những phương pháp tạo hứng thú trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 12 ở trường thpt đông sơn 1 - Pdf 24

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
Trường Trung Học Phổ Thông Đông Sơn 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:
NHỮNG PHƯƠNG PHÁP TẠO HỨNG THÚ TRONG DẠY HỌC
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12
Ở TRƯỜNG THPT ĐÔNG SƠN 1
Người thực hiện: Th.s Trần Thị Hồng
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Tổ Sử - Địa – GDCD
Trường THPT Đông sơn 1
Thanh Hoá, Năm học 2011 - 2012
1
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Bộ môn giáo dục công dân ở trường THPT có vai trò và ý nghĩa rất
quan trọng. Đó là một trong những môn học góp phần tạo nên nội dung dạy
học, giáo dục trên toàn diện. Việc hình thành và giáo dục thường xuyên
phương pháp luận khoa học, đạo đức và pháp luật cho học sinh do tất cả các
môn học, các hình thức, giáo dục của nhà trường thực hiện. Song, chỉ có môn
giáo dục công dân mới có thể giáo dục trực tiếp cho học sinh những tri thức
theo một hệ thống xác định, toàn diện. Đặc biệt, môn giáo dục công dân ở
lớp 12 chủ yếu giúp học sinh hiểu về pháp luật, sống theo pháp luật, biết
được những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội. Vì vậy, kiến thức môn giáo dục công dân ở lớp 12 tương đối
khô khan, nhiều khái niệm, khó học, khó nhớ.
Mặt khác, thực tế dạy học môn giáo dục công dân hiện nay cho thấy,
phương pháp dạy học chủ yếu là lối truyền thụ một chiều, chưa phát huy
được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Với phương pháp
dạy học như vậy, sẽ không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ môn học và làm
giảm sút vị trí của môn học.

nêu một số phương pháp đặc trưng nhất, phù hợp nhất với giảng dạy môn
giáo dục công dân lớp 12, đó là các phương pháp sau:
- Sử dụng những hình ảnh trực quan sinh động.
- Kể những câu chuyện gần gũi trong cuộc sống.
- Phương pháp xử lý tình huống kết hợp với tiểu phẩm.
3
1.4. Vị trí, vai trò của phương pháp tạo hứng thú trong học tập trong
dạy học giáo dục công dân lớp 12.
- Vị trí và nhiệm vụ của môn giáo dục công dân lớp 12.
+ Vị trí: Cùng với môn học khác, môn giáo dục công dân lớp 12 góp phần
đào tạo ra những con người lao động mới, có tri thức khoa học, có đạo đức,
có năng lực hoạt động thực tiễn, có phẩm chất chính trị, tư tưởng, có ý thức
trách nhiệm đối với cộng đồng, với gia đình và với chính bản thân mình.
Môn giáo dục công dân lớp 12 góp phần hình thành và phát triển nhân cách
toàn diện cho học sinh.
+ Nhiệm vụ: Môn giáo dục công dân lớp 12 có nhiệm vụ giáo dục trực tiếp
cho học sinh kiến thúc về pháp luật một cách tương đối có hệ thống, toàn
diện, giúp học sinh hiểu rõ bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát
triển của công dân, đất nước và nhân loại; hiểu rõ quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 12 ở trường THPT.
Quá trình dạy học về bản chất là quá trình nhận thức của học sinh. Quá
trình nhận thức của học sinh về cơ bản diễn ra theo quy luật nhận thức là: “
Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực
tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực
khách quan”. ( V.I Lênin, toàn tập, tập 29 trang 152 – 153)
Đối với học sinh lớp 12 bậc PTTH ở vào lứa tuổi 17, 18 các em đã
tương đối trưởng thành về mặt nhận thức. Đặc điểm tâm sinh lý của các em
là thích những gì mới có liên hệ thực tế, kiến thức được tiếp thu phải mang
đầy màu sắc và có tính lung linh ước mơ. Bên cạnh đó, hoạt động lại phải tạo

