Sự kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=======***=======

PHAN THỊ TRUNG

SỰ KẾT HỢP PHƢƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM
VÀ PHƢƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NƢỚC TA HIỆN NAY
(KHẢO SÁT Ở TRƢỜNG THPT NGÔ GIA TỰ,
TỈNH BẮC NINH)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học môn GDCD ở trƣờng THPT

HÀ NỘI, 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=======***=======

PHAN THỊ TRUNG

SỰ KẾT HỢP PHƢƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM
VÀ PHƢƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NƢỚC TA HIỆN NAY
(KHẢO SÁT Ở TRƢỜNG THPT NGÔ GIA TỰ,
TỈNH BẮC NINH)


LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn của thầy
giáo - ThS. Nguyễn Quang Thuận, tôi xin cam đoan rằng: Đây là kết quả
nghiên cứu của riêng tôi, không trùng với bất kì chƣơng trình nghiên cứu nào
của các tác giả khác.
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2015
Tác giả khóa luận

PHAN THỊ TRUNG


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

THPT

: Trung học phổ thông

GDCD

: Giáo dục công dân

PPDH

: Phƣơng pháp dạy học

GV

: Giáo viên


2.3. Quy trình kiểm tra đánh giá .................................................................. 29
2.4. Điều kiện thực hiện tốt quy trình kết hợp phƣơng pháp thảo luận nhóm
và phƣơng pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trƣờng
trung học phổ thông ..................................................................................... 31
Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM VẬN DỤNG KẾT HỢP PHƢƠNG PHÁP
THẢO LUẬN NHÓM VÀ PHƢƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY
HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG NGÔ GIA TỰ, BẮC NINH .................................................... 33
3.1. Kế hoạch thực nghiệm .......................................................................... 33
3.2. Tiến hành thực nghiệm ......................................................................... 35
3.3. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 50


3.4. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc kết hợp phƣơng
pháp thảo luận nhóm và phƣơng pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo
dục công dân ở trƣờng trung học phổ thông ................................................ 56
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 66
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã dẫn
bƣớc cho lịch sử nhân loại bƣớc sang kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên của thông
tin, tri thức. Và ngày nay, chìa khóa vàng để mỗi quốc gia tiến bƣớc vào
tƣơng lai, đến với kho tàng của tri thức chính là giáo dục.
Giáo dục cần đào tạo nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng những đòi hỏi
mới của xã hội. Nguồn nhân lực đó phải là những con ngƣời có tri thức, có
phẩm chất đạo đức, năng động, sáng tạo, tự lực, có khả năng hợp tác, năng lực

giáo dục thế giới quan, phƣơng pháp luận khoa học, đạo đức cho HS do tất cả
các môn học, các hình thức giáo dục của nhà trƣờng thực hiện, song chỉ có
môn GDCD mới trực tiếp giáo dục cho HS những tri thức theo một hệ thống
xác định toàn diện về thế giới quan và nhân sinh quan, mới cho HS hiểu đƣợc
những quy luật phát triển tất yếu khách quan của xã hội loài ngƣời, giúp HS
nhận thức đúng đắn: sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có ý thức
trách nhiệm cao đối với tổ quốc, đối với nhân dân, đối với gia đình và đối với
chính bản thân mình, đồng thời đây cũng là môn học kích thích mạnh mẽ sự
phát triển năng lực trí tuệ chung nhƣ tƣ duy trừu tƣợng, lôgic, biện chứng…và
rèn luyện thao tác tƣ duy nhƣ: phân tích tổng hợp, so sánh, khái quát…cũng
nhƣ những phẩm chất của tƣ duy: linh hoạt, độc lập, sáng tạo…
Thảo luận nhóm và nêu vấn đề là những phƣơng pháp có thể phát huy
đƣợc tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS trong học tập. Hai phƣơng
pháp này chẳng những giúp ngƣời học tự giác, tích cực, chủ động tiếp thu
kiến thức mà còn tạo môi trƣờng thuận lợi cho ngƣời học tham gia thực hành
xã hội.
Trong thực tiễn dạy học ở trƣờng THPT Ngô Gia Tự tỉnh Bắc Ninh, việc
đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục đƣợc nhà trƣờng hết sức
quan tâm. Nhiều cuộc hội thảo, hội giảng đã đƣợc tổ chức nhằm nâng cao nhận

