Học viện ngân hàng
Khoa tiền tệ – thị trường chứng khoán
BÀI KIỂM TRA
Môn nghiệp vụ ngân hàng trung ương
Đề tài: NHỮNG GIẢI PHÁP NGÂN HÀNG
NHÀ NƯỚC CẦN SỬ DỤNG ĐỂ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
Sinh viên : Lương Hoàng Minh
Líp : 4041
Hà Nội, tháng 11 – 2003.
Mục lục
Lời mở đầu 02
1. Những biến động “lạm phát” hiện nay ở nước ta 03
2. Nguyên nhân của tình trạng này 06
3. Kiến nghị về một số giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát 07
Kết luận 10
Danh mục tài liệu tham khảo 11
Lời mở đầu
Giá cả, lạm phát là vấn đề hết sức nhạy cảm trong đời sống kinh tế, xã
hội của mỗi quốc gia. Sự biến động của nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn
định kinh tế vĩ mô cũng như thu nhập thực tế của người lao động, tác động
sâu sắc tới mọi mặt của sản xuất và đời sống. Ở Việt Nam, trước diễn biến
bất thường của giá cả từ đầu năm 2004 đến nay, khi giá hàng loạt hàng hoá
dùng trong sản xuất và tiêu dùng đều tăng, lạm phát, giá cả đã trở thành vấn
2
đề thời sự, thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân và được đề cập
nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chỉ số giá tiêu dùng
/ Năm
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Cả
năm
2000 0.4 1.6 -1.1 -0.7 -0.6 -0.5 -0.6 -0.1 -0.1 0.1 0.9 0.1 -0.6
2001 0.3 0.4 -0.7 -0.5 -0.2 0.0 -0.2 0.0 0.5 0.0 0.2 1.0 0.8
2002 1.1 2.2 -0.8 0.0 0.3 0.1 -0.1 0.1 0.2 0.1 0.3 0.3 4.2
2003 0.9 2.2 -0.6 0.0 0.1 -0.3 -0.3 -0.1 0.1 -0.2 0.6 0.8 3.0
2004 1.1 4.1 4.9 5.4 6.3 7.2 7.7 8.3 7.7 - - - -
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Nhìn bảng xem xét diễn biến giá cả từ năm 2000 đến năm 2003, ta có
thể thấy trong nhiều năm qua, sau đợt tăng giá vào dịp Tết Nguyên Đán do
các mặt hàng, dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết tăng nhanh
và mạnh, giá cả thường trở về mức bình thường từ tháng 3 đến tháng 7 và
bắt đầu tăng từ tháng 9. Sang năm 2004, hai tháng sau Tết (là tháng 2 và
tháng 3), như thường lệ, giá cả sản xuất sẽ phải hạ thấp xuống. Tuy nhiên,
trong thực tế, chỉ số giá không những không giảm mà còn tiếp tục tăng cao.
Chỉ tính riêng trong tháng 2, giá gia tăng 3%/tháng. Lần lượt trong hai tháng
3 và 4 mức tăng của CPI là 0,8%/tháng và 0,5%/tháng. Con số mới nhất của
Tổng cục Thống kê Việt Nam cho biết mức lạm phát giữa quý III của năm
2004 là 8,3%/năm, cao nhất trong năm vừa qua. Mét quan chức cao cấp của
Bộ Tài chính Việt Nam nói rằng cuối năm nay mức lạm phát có thể lên 9%.
Như vậy, chúng ta sẽ không thể kiểm soát lạm phát ở dưới mức 5% trong
năm 2004 như đã dự trù.
Vậy bản chất của hiện tượng này là gì? Chỉ đơn thuần là sự tăng lên
của chỉ số giá tiêu dùng CPI hay thực chất là đã lạm phát tiền tệ trong nền
kinh tế?