Nghe thuyết trình 5%
Đọc 10%
Nghe nhìn 20%
Trình diễn 30%
Nhóm thảo luận 50%
Thực hành bằng cách làm thực tế 75%
Xử lý tình huống kết hợp với tiểu phẩm 90%
5
Nguồn: Theo nghiên cứu được tiến hành tại phòng đào tạo quốc gia (54-129)
Như vậy: Những phương pháp như thực hành bằng cách làm thực tế,
đặc biệt là phương pháp để học sinh tự xử lý tình huống sẽ rất có hiệu quả
với sự lưu trữ thông tin của học sinh.
Tạo hứng thú trong học tập môn giáo dục công dân lớp 12 sẽ khuyến
khích lòng say mê, tính tự giác, chủ động trong học tập của người học, giúp
người học phát triển các kỹ năng tư duy và kỹ năng giao tiếp cơ bản, đó cũng
là những kỹ năng cần thiết để người học trở thành người lao động có hiệu
quả, có khả năng học suốt đời trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
2. THỰC TRẠNG VỀ DẠY VÀ HỌC MÔN GDCD LỚP 12 .
2.1. Thực trạng về học tập môn giáo dục công dân lớp 12.
Qua kết quả kiểm tra, thi cử:
Kết quả điểm tổng kết kỳ I năm học 2011 – 2012 của tổng số 247 em
học sinh khối 12 đạt được như sau:
Bảng 2.1:
Xếp loại môn GDCD học kỳ I năm học 2011 – 2012 của 6 lớp 12.
Xếp loại Tiêu chuẩn phân loại Số lượng học sinh Tỉ lệ %
Loại giỏi Từ 8.0 trở lên 3 1,2
Loại khá Từ 6.5 đến 7.9 150 60,7
Loại trung bình Từ 5.0 đến 6.4 89 36,0
Loại yếu kém Dưới 5.0 5 2,0
Qua bảng xếp loại học tập môn giáo dục công dân ở lớp 12 ở Trường

Cộng tỉ
lệ
(%)

khó
học,
khó
nhớ
Vì thầy
giảng
không
hấp
dẫn

do
khác
Cộng tỉ
lệ
(%)
Lớp 12A7:
40 HS
10 5 0 15=37,5 20 5 0 25= 62,5
Lớp 12A8:
42 HS 11 4 1 16=38 21 3 2 26= 62
Lớp 12A9:
39 HS 13 3 0 16 =41 15 3 5 23 =59
Lớp12A10:
40 HS 14 4 0 18 =45 16 4 2 22 =55
Lớp12A11:
37 HS 12 2 0 14 =37,8 14 3 6 23 = 62,2

từ đó lựa chọn phương pháp phù hợp. Việc lựa chọn phương pháp tùy tiện,
không có cơ sở khoa học, chưa thấm nhuần tư tưởng. Phương pháp là hình
thức vận động của nội dung việc sử dụng các phương pháp không theo một
quy trình chặt chẽ, trên cơ sở khoa học. Với nội dung có thể vận dụng.
Phương pháp dạy học tích cực như trực quan, thảo luận, xử lý tình huống, kết
hợp tiểu phẩm nhưng phần lớn giáo viên vẫn chỉ sử dụng phương pháp
thuyết trình là chủ yếu.
Thứ hai: Giáo viên chuẩn bị bài lên lớp còn sơ sài, chưa đầu tư thời
gian, công sức và tâm huyết vào khâu chuẩn bị này nên việc áp dụng các
phương pháp để tạo hứng thú cho học sinh còn chưa được thường xuyên.
Thứ ba: Qua việc dự giờ của một số giáo viên, tôi nhận thấy:
8
Về cấu trúc của giờ học, đa số giáo viên đều làm theo một khuôn mẫu,
một trình tự nhất định ( gọi là các bước lên lớp), ổn định tổ chức ( hỏi xem có
em nào vắng mặt không?), kiểm tra bài cũ ( Từ 1 đến 2 em), sau đó thầy
giảng bài mới theo trình tự nội dung sách giáo khoa, cuối cùng là củng cố,
dặn dò. Với phương pháp làm việc như vậy, làm cho học sinh khi bước vào
đầu giờ học đã biết thầy làm những gì. Đó là điều khô cứng, máy móc, làm
cho học sinh thiếu hứng thú trong học tập, vì các em không thấy điều gì mới
lạ, mà những điều mới lạ mới kích thích nhận thức, mới thu hút sự chú ý của
các em.
Những hạn chế trên đã không tạo ra được sự hứng thú trong học tập,
ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức của học sinh. Và do đó giảm chất
lượng học tập bộ môn.
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định: Vì sao chất lượng giáo dục chưa
tốt. Đó là vì trình độ của giáo viên chưa đủ tốt để dạy tốt Ngoài ra, còn
nhiều nguyên nhân khác nhau nữa, nhưng phải thấy cái chủ yếu, cái có tác
dụng quyết định nhất vẫn là đội ngũ giáo viên chưa đủ trình độ về mọi mặt:
Kiến thức, phương pháp, kinh nghiệm và lòng nhiệt tình yêu nghê.
3. CÁCH THỰC HIỆN MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TẠO HỨNG THÚ

