TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
TRẦN THỊ MỸ LINH
SỰ VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP TỰ HỌC
TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
XUÂN HÕA, TỈNH VĨNH PHÖC HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học môn GDCD ở trƣờng THPT
HÀ NỘI, 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
TRẦN THỊ MỸ LINH
SỰ VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP TỰ HỌC
TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
XUÂN HÕA, TỈNH VĨNH PHÖC HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học môn GDCD ở trƣờng THPT
công trình nghiên cứu nào.
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã kế thừa những thành tựu của các
nhà khoa học với sự trân trọng và biết ơn.
Hà Nội, 05 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Trần Thị Mỹ Linh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HS
: Học sinh
GV
: Giáo viên
GDCD
: Giáo dục công dân
GD&ĐT
: Giáo dục và đào tạo
SGK
3.3. Kết quả thực nghiệm ............................................................................ 48
3.4. Một số đề xuất để thực hiện tốt việc vận dụng phƣơng pháp tự học ... 51
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 55
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh quốc tế đƣợc đặc trƣng bởi
xã hội tri thức và toàn cầu hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với ngƣời lao
động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục. Giáo dục
cần đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng đƣợc những đòi hỏi mới
của xã hội và thị trƣờng lao động, đặc biệt là năng lực hành động, tính năng
động, sáng tạo, tính tự lực và trách nhiệm cũng nhƣ năng lực cộng tác làm
việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp trong mọi tình huống của cuộc
sống. Giáo dục cần đổi mới để đáp ứng đƣợc những yêu cầu mới của sự phát
triển kinh tế, xã hội.
Nghị quyết số 29-NQ/TW (4/11/3013)“ Về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo” đã chỉ ra:
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn
đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tƣ tƣởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội
dung, phƣơng pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi
mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nƣớc đến hoạt động quản
lý của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng,
xã hội và bản thân ngƣời học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển
những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới;
kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo
đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tƣợng và cấp
Vĩnh Phúc hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển của giáo dục, tự học và hƣớng dẫn tự học là vấn
đề đã đƣợc quan tâm nghiên cứu từ lâu cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm
phát huy vai trò tích cực học tập của ngƣời học.
2
Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc đã nhận thấy vai trò quan
trọng của tự học. Khổng Tử - nhà giáo dục kiệt xuất của Trung Hoa cổ đại, luôn
quan tâm và coi trọng việc tích cực suy nghĩ của ngƣời học. Ông đã từng dạy học
trò: Không giận vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ
thì không bày cho, vật có 4 góc, bảo biết 1 góc mà không suy ra đƣợc 3 góc kia thì
không dạy nữa.
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh điển nhƣ: J.A.Comexky (1592-1670,
Tiệp khắc), J.J. Rutxô (1712-1778, Pháp), K. Đ Usinxky (1824-1890),…trong tác
ph m nghiên cứu của các ông đã có cùng quan điểm: tự mình giành lấy tri thức
bằng con đƣờng tự khám phá, tự tìm tòi, tự suy nghĩ là con đƣờng quan trọng để
chiếm lĩnh tri thức.
Trong những năm gần đây, các nƣớc phƣơng Tây lại càng nhấn mạnh việc
“Lấy ngƣời học làm trung tâm” để làm sao phát huy hết năng lực nội sinh của
ngƣời học. Đại diện cho tƣ tƣởng này là J.Deway, ông cho rằng: Học sinh là mặt
trời, xung quanh nó quy tụ mọi phƣơng tiện giáo dục.
Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt nam là một tấm
gƣơng ngời sáng về ý chí quyết tâm trong học tập và rèn luyện. Ngƣời chỉ rõ:
“Về việc học tập phải lấy tự học làm cốt”; “Về cách dạy thì phải tránh lối dạy
nhồi sọ”,...
Ở nƣớc ta, vấn đề tự học đã có rất nhiều nhà giáo dục dày công nghiên
cứu. GS.TSKH.Thái Duy Tuyên, có bài viết: “Bồi dưỡng năng lực tự học cho
+ Đối tƣợng khảo sát là học sinh lớp 11 của trƣờng THPT Xuân Hòa.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài này tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phƣơng pháp
nghiên cứu cụ thể nhƣ: phƣơng pháp quan sát, phƣơng pháp điều tra; phƣơng
pháp phỏng vấn, trò chuyện.