Thông thường, lạm phát được hiểu là lạm phát giá mua hàng của
người tiêu dùng và được biểu thị bằng chỉ số CPI. Chỉ số CPI này được tính
theo định kỳ hàng tháng, hàng quý và hàng năm bằng cách lấy giá bán lẻ
5
xuất của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là tâm lý lo lắng trong dân chúng về
sự mất giá của đồng Việt Nam. Tuy nhiên, theo phân tích của các nhà kinh
tế, lạm phát của Việt Nam vẫn trong tầm kiểm soát của Ngân hàng Nhà
nước và thực chất CPI đó không phải là mức lạm phát cơ bản (mức lạm phát
tiền tệ), tức là không do những nguyên nhân về tiền tệ gây nên. Xét trong
dài hạn, CPI và lạm phát cơ bản là tương đương nhau (hay đồng nhất với
nhau), nhưng tại thời điểm nhất định này, CPI và lạm phát cơ bản cũng có
những khác biệt. Trong các con sè thống kê được công bố trên các phương
tiện thông tin đaị chúng, chúng ta chưa đề cập đến lạm phát cơ bản mà chỉ
công bố mức tăng lên của CPI.
Thật vậy, tình trạng giá cả hàng hoá từ đầu năm đến nay tăng lên liên
tục theo em hiểu là hiện tượng lạm phát về giá. Hiện tượng này xảy ra là do
tổng cung hàng hoá của nền kinh tế giảm xuống kéo theo sù khan hiếm về
hàng hoá trong một thời gian dài. Điều này dẫn đến giá cả hàng hoá bị đẩy
lên nhanh chóng và không ngừng. Do đó, nó dẫn đến việc chỉ số giá tiêu
dùng trong 8 tháng qua tăng đột biến. Nói cách khác, hiện tượng này chính
là lạm phát do chi phí đẩy (lạm phát do chi phí đẩy xảy ra khi giá cả tăng lên
để bù đắp cho toàn bộ chi phí và đảm bảo mức lợi nhuận), chứ không phải
do cầu kéo hay do vấn đề tiền tệ như một sè Ýt người còn nhầm lẫn. Điều
này cũng được thấy rõ khi ta xem xét thêm ở khía cạnh lãi suất của nền kinh
tế. Chúng ta đều đã biết:
Lãi suất Thực = Lãi suất Danh nghĩa - Tỷ lệ Lạm phát
Lãi suất danh nghĩa là mức lãi suất huy động của đồng Việt Nam mà
các Ngân hàng Thương mại đang áp dụng. Đến đầu tháng 8 năm 2004, mức
lãi suất này vào khoảng 0,63%/tháng (tương đương 7,56%/năm). Nếu coi tỷ
lệ lạm phát trong công thức này là chỉ số CPI thì sẽ xảy ra bất hợp lý. Đó là
tính theo công thức trên thì Lãi suất Thực sẽ âm. Điều này là phi lý đối với
một nền kinh tế đang phát triển như ở nước ta. Vậy tỷ lệ lạm phát ở đây
chính là mức lạm phát chung của nền kinh tế, là mức lạm phát được hình
3. Kiến nghị về một số giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát
Như đã phân tích ở trên, tình hình giá cả thị trường tăng lên trong suốt
8 tháng đầu năm 2004 là hiện tượng lạm phát do chi phí đẩy và chủ yếu là ở
phía cung, do tác động của những cú sốc về cung. Đúng như nhận xét của
một số tổ chức quốc tế và các quan chức cấp cao:
- Quỹ Tiền tệ Thế giới IMF, sau khi kết thúc chuyến làm việc tại
Việt Nam (từ 25/8 đến 9/9/2004) nói rằng mức CPI ở Việt Nam có thể còn
lên tới hai chữ số (khoảng trên 10%).
- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thuý cho rằng: để phân
tích lạm phát qua CPI phải tách riêng hai chỉ số giá năng lượng và lương
thực - thực phẩm. Lạm phát cơ bản không bao giờ tính hai chỉ số này bởi giá
đó thường có những biến động bất thường, chưa phản ánh sự lành mạnh hay
không cuả chính sách tiền tệ. Thống đốc cũng cho biết tỷ lệ lạm phát cơ bản
của chúng ta hiện nay chỉ khoảng 2% - 3%.
- Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Sinh Hùng khẳng định: Lạm phát
khó có thể giảm vào cuối năm nay vì nhu cầu tiêu dùng thường tăng cao vào
cuối năm, nhu cầu tiêu dùng của quý IV hàng năm thường tăng 30% - 40%,
còn CPI nhìn chung thường tăng thêm 2% - 3%.
- Phó Thủ tướng Vũ Khoan nói rằng: “Lạm phát ở nước ta giai đoạn
hiện nay so với tình trạng lạm phát của những năm 80 ở thế kỷ trước là hoàn
toàn khác nhau về bản chất”.
Do đó, theo em việc kiểm soát lạm phát ở nước ta hiện nay chủ yếu là
làm thế nào để bình ổn giá cả. Em xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp
nhằm bình ổn giá cả, kiểm soát lạm phát.
Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước cần kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng
trưởng tín dụng để kiềm chế tăng giá, thắt chặt chính sách tiền tệ hơn nhằm
kiềm chế lạm phát. Trên thực tế, từ ngày 01/7/2004, Ngân hàng Nhà nước
đã thay đổi động thái điều hành chính sách tiền tệ. Đó là tăng tỷ lệ dự trữ bắt
8
buộc, đồng thời kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng
Thứ tám, các doanh nghiệp sản xuất trong nước phải thực hiện triệt để
chỉ thị về tiết kiệm xăng dầu, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành nhằm nâng
cao hiệu quả cạnh tranh để ổn định giá các sản phẩm bán ra. Tránh tình
trạng các doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, chống thua lỗ dẫn đến thu hẹp
sản xuất kinh doanh làm ảnh hưởng đến tăng trưởng của nền kinh tế trong
thời gian dài.
Cuối cùng, các Ngân hàng Thương mại cần hỗ trợ những doanh
nghiệp thành viên để họ đảm bảo sản xuất bình thường với các mức giá ổn
định. Làm như vậy là ngân hàng đã giúp doanh nghiệp giữ vững thị phần,
nâng khả năng cạnh tranh, giúp lợi nhuận tích dồn của doanh nghiệp không
bị ảnh hưởng mạnh.
Kết luận
Nói tóm lại, chúng ta đã biết giá tăng cao chủ yếu là do chi phí đẩy
lên chứ không phải do nhu cầu tiêu dùng hàng hoá tăng lên kéo lên, cũng
10
như không phải do dư thừa lượng tiền tệ trong lưu thông. Diễn biến giá tăng
lên chủ yếu do nhân tố khách quan. Đối với các nhân tố chủ quan làm tăng
giá, Nhà nước đều có biện pháp kiềm chế ở mức thấp nhất. Hơn nữa, giá
một số mặt hàng lên, đẩy giá thị trường lên, nhưng mặt khác, lại làm lợi cho
người sản xuất, tăng lợi nhuận và tăng thu nhập cho họ. Đặc biệt là người
nông dân như: giá thu mua gạo, cà phê, cao su xuất khẩu tăng, giảm bớt
khoảng cách “giá cánh kéo” mà dư luận đang hết sức quan tâm. Đồng thời,
làm kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế tăng lên, có một số dấu hiệu lạc
quan như: tìm được thị trường xuất khẩu thuỷ sản mới cho tôm, cá tra, cá
basa; ký được hợp đồng đóng tàu lớn với nước ngoài giá trị hàng trăm triệu
USD; kim ngạch xuất khẩu dầu thô tăng (đạt 7,2%); dịch SARS đã được
kiểm soát và dịch cúm gia cầm đã được đẩy lùi… Tất cả những điều đó đã
mang lại niềm hy vọng cho sản xuất, xuÊt khẩu và ổn định giá cả, đặc biệt là
giải toả tâm lý người tiêu dùng. Thực hiện tốt được các biện pháp trên, chắc
chắn chúng ta sẽ quản lý được thị trường, bình ổn được giá cả và đặc biệt là