Đây là giai đoạn cuối rất quan trọng để học sinh căn cứ vào đó điều chỉnh, bổ
sung thêm kiến thức mà mình đã suy nghĩ.
3.2. Kể những câu chuyện gần gũi trong cuộc sống.
Bước 1: Chuẩn bị.
- Giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy.
- Giáo viên chuẩn bị sẵn sàng những câu chuyện mà mình sẽ kể.
Những câu chuyện minh họa cho bài giảng pháp luật rất nhiều. Giáo
viên có thể sưu tầm trên mạng, trên sách báo, đặc biệt là báo tuổi trẻ, báo an
ninh. Những câu chuyện mà giáo viên được chứng kiến trong trường lớp,
trong cuộc sống.
Bước 2: Giáo viên kể chuyện minh họa cho học sinh nghe.
- Giáo viên có thể đọc một câu chuyện trong báo đã chuẩn bị hoặc tự kể bằng
ngôn ngữ của mình.
10
Ví dụ:
- Trong bài 2: Thực hiện pháp luật – SGK lớp 12 ở mục: Các loại vi phạm
pháp luật và trách nhiệm pháp lý. Giáo viên có thể kể những câu chuyện có
thật về hành vi vi phạm hình sự như hành vi xâm phạm tính mạng ( vụ án Lê
Văn Luyện); những vi phạm hành chính như những câu chuyện về buôn bán
hàng giả; điều khiển giao thông vi phạm quy định về an toàn giao thông.
- Trong bài 6, bài 7, bài 8: có rất nhiều câu chuyện, nhiều tình huống đời thật
giáo viên có thể kể cho học sinh nghe. Đó là những câu chuyện về quyền bất
khả xâm phạm về thân thể, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở
Bước 3: Kết luận.
Qua những câu chuyện đã kể, giáo viên phải biết cùng học sinh nhận
xét, chốt lại vấn đề đó chính là những nội dung bài học mà giáo viên cần
chuyền tải đến học sinh.
3.3. Phương pháp xử lý tình huống kết hợp với tiểu phẩm.
Đây là một phương pháp yêu cầu nhiều thời gian và công sức của giáo
viên và học sinh, nhưng nếu chuẩn bị tốt thì hiệu quả của phương pháp này

công an mời về bốt điều khiển ở đó để giải quyết. Công an đã làm đúng
nhiệm vụ của mình và yêu cầu cả 2 công dân phải nộp tiền phạt vì vi phạm
luật an toàn giao thông.
Tình huống xảy ra là: Công dân 1 nộp phạt, còn công dân 2 không nộp
phạt, gọi điện cho chú là cán bộ cấp tỉnh để xin không bị phạt, người chú đó
gọi điện lại cho công an.
+ Người chú đó nói gì với công an?
+ Công an đó đã xử lý như thế nào?
- Phần nội dung còn lại đó giáo viên chia lớp thành 2 tổ, mỗi tổ tự thảo luận,
đưa ra phương án giải quyết của công an và sau đó tự cử 3 bạn lên diễn toàn
bộ tiểu phẩm.
Với nội dung tiểu phẩm này, giáo viên nên chuẩn bị mượn trước một bộ
quần áo công an, một còi để học sinh diễn.
- Hoặc cũng với nội dung bài học trên giáo viên có thể xây dựng một kịch
bản có nội dung Tòa án nhân dân xét xử vụ án Lương Cao Khải, nguyên phó
12
vụ 2 Thanh tra chính phủ và đồng phạm liên quan 4 dự án của tổng công ty
dầu khí Việt Nam, Lương Cao Khải bị phạt 17 năm tù giam,
Bước 2: Xử lý tình huống và diễn tiểu phẩm.
Giáo viên cung cấp các thông tin để học sinh hiểu nội dung của tình
huống và chia lớp thành 2 nhóm để các em tự diễn theo sáng tạo của mỗi
nhóm.
Ví dụ:
Ở tình huống đã nêu các em rất hào hứng khi được tự diễn và còn rất
sáng tạo trong xử lý tình huống diễn xuất vai công an. (ở lớp đã thực nghiệm,
học sinh diễn vai công an đã nói rất rõ ràng và dứt khoát với ông chú của
công dân 2 là: “ Anh ạ, anh ấy (người vi phạm – công dân 2) là cháu của anh
còn tôi, đang làm nhiệm vụ và tôi là cháu Bác Hồ!” sau đó cúp máy và vẫn
yêu cầu người vi phạm nộp phạt giống công dân 1.)
Bước 3. Kết luận.