4
Ngoài ra đề tài còn phối hợp các phƣơng pháp liên ngành nhƣ phân tích,
tổng hợp, thống kê toán học trên cơ sở quán triệt sâu sắc các quan điểm của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
6. Ý nghĩa của đề tài
Về mặt lý luận: Đề tài khóa luận hệ thống cơ sở lý luận về tự học, vận dụng
phƣơng pháp tự học để áp dụng cho học sinh nhằm từng bƣớc nâng cao chất
lƣợng tự học của học sinh trong nhà trƣờng.
Về mặt thực tiễn: Đề tài khóa luận còn góp phần nâng cao tính tích cực, chủ
động sáng tạo, chỉ ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan; đồng thời đề xuất
thử nghiệm tính đúng đắn của phƣơng pháp tự học môn Giáo dục công dân trên
cơ sở thực nghiệm sƣ phạm, giúp cho học sinh hiểu đƣợc tầm quan trọng của
phƣơng pháp tự học, kỹ năng tự học đúng đắn để đạt đƣợc kết quả cao trong học
tập, góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục hiệu quả của quá trình dạy học môn
Giáo dục công dân ở trƣờng THPT.
7. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận gồm: Phần mở đầu, nội dung gồm 3 chƣơng, 8 tiết, phần kết
luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo.
5
Nhƣ vậy, phƣơng pháp là toàn bộ những cách thức với tính chất là một hệ
thống các nguyên tắc xuất phát từ các quy luật tồn tại và vận động của đối tƣợng,
khách thể đã nhận thức cũng nhƣ hoạt động thực tiễn của con ngƣời, nhằm tác
động vào đối tƣợng để thực hiện mục đích đã định.
1.1.1.2. Phương pháp dạy học
Trong giáo dục nhà trƣờng, phƣơng pháp đƣợc đề cập đó là phƣơng pháp
dạy học. Phƣơng pháp dạy học đƣợc xem xét với tích cách là một khoa học,
đó là khoa học sƣ phạm, khoa học về giảng dạy và truyền đạt tri thức cho
ngƣời học.
Phƣơng pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá
trình dạy học. Phƣơng pháp có nghĩa là con đƣờng để đạt mục đích, theo đó,
phƣơng pháp dạy học là con đƣờng để đạt mục đích dạy học.
Phƣơng pháp dạy học là một khái niệm phức hợp, có nhiều bình diện,
phƣơng diện khác nhau. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về phƣơng pháp dạy học
đều phải dựa trên một số đặc trƣng cơ bản sau:
- Phƣơng pháp dạy học là sự thống nhất giữa phƣơng pháp dạy và
phƣơng pháp học.
- Phƣơng pháp dạy học thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và giáo dục.
- Phƣơng pháp dạy học có cả mặt khách quan và chủ quan.
- Phƣơng pháp dạy học là sự thống nhất của logic nội dung dạy học và
lôgic tâm lí nhận thức.
- Phƣơng pháp dạy học là sự thống nhất của cách thức hành động và
phƣơng tiện dạy học.
Từ đặc trƣng của phƣơng pháp dạy học, chúng ta thấy rằng, phƣơng
pháp dạy học là một phạm trù tƣ duy khoa học, một nghệ thuật sƣ phạm có tổ
chức, có định hƣớng, có sự phù hợp giữa nội dung và hình thức. Mỗi một bài
dạy cụ thể, tùy từng nội dung tri thức phải có phƣơng pháp dạy học, phƣơng
tiện dạy học và các thao tác thích hợp.
8
Hình thức thứ hai: tự học có sách nhƣng không có giáo viên bên cạnh,
hình thức này lại có thể diễn ra ở hai mức: tự học theo sách mà không có sự
hƣớng dẫn của thầy và tự học có thầy ở xa hƣớng dẫn.
Hình thức thứ ba: tự học có sách, có thầy nhƣng thầy chỉ có mặt một số
tiết để hƣớng dẫn, còn học sinh tự nghiên cứu là chính .Trong quá trình học tập
trên lớp, trò là chủ thể, tích cực, tự giác, say mê, sáng tạo tham gia vào quá trình
học tập; thầy là tác nhân, là ngƣời thiết kế, tổ chức, hƣớng dẫn và tạo điều kiện
thuận lợi nhất để trò tự chiếm lĩnh tri thức.
Trong quá trình tự học, dƣới sự hƣớng dẫn gián tiếp của thầy, trò phải phát
huy tính tự giác, tích cực, chủ động để hoàn thành những yêu cầu, những bài tập
do thầy đƣa ra và những hoạt động học tập khác của cá nhân.