2


thức về cách dạy, cách học cho GV, HS và từng bƣớc nâng cao chất lƣợng dạy
và học trong nhà trƣờng. Tuy nhiên, việc vận dụng kết hợp các PPDH trong đó
có sự kết hợp giữa PPTLN và PPNVĐ vào dạy học của nhiều GV còn lúng
túng, chƣa xác định đƣợc những hoạt động cụ thể cần tiến hành. Do đó, tìm
hiểu việc vận dụng kết hợp PPTLN và PPNVĐ vào dạy học nói chung, dạy
GDCD nói riêng nhƣ thế nào cho có hiệu quả đang là vấn đề cần thiết.
Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi quyết định chọn đề tài “Sự kết hợp

pháp nói chung; cũng có tác giả lại đi sâu nghiên cứu về thực tiễn thực hiện
các phƣơng pháp, đổi mới phƣơng pháp ở các môn học cụ thể. Tuy mức độ và
khía cạnh tìm hiểu có khác nhau nhƣng nhìn chung là các tác giả đều hƣớng
đến tƣ tƣởng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời học.
Với khuynh hƣớng thứ nhất có thể kể đến:
Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà
trường, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội.
TS. Nguyễn Văn Tuấn (2009), Lý luận dạy học, Đại học Sƣ phạm Kỹ
thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
Thái Duy Tuyên (2007), Phương pháp dạy học và đổi mới, Nxb Giáo dục.
Với khuynh hƣớng thứ 2 có thể kể đến:
TS. Nguyễn Đăng Bằng (2002), Góp phần dạy tốt, học tốt môn Giáo dục
công dân ở trường trung học phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
PGS.TS. Nguyễn Văn Cƣ (2007), Phương pháp dạy học chủ nghĩa xã
hội khoa học, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội.
Vƣơng Tất Đạt (1994), Phương pháp giảng dạy môn Giáo dục công dân
(dùng cho phổ thông), trƣờng Đại học Sƣ phạm I Hà Nội.
Một khuynh hƣớng nữa trong nghiên cứu PPDH hiện nay đó là sự kết
hợp giữa các phƣơng pháp. Khuynh hƣớng này cũng có rất nhiều các tác giả
quan tâm. Cụ thể nhƣ TS. Nguyễn Lƣơng Bằng trong bài viết “Đổi mới
phương pháp giảng dạy lý luận Mác - Lênin ở các trường đại học hiện nay”,
ở Tạp chí Lý luận chính trị, số 7 - 2002. Tác giả đã chỉ ra rằng: Mỗi phƣơng

4


pháp giảng dạy đều có giới hạn của mình, ngoài giới hạn ấy phải áp dụng
phƣơng pháp khác, phải tìm cách sử dụng mọi phƣơng pháp cho đúng chỗ.
Các phƣơng pháp có tính độc lập tƣơng đối, chúng liên hệ với nhau, bổ sung
cho nhau và chỉ trong sự thống nhất với nhau chúng mới tìm thấy “sức mạnh”

chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phƣơng pháp lôgic và lịch sử, phƣơng pháp
phân tích và tổng hợp, phƣơng pháp so sánh và hệ thống,… Ngoài ra, đề tài
còn sử dụng các phƣơng pháp nhƣ điều tra xã hội học, thực nghiệm sƣ phạm,
lấy ý kiến, thống kê toán học,…
6. Đóng góp mới của tác giả
Về mặt lý luận: Xây dựng quy trình vận dụng việc kết hợp PPTLN và
PPNVĐ trong dạy học môn GDCD ở trƣờng THPT. Đề tài khẳng định con
đƣờng đổi mới PPDH trong nhà trƣờng theo hƣớng tích cực, chủ động, sáng
tạo của HS.
Về mặt thực tiễn: Giúp HS ngày càng thích thú học tập hơn và nhận thấy
đƣợc tầm quan trọng của việc học tập môn GDCD ở trƣờng THPT. Từ đó góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD ở trƣờng THPT.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, lời cảm ơn, lời cam đoan,
kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm
3 chƣơng 10 tiết.