Cụ thể: ở lớp thực nghiệm có 3 học sinh được xếp loại giỏi môn GDCD,
không có học sinh xếp loại yếu kém, số học sinh xếp loại khá chiếm hơn
70%.
Ở các lớp đối chứng, không có học sinh nào xếp loại giỏi, vẫn còn 5 em
xếp loại yếu kém và số học sinh xếp loại khá chỉ chiếm 50%.
Đặc biệt, sang học kỳ II của năm học 2011 – 2012, ở các lớp thực
nghiệm, kết quả bài kiểm tra 15 phút và bài kiểm tra 1 tiết đều rất cao.
Cụ thể: Ở lớp 12A9 bài kiểm tra 1 tiết có 28/39 học sinh được điểm từ 8
-> 10, không có học sinh bị điểm dưới trung bình.
Trong khi đó, ở lớp đối chứng như 12A8, cũng bài kiểm tra 1 tiết,
không có học sinh nào được điểm 8 trở lên, ở bài kiểm tra 15 phút vẫn còn
8/42 học sinh bị điểm dưới trung bình.
Như vậy: Sau khi thực nghiệm và có kiểm tra, đánh giá kết quả, so sánh
với lớp đối chứng và so sánh kết quả của lớp thực nghiệm trước và sau khi
vận dụng phương pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh, kết quả đã chứng
minh được tính hiệu quả của việc vận dụng một số phương pháp nhằm gây
14
hứng thú học tập cho học sinh. Tính hiệu quả không chỉ thể hiện ở kết quả
điểm số các bài kiểm tra cao hơn mà còn thể hiện ở việc người học dễ dàng
nắm vững kiến thức đã được học, khắc sâu kiến thức trong trí nhớ vì những
kiến thức này chủ yếu là do người học đã tích cực, chủ động, sáng tạo, và có
hứng thú trong quá trình học tập. Vận dụng một số phương pháp tạo hứng
thú vào giảng dạy còn giúp học sinh rèn luyện được một số kỹ năng sống cơ
bản như hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện quan điểm từ đó người học
có thái độ yêu mến, thích học môn GDCD.
5. ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG.
Để vận dụng được một số phương pháp gây hứng thú học tập vào dạy
môn GDCD lớp 12 cần phải có những điều kiện nhất định. Đó là tất cả các
yếu tố tham gia vào quá trình dạy học, ở đây tôi chỉ nêu ra những điều kiện
thật cần thiết đối với giáo viên, học sinh, chương trình, SGK và thiết bị dạy

5.4. Thiết bị dạy học.
Thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được khi vận dụng những
phương pháp dạy học tích cực. Khi giáo viên muốn trình chiếu các hình ảnh
để phục vụ bài giảng nhất thiết phải có máy chiếu, những phương tiện này
hiện nay ở trường THPT Đông Sơn 1 chỉ có ở một số phòng học, thường là
dành cho các buổi thao giảng, còn ở tất cả các phòng học bình thường đều
không có, điều này là một khó khăn lớn khi giáo viên muốn vận dụng
phương pháp dạy học có sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học.
16
III. KẾT LUẬN.
Tạo hứng thú học tập cho học sinh nói chung và trong môn GDCD, nói
riêng là việc làm mang lại ý nghĩa và hiệu quả cao trong công tác giảng dạy.
Những hình ảnh thuyết phục, những tiểu phẩm hay, những câu chuyện pháp
luật gần gũi với cuộc sống sẽ mang lại cho học sinh không khí học tập vui vẻ,
sôi nổi và để lại trong tâm trí các em nhiều đáng nhớ, độ lưu giữ thông tin
cao và lâu. Trong thực tế dạy học của mình, tôi đã cố gắng để làm cho bài
giảng sinh động hơn, hấp dẫn hơn và học sinh do đó học tập cũng hứng khởi
hơn, kết quả học tập cũng được nâng cao hơn.
Việc vận dụng được một số phương pháp dạy học nhằm tạo ra hứng thú
học tập cho học sinh, cũng không phải là khó khăn lắm đối với giáo viên, chỉ
cần chúng ta yêu nghề, yêu học sinh và đầu tư thời gian, công sức vào là có
thể làm được.
Do thời gian và khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên sáng kiến kinh
nghiệm này còn những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong sự đóng góp ý kiến
của các thầy cô và các bạn đọc để chất lượng dạy học ở trường THPT nói
17
chung và bộ môn GDCD nói riêng ngày càng tốt hơn, đáp ứng được nhu cầu
đào tạo con người mới trong thời đại ngày nay.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status