Từ những quan điểm phong phú, đa dạng về tự học nêu trên, tác giả có
thể kết luận về tự học nhƣ sau: Tự học là quá trình người học độc lập, tích
cực, tự giác và sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó
trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích
nhất định.
b) Vai trò và ý nghĩa của tự học
Trong tƣ tƣởng giáo dục của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi
trọng vai trò của tự học. Theo Ngƣời, tự học có một vai trò đặc biệt quan
trọng và không thể thay thế: "Lấy tự học làm cốt”. Cốt ở đây có thể hiểu là
cốt yếu, là chủ chốt, là nòng cốt, là bộ khung, là cái sƣờn, cái cốt lõi. Nhƣ
vậy, tự học chính là yếu tố cốt lõi của hoạt động học, là bộ khung, là nội lực
quyết định chất lƣợng học tập. Các yếu tố khác là ngoại lực. Học mà thiếu tự
học thì chỉ là một cơ thể thiếu xƣơng cốt "lấy tự học làm cốt". Học tập mà
thiếu tự học là một cơ thể không có xƣơng: khó đứng lên đƣợc! Để thực hiện
vai trò quan trọng nhƣ vậy, tự học phải xuất phát từ một mục đích cao cả, với
nghiệp THPT chu n bị chuyển lên học cao hơn ở các trƣờng trung cấp
chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.
10
1.1.2. Tính tất yếu và yêu cầu của phương pháp tự học trong dạy học
môn GDCD
1.1.2.1 Phương pháp tự học
Tự học, tính tự giác trong học tập của học sinh là hoạt động thƣờng
xuyên, liên tục của học sinh trong quá trình học tập. Nhƣng để nâng cao chất
lƣợng, hiệu quả thật sự, một yêu cầu tất yếu đặt ra là hoạt động tự học cần
phải đƣợc sắp xếp và tổ chức một cách đúng đắn, khoa học, ngƣời giáo viên
cần quan tâm tổ chức hoạt động tự học cho học sinh.
Phƣơng pháp tự học là sự sắp xếp, thiết kế các biện pháp tiến hành hoạt
động, là việc sử dụng đối tƣợng và các phƣơng tiện hỗ trợ nhằm đạt đƣợc mục
tiêu đề ra. Hƣớng dẫn hoạt động là công việc có vai trò rất quan trọng, nó ảnh
hƣởng trực tiếp tới kết quả của hoạt động.
Trong hoạt động dạy - học, hƣớng dẫn, tổ chức hoạt động là một công
việc cần thiết ảnh hƣởng tới chất lƣợng và hiệu quả học tập, đó là cách thiết
kế, sắp xếp các biện pháp hoạt động phối hợp chung giữa giáoviên và học
sinh trong học tập trên lớp và ở nhà, chính khóa và ngoại khóa theo quy chế
học tập, dƣới sự chỉ đạo của nhà trƣờng nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả
của hoạt động học tập.
Đối với học sinh, phƣơng pháp tự học là cách thức hoạt động tích cực,
chủ động, tự lực và sáng tạo nhằm thực hiện có chất lƣợng, hiệu quả mục đích
và nhiệm vụ học tập
Đối với giáo viên, vận dụng phƣơng pháp tự học cho học sinh là quá
trình thiết kế, sắp xếp các biện pháp tổ chức giảng dạy nhằm tiến hành hƣớng
dẫn, điều khiển, chỉ đạo cách tự thiết kế, tự sắp xếp các biện pháp hoạt động
triển kiến thức xã hội chƣa theo kịp sự phát triển về thể chất đôi khi dẫn tới
những hành động mang tính bồng bột. Những đặc điểm nhân cách chủ yếu ở
HS THPT là phát triển tự ý thức, sự hình thành thế giới quan. Các em cũng
12
sắp rời khỏi mái trƣờng phổ thông, ra ngoài xã hội với tƣ cách là một ngƣời
có đức và tài, ph m chất, cốt cách nhân ph m tốt. Nhƣ vậy môn GDCD có vai
trò quan trọng trong việc phát triển tâm lực, một thành tố cơ bản của nhân
cách và là nội lực của sự phát triển nhân cách học sinh. Đây là điểm khác biệt
giữa môn GDCD với các môn khoa học khác ở trƣờng THPT, đồng thời đây
cũng là điểm nói lên vị trí rất quan trọng, tính đặc thù của môn học này. Vì
vậy giáo dục ý thức tự học môn GDCD cho HS THPT là rất cần thiết.
1.1.2.3 Những yêu cầu của phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD
Thứ nhất: Lên kế hoạch và mục tiêu
Giáo viên hƣớng dẫn cho HS có kế hoạch và mục tiêu rõ ràng, có kế
hoạch học tập thật khoa học, xác định đƣợc khối kiến thức các em cần phải
trau dồi, phân bổ thời gian hợp lý.