6


Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỰ KẾT HỢP PHƢƠNG PHÁP
THẢO LUẬN NHÓM VÀ PHƢƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ
TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Cơ sở lý luận của sự kết hợp phƣơng pháp thảo luận nhóm và
phƣơng pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trƣờng
trung học phổ thông
“Phƣơng pháp” - Một thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “Methodos”
nghĩa là “con đƣờng nghiên cứu”, “cách thức nhận thức”, nguyên văn là con

Thảo luận nhóm là PPDH hợp quy luật tâm lý con ngƣời. Mọi ngƣời từ
nhỏ đến lớn đều có xu hƣớng thích sinh hoạt, quan hệ và làm việc trong các
nhóm nhỏ. Ở đó mỗi ngƣời không những đƣợc thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, có
cảm giác an toàn mà còn xuất hiện những hứng khởi làm tăng hiệu xuất làm
việc do có sự tƣơng tác mặt đối mặt giữa các thành viên, có sự phụ thuộc lẫn
nhau một cách tích cực và trách nhiệm phải giải thích vấn đề thuộc về từng cá
nhân trong nhóm và kĩ năng xử lý tình huống trong nhóm.
1.1.1.2. Các hình thức thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm có nhiều hình thức khác nhau, hiệu quả của chúng tùy
thuộc vào ý đồ và tính chất sử dụng của GV. Dƣới đây là một số hình thức
thảo luận nhóm trong dạy học môn GDCD ở trƣờng THPT.
- Nhóm nhỏ thông thƣờng: GV chia lớp học thành các nhóm nhỏ (từ 5 7 HS) để thảo luận một vấn đề cụ thể và nhanh chóng đƣa ra kết luận tập thể
về vấn đề đó. Hình thức này thƣờng đƣợc sử dụng kết hợp với các PPDH
khác trong một bài học, một tiết học, nội dung thảo luận của nhóm nhỏ thông
thƣờng là các vấn đề ngắn, thời lƣợng ít (từ 10 - 15 phút).
- Nhóm nhỏ rì rầm: GV chia lớp thành các nhóm “cực nhỏ” từ 2 - 3 HS
để trao đổi (rì rầm) và thống nhất trả lời một câu hỏi, giải quyết một vấn đề,

8


nêu một ý tƣởng, một thái độ… Để nhóm rì rầm có hiệu quả, GV cần cung
cấp đầy đủ, chính xác các dữ kiện, gợi ý và nêu rõ yêu cầu đối với các câu trả
lời để các thành viên tập trung vào giải quyết.
- Nhóm kim tự tháp: Đây là hình thức mở rộng của nhóm rì rầm, sau khi
thảo luận theo cặp (nhóm rì rầm) các cặp (nhóm rì rầm) kết hợp thành một
nhóm để hoàn thiện một vấn đề chung. Nếu cần thiết có thể kết hợp nhóm này
thành nhóm lớn hơn (từ 8 - 16 HS).
- Nhóm đồng tâm: GV chia lớp thành hai nhóm: nhóm thảo luận và
nhóm quan sát (sau đó hoán vị cho nhau). Nhóm thảo luận là nhóm nhỏ (6 12 HS) có nhiệm vụ thảo luận, trình bày vấn đề đƣợc giao, còn lại các thành

công của bài học phụ thuộc vào sự tham gia nhiệt tình của các thành viên. Vì
vậy phƣơng pháp này còn gọi là phƣơng pháp cùng tham gia.
Nhƣ vậy, PPTLN đƣợc thực hiện tốt sẽ tăng cƣờng tính tích cực, chủ
động của HS, giúp HS tập trung vào bài học, phát triển đƣợc kĩ năng tƣ duy,
kĩ năng giao tiếp xã hội quan trọng khác.
 Hạn chế của phƣơng pháp thảo luận nhóm
Thứ nhất, các nhóm và cá nhân trong nhóm dễ bị chệch hƣớng với các
chủ đề mà GV đƣa ra. Với các chủ đề thảo luận nội dung phong phú, hấp dẫn,
phát biểu của HS dễ tản mạn, thiếu tập trung do mải theo đuổi ý tƣởng riêng.
Thứ hai, thảo luận nhóm là phƣơng pháp tốn nhiều thời gian đặc biệt với
những tri thức khoa học có lôgic tƣờng minh hoặc những tri thức có tính
xác định cao.
Thứ ba, hiệu quả của phƣơng pháp này phụ thuộc nhiều vào tinh thần
tham gia của các thành viên trong nhóm. Nếu chỉ có vài HS tham gia nhiệt tình
và số còn lại chỉ ngồi nghe, để mặc cho ngƣời khác dẫn dắt và quyết định.
Thứ tư, đây là phƣơng pháp dễ gây hứng thú cho HS nhƣng cũng dễ tạo
ra trạng thái mệt mỏi, trì trệ.
Thứ năm, phƣơng pháp này đòi hỏi không gian rộng nhƣng trên thực tế
thì ở các trƣờng THPT hiện nay, việc sử dụng phƣơng pháp này thì mới có kết

10


quả. Cần nhớ rằng, trong hoạt động nhóm, tƣ duy tích cực của HS phải đƣợc
phát huy và ý nghĩa quan trọng của phƣơng pháp này là rèn luyện năng lực
hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động. Cần tránh khuynh hƣớng
hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu
hiệu tiêu biểu nhất cho đổi mới PPDH và hoạt động nhóm càng nhiều thì
chứng tỏ PPDH càng đổi mới.
Thứ sáu, GV gặp khó khăn trong việc tuân thủ thời gian khi kết quả thảo

Đây không phải là một PPDH cụ thể đơn thuần mà là một tập hợp nhiều
PPDH liên kết chặt chẽ và tƣơng tác với nhau trong đó phần nêu vấn đề (xây
dựng bài toán nhận thức) giữ vai trò trung tâm chủ đạo. PPDH nêu vấn đề là
PPDH trong đó HS đƣợc lôi cuốn tham gia vào một cách có hệ thống vào quá
trình giải quyết các vấn đề (bài toán nhận thức), đòi hỏi ngƣời học tìm tòi phát
hiện vấn đề và cách giải quyết vấn đề.
- Đặc điểm của PPNVĐ là:
+ HS tiếp nhận mâu thuẫn và đƣợc đặt vào trạng thái có nhu cầu giải
quyết mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái phải tìm.
+ HS tiếp nhận mâu thuẫn và đƣợc đặt vào trạng thái có nhu cầu giải
quyết mâu thuẫn và mong muốn giải quyết mâu thuẫn (vấn đề) đó.
1.1.2.2. Các hình thức của PPDH nêu vấn đề
Trình bày nêu vấn đề: đây là mức độ thấp nhất trong dạy học nêu vấn đề.
Hình thức này đƣợc sử dụng khi cần phải truyền thụ kiến thức trừu tƣợng và
khái quát cao, hoàn toàn mới đối với HS, những thuật ngữ khoa học HS nghe
thấy, nhƣng chƣa có một chút hiểu biết nào về chúng. Trong khi thực hiện
phƣơng pháp trình bày nêu vấn đề, GV dƣờng nhƣ phải thực hiện toàn bộ các
bƣớc của PPNVĐ. Nhƣng việc giải quyết vấn đề phải làm sao cho HS thấy rõ
cách giải quyết vấn đề, những lập luận cần thiết của GV. Qua đó HS hiểu biết,
làm quen với phƣơng pháp giải quyết vấn đề, thu nhận tri thức mới. Tuy vậy,
GV cần cố gắng suy nghĩ, tạo điều kiện để HS tham gia giải quyết vấn đề
dƣới sự hƣớng dẫn của GV.

12


Tìm tòi bộ phận: trong mỗi bài giảng bao gồm nhiều đề mục, mỗi đề
mục lại bao gồm nhiều mục nhỏ. Các đề mục và các mục nhỏ có liên quan
chặt chẽ với nhau, tạo thành một bài giảng. Vì thế hình thức tìm tòi bộ phận
của PPNVĐ đƣợc sử dụng để truyền thụ tri thức trong mỗi bộ phận đó. Nhƣ

thiết. Nhƣng khi sử dụng chúng lại tùy thuộc vào khả năng và trình độ sƣ
phạm của GV. Nhiều khi việc sử dụng chúng lại đƣợc kết hợp chặt chẽ, nhuần
nhuyễn trong một bài giảng.
1.1.2.3. Ưu điểm và hạn chế của PPDH nêu vấn đề
 Ƣu điểm của PPDH nêu vấn đề
Cung cấp môi trƣờng sƣ phạm lí tƣởng cho HS tổ chức các hoạt động
học tập của mình. Trong môi trƣờng đó, dƣới sự dƣới sự hƣớng dẫn của GV
HS đƣợc trực tiếp làm việc với đối tƣợng học tập (tri thức khoa học), tự mình
nghiên cứu, bóc tách nội dung học tập thông qua các tình huống.
HS tiếp nhận nội dung bài học gắn với những tình huống cụ thể, điển
hình theo nguyên tắc: tôi nghe thì tôi nhanh quên, tôi nhìn thì tôi nhớ và tôi
làm thì tôi hiểu nhanh.
Tăng cƣờng khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển tƣ duy sáng tạo, kĩ
năng vận dụng kinh nghiệm của mình và của ngƣời khác vào việc giải quyết
các vấn đề trong học tập và trong các lĩnh vực khác cho HS. Phát triển cho HS
kĩ năng thích ứng trong các tình huống khác nhau. Nâng cao lòng tin vào khả
năng của bản thân trong việc giải quyết các tình huống học tập cũng nhƣ
trong đời sống hiên thực. Tăng cƣờng hiểu biết và sự hợp tác giữa các thành
viên trong nhóm thông qua việc hợp tác để giải quyết tình huống.
 Hạn chế của PPDH nêu vấn đề
Xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học là việc khó, không phải
GV nào cũng làm đƣợc. Vì vậy đòi hỏi GV phải có kinh nghiệm chuyên môn,
có trình độ sâu rộng và am hiểu những vấn đề thực tế liên quan đến bộ môn.

14


Nếu GV tổ chức lớp học không tốt sẽ mất rất nhiều thời gian, lãng phí
thời gian học tập vì HS tốn nhiều thời gian để giải quyết tình huống và rút ra
các tri thức cần thiết.

Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình
hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết. HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá
chất lƣợng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc.
Các

Đặt vấn

Nêu giả

Lập kế

Giải quyết

Kết luận,

mức

đề

thuyết

hoạch

vấn đề

đánh giá

1

GV


GV + HS

4

HS

HS

HS

HS

GV + HS

1.1.3. Sự cần thiết phải kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương
pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường THPT
PPDH có vị trí vai trò vô cùng quan trọng là nhân tố quyết định trực tiếp
đến chất lƣợng dạy và học của quá trình học nhƣ truyền tải đúng đắn các nội
dung và mục đích của quá trình dạy học.
Có thể khẳng định hệ thống các phƣơng pháp giảng dạy môn GDCD rất
đa dạng và phong phú. Mỗi phƣơng pháp có thế mạnh và những hạn chế nhất
định. Tùy theo nội dung tri thức mà ngƣời GV khéo léo lựa chọn và sử dụng
các phƣơng pháp sao cho hợp lý để đạt đƣợc hiệu quả cao nhất. Muốn vậy
bản thân mỗi nhà giáo phải có sự nhận thức, hiểu biết đầy đủ về các
phƣơng pháp đó.
PPTLN và PPNVĐ cũng có những ƣu điểm và hạn chế nhất định nên
việc kết hợp hai phƣơng pháp này với nhau sẽ khắc phục đƣợc những hạn chế
của phƣơng pháp kia, từ đó tạo ra hiệu quả cao hơn trong việc giảng dạy
môn GDCD.

Tăng cƣờng khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển tƣ duy sáng tạo, kĩ
năng vận dụng kinh nghiệm của mình và của ngƣời khác vào việc giải quyết

17


các vấn đề trong học tập và trong các lĩnh vực khác cho HS. Phát triển cho HS
kĩ năng thích ứng trong các tình huống khác nhau. Nâng cao lòng tin vào khả
năng của bản thân trong việc giải quyết các tình huống học tập cũng nhƣ
trong đời sống hiên thực. Tăng cƣờng hiểu biết và sự hợp tác giữa các thành
viên trong nhóm thông qua việc hợp tác để giải quyết tình huống.
Từ đó, chúng ta có thể thấy đƣợc rằng, việc kết hợp tốt PPTLN và
PPNVĐ trong dạy học môn GDCD sẽ phát huy đƣợc tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của HS, giúp HS tập trung vào bài học, phát triển đƣợc kĩ năng tƣ
duy, kĩ năng giao tiếp của các em, giúp các em chủ động lĩnh hội đƣợc kiến
thức bài học một cách dễ dàng.
Nhƣ vậy, việc đổi mới PPDH hiện nay hết sức cần thiết và cần có sự
quan tâm của toàn xã hội, vấn đề đặt ra lúc này là đổi mới theo hƣớng nào,
đổi mới nhƣ thế nào mà thôi. Đây là vấn đề quan trọng và cần phải đƣợc nhận
thức kỹ càng không đƣợc nóng vội vì việc đổi mới mà không đúng đắn, chính
xác và phù hợp thì không đem lại hiệu quả cao đƣợc. Do vậy, trong quá trình
thực hiện cần có sự tổng kết khảo nghiệm về kết quả của việc đổi mới, để
từng bƣớc bổ sung hoàn thiện, làm cho việc đổi mới đi đến thành công.
Tóm lại, có thể từng bƣớc nâng cao chất lƣợng giảng dạy và học tập môn
GDCD ở trƣờng THPT thì công việc cần phải làm là việc đổi mới phƣơng
pháp dạy và học bộ môn cho phù hợp và đem lại hiểu quả nâng cao chất
lƣợng giáo dục môn GDCD ở trƣờng THPT.
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc kết hợp phƣơng pháp thảo luận nhóm và
phƣơng pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trƣờng
trung học phổ thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status