/1999 và tháng 4/2000. Thật khó để không gắn
sự tăng trưởng của tỉ giá hối đoái với sự chuyển đổi từ các tài khoản nội tệ sang tài
khoản đôla, mặc dù xu hướng đầu cơ có thể xuất hiện qua việc các tài khoản ngoại tệ
được ưa chuộng hơn trong giai đoạn này. Điều này làm tăng thêm sự phức tạp trong việc
quản lý tính thanh khoản vì trung gian môi giới được cho phép trong cả các công cụ tài
sản và nợ bằng nội tệ và ngoại tệ.
Một sự phát triển khác là vai trò ngày càng quan trọng của khu vực tư nhân trong việc
dẫn dắt đầu tư trong điều kiện mức tiết kiệm nội địa thấp. Tiếp sau quá trình tự do hóa, mức
đầu tư của khu vực tư đã tăng ở Uganda. Trong thời kỳ 1997 – 1999, đầu tư tư nhân tăng từ
11.5% GPD trong năm 1996/97 lên 12.8% năm 1998/99 và dự đoán sẽ tăng lên 13% trong
415,2 triệu năm 1995/96 nhưng bất ngờ tụt giảm vào năm 1996/97 còn 308.3 triệu. Năm
tiếp theo, con số này hồi phục với mức tăng cao nhất là 539 triệu. Nhưng sự hồi phục
không kéo dài lâu, mức 375 triệu của năm 1998/99 thấp hơn rất nhiều so với năm
1997/98 và 1995/96. Cho nên lưu chuyển khu vực tư rất biến động từ năm 1994/95 trong
khi FDI giữ nguyên đà tăng trưởng từ 1992/93 và được dự báo là sẽ tăng trong năm
1999/2000.
Biểu đồ 1: Dòng vốn trong giai đoạn từ 1990/91 đến 1998/99
400
200
1990/91 1991/92 1992/93 1993/94 1994/95 1995/96 1996/97 1997/98 1998/99
FDI Office flow Private transfer
14
Một sự phát triển tích cực khác trong sự tham gia của khối nước ngoài vào thị
trường vốn nội địa như một số tín hiệu ban đầu thể hiện sự quan tâm của các giám đốc
quĩ nước ngoài đối với các loại tài sản định giá bằng Shilling Uganda. Lần phát hành trái
phiếu gần đây của EADB đã thu hút khối ngoại tham gia. Tương tự, tín phiếu chính phủ
phát hành trong nước cũng đã thu hút nhà đầu tư ngoại.
Kinh nghiệm của Uganda với tài khoản vốn tự do vì vậy không thể so sánh với các
nước ĐNA. Nguyên nhân chủ yếu là thị trường tài chính Uganda không phát triển cao và
kết quả là thị trường không đủ thanh khoản để hỗ trợ cho sự phát triển các công cụ tài
chính có tính thu hút đầu tư gián tiếp. Ngoài ra, trong khi thị trường chứng khoán đang ở
giai đoạn non trẻ thì hệ thống tài chính nhìn chung cũng không hội nhập với các thị
trường tài chính quốc tế. Tỉ lệ đầu tư gián tiếp quá khiêm tốn vì các các dòng vốn mạnh
đều chảy vào dưới dạng rút vốn rồi đầu tư lại, chuyền từ các nước châu Á và tài trợ
thương mại dưới dạng tín dụng xuất khẩu.
Có thể nói rằng Uganda không chứng kiến các dòng vốn ngắn hạn sau khi tự do
hóa tài khoản vốn diễn ra. Do đó các công cụ của chính sách vẫn chưa được thử nghiệm
tính hiệu quả trước làn song của các dòng vốn. Tuy nhiên Uganda đã chịu đựng sự bất ổn
của thị trường ngoại hối, điều đã được thể hiện qua mức chênh lệch mua-bán cao, qua áp
lực tăng giá và giảm giá được duy trì trên thị trường ngoại hối. Xét một cách tổng thể thì
chính sách được thực hiện để thu hút FDI và sự trở lại của các dòng chảy ra để rút ngắn chênh
lệch tiết kiệm – đầu tư, cùng với sự tăng lên của dịch chuyển khu vực tư như đã đề cập ở trên.
Ngày nay, trường hợp Uganda chứng tỏ rằng các khoản đầu tư cao hơn mức tiết kiệm hầu hết
được tài trợ bởi tiết kiệm của khối ngoại cả tư nhân lẫn công cộng. Điều cũng đáng lưu ý đó là
đất nước hầu như tránh được tác động của cuộc khủng hoảng Đông Á đối với nguồn vốn vào,
do sự ít hội nhập vào thị trường quốc tế của các tổ chức tài chính. Vấn đề lúc đấy chính là làm
sao Uganda chuẩn bị cho tình hình bất ổn định có thể xảy ra khi hội nhập sâu hơn vào thị
trường vốn toàn cầu.
VI. Những thách thức phải gặp phải khi tự do hóa tài khoản vốn.
Quản lý tiền tệ
Sự thay đổi của các nguồn vốn nước ngoài trong tự do hóa tài khoản vốn tạo ra một
thách thức đối với sự ổn định của thị trường ngoại hối cũng như tính thanh khoản của thị
trường. Trong giai đoạn trước khi tự do hóa tài khoản vốn , các chính sách tài chính tiền
tệ được sử dụng giảm bớt các nhân tố ảnh hưởng tới lưu thông vốn. Tuy nhiên gần đây
các công cụ của chính sác tiền tệ chịu ảnh hưởng rất lớn của sự kết hợp điều chỉnh các
nhân tố cản trở sự lưu thông luồng vốn. Điều này được thể hiện thông qua sự gia tăng
16
phát hành chứng khoán của chính phủ và ngân hàng Ugadan và các chính sách điều
chỉnh biên độ tỷ giá. Tác động của điều này làm cho biên độ lãi suất rộng hơn dẫn tới lãi
suất cho vay tăng gây thiệt hại cho ngành bất động sản. Vấn đề này dẫn tới việc giảm
nhu cầu về tín dụng của chính khách hàng vay và dẫn tới kết quả các ngân hàng thương
mại dư thừa nguồn vốn tạo thêm tính đầu cơ và khó khăn trong việc quản lý tính thanh
khoản. Do đó những khó khăn trong chính sách tiền tệ luồng vốn tăng lên cần được phân
tích sâu hơn để thấy được những hiệu ứng thiệt hại gây ra. Hơn nữa việc quản lý tiền tệ
thêm phức tạp bởi sự chuyển dịch danh mục đầu tư của ngân hàng và các tổ chức cá
nhân phi ngân hàng. Điều này thể hiện chủ yếu thông qua các cá nhân có tài khoản nước
ngoài làm tăng phạm vi đầu cơ. Như vậy dẫn tới xu hướng phức tạp cho việc quản lý tiền
tệ trong một nơi mà chính quyền có những công cụ hạn chế.
Quản lý kinh tế vĩ mô
Sẽ được cho là khôn ngoan khi chính quyền nỗ lực theo đuổi để duy trì sự ổn định
cả người cư trú và người không cư trú. Tự do hóa tài khoản vốn tạo ra các hình thức mới
của rủi ro cho các ngân hàng trong nước mà họ có ít kinh nghiệm quản lý. Các nợ tích
lũy ngắn hạn nước ngoài của ngân hàng là một trong những vấn đề khó khăn chính của
ngân hàng. Khi luồng vốn được chuyển qua các hệ thống ngân hàng, đã có sự gia tăng
đáng kể các rủi ro. Trong một số trường hợp, loại tiền tệ mà có kỳ hạn lệch nhaus sẽ gây
khó khăn cho rủi ro tín dụng và rủi ro tỷ giá hối đoái. Hơn nữa, một số ngân hàng phân
bổ các giao dịch trong bảng cân đối ngoại bảng. Đây là một thách thức lớn với vai trò
giám sát của Ngân Hàng Trung ương. Trường hợp này thì gồm có ngân hàng ICB và
ngân hàng Greelangd phân bổ thư bảo lãnh và thư tín dụng vào bảng cân đối ngoại bảng.
Với một tài khoản vốn tự do, các ngân hàng phải báo cáo một cách chính xác số
ngoại tệ đang nắm giữ với cơ quan quản lý là rất cần thiết và cần thực hiện chính sách
quản lý rủi ro tỷ giá một một cách thận trọng. Điều này có nghĩa là bổ sung vốn cho các
ngân hàng thương mại khi họ thực hiện các giao dịch ngoại hối. Các nhà quản lý cũng
cần phải quản lý tính thanh khoản của các ngân hàng, tính hay thay đổi của các khoản
vay ngắn hạn nước ngoài.
Chính sách phân quyền cho địa phương.
Có nhiều lợi ích tạo ra gắn với thị trường chứng khoán khu vực hiệu quả, đồng thời
cũng có một số rủi ro trong nó. Hiện nay thì trường chứng khoán Nam Phi đã có nhiều
đã có nhiều công ty hàng đầu đầu tư vào miền Nam, miền Trung và Đông Phi. Có nhiều
18
thách thức và nguy hiểm như có những biến động có thể ảnh hưởng tới luồng vốn của
Nam Phi vì thế có thể ảnh hưởng tới đầu tư trong khu vực này. Tại Ugandan, các công ty
Nam Châu Phi đến đầu tư vào truyền thông, phát thanh và truyền hình, dịch vụ, sản xuất
và ngành du lịch, các công ty này đóng góp một nguồn lực đáng kể vào thị trường chứng
khoán Nam Phi.
Ngoài ra khả năng xảy ra hiệu ứng lây lan có thể gây ra một dòng chảy vốn lớn từ
các nước này. Một trường hợp điển hình là sự chiếm đóng của các cựu chiến binh tại
Zimbabwe đã gây ra một sự sụt giảm tỷ giá hối đoái trong khu vực, các nhà đầu tư đã cố
gắng để tái xác định vị trí đầu tư của họ. Vì vậy cần có một chính sách ở cấp khu vực để
đề phòng trước rủi ro chính trị và rủi ro chính sách.
tài trợ khẩn cấp như giải phóng những nguồn dự trữ để xử lý khủng hoảng tỷ giá. Rất cần
thiết để tạo ra một quỹ dự trữ bảo vệ cho những nền kinh tế chịu tác động của tấn công
đầu cơ cùng với chính sách quản trị kinh tế vĩ mô lạc hậu. Điều này có thể được thương
lượng với những tổ chức tài chính quốc tế.
Kinh nghiệm của việc tự do hóa tài khoản vốn trên 3 năm, đã cho thấy rằng tự do
hóa tài khoản vốn là niềm mơ ước của Uganda trong môi trường kinh tế hiện thời nhưng
đó chỉ lả một trong vô số thách thức lớn trong quản lý kinh tế vĩ mô. Đầu tiên, Uganda
nên củng cố tính không ổn định trên thị trường tỷ giá hối đoái, điều đó xuất phát từ sự đa
dạng trong dòng vốn. Đồng thời Uganda nên khẩn cấp tổ chức nghiên cứu tập trung vào
phác thảo những công cụ và dụng cụ đo lường để phát huy thêm nhiều phương thức hiệu
quả của quản lý một nền kinh tế thị trường hoàn toàn tự do.
20