Có kế hoạch thì phải có mục tiêu, mục tiêu sẽ là động lực học tập của
các em. Bởi khi đó các em biết mình cần phải học vì cái gì, những loại kiến
thức các em học sẽ phục vụ vào công việc gì. Khi đó các em sẽ chủ động học
và tự học để có đủ kiến thức thực hiện mục tiêu mà bản thân đã đề ra.
Thứ hai: Có phƣơng pháp và nhẫn nại
Để các em có tinh thần học tập tốt môn GDCD, GV cần phải giúp cho
các em có sự kiên trì, nhẫn nại. Đừng vội chán nản, lo lắng., Học là một quá
trình lâu dài tích lũy kiến thức, các em sẽ rất dễ nhàm chán bởi môn GDCD
trừu tƣợng, kiến thức rộng ngoài xã hội và luôn phải cập nhật thông tin. Vì
vậy khi các em đã bỏ ra quá nhiều thời gian học mà kết quả thu lại không
đƣợc bao nhiêu, GV hãy giúp các em thay đổi phƣơng pháp học ngoài những
THPT Xuân Hòa
1.2.1.1.Vài nét về trường THPT Xuân Hòa.
Trƣờng THPT Xuân Hòa thành lập ngày 04-03-1987 đƣợc tách ra từ
trƣờng cấp 3 Phúc Yên, tiền thân là trƣờng thực nghiệm, thực hành trực thuộc
14
trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 quản lý và chỉ đạo (thuộc thành phố Hà
Nội). Năm học đầu tiên thành lập (1987-1988), chỉ có 2 lớp với 100 học sinh
và 5 cán bộ, giáo viên kiêm nhiệm của Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2; Năm học thứ
hai (1988-1989) tăng lên 4 lớp; Đến năm học thứ ba (1989-1990) tăng lên 9
lớp với 460 học sinh (tăng gấp hơn 4 lần so với năm đầu thành lập) với 10
CBGV dạy và học tại 2 dãy nhà do Unicef tài trợ thuộc trƣờng ĐHSP Hà Nội
2. Đến năm 1989 trƣờng chính thức tồn tại độc lập và đóng trên địa bàn
phƣờng Xuân Hòa- Phúc Yên- Vĩnh Phúc. Hiệu trƣởng đầu tiên là thầy
Nguyễn Văn Chấn (nhiệm kỳ từ tháng 8-1987 đến tháng 12-1999); tiếp theo
là thầy Đặng Việt Phú (nhiệm kỳ từ tháng 01-2000 đến năm tháng 9 năm
2010); và thầy Nguyễn Thanh Hiên từ tháng 9 năm 2010 cho đến nay.
Sau hơn 25 năm xây dựng và trƣởng thành, trƣờng THPT Xuân Hòa đã
phát triển vƣợt bậc: Từ quy mô trƣờng lớp, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ,
giáo viên cho đến hình ảnh và uy tín của nhà trƣờng trong khu vực. Kỷ
cƣơng, nề nếp nhà trƣờng đƣợc giữ vững, ổn định và không ngừng phát triển.
Chất lƣợng học sinh đã có nhiều chuyển biến đáng mừng. Những thành công
trên chặng đƣờng xây dựng và trƣởng thành của nhà trƣờng đã đƣợc UBND
tỉnh Vĩnh Phúc ghi nhận. Tháng 8-2008 trƣờng đã đƣợc công nhận trƣờng đạt
chu n Quốc gia giai đoạn 2001-2010.
Về cơ sở vật chất, cho đến năm học 2014-2015 diện tích đất nhà trƣờng
hiện có là 27.000 m2, cơ ngơi khá khang trang gồm: Một nhà điều hành 2
tầng; hai dãy nhà lớp học 3 tầng với 24 phòng học; một dãy nhà đa năng 3
Trƣờng THPT Xuân Hòa cũng nhƣ các trƣờng THPT khác hiện nay cho
thấy, mối quan tâm hàng đầu là vấn đề chuyên môn của các môn học liên
quan trực tiếp đến nghề nghiệp, tƣơng lai của các em nhƣ môn: Toán, Lý,
Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Anh. Còn các môn cơ sở, mang tính định hƣớng
chính trị, giáo dục ph m chất và các năng lực khác nhƣ môn GDCD thƣờng ít
đƣợc coi trọng, hoặc chỉ mang tính chất bổ trợ, theo chƣơng trình quy định
16
chung mà thôi, việc tổ chức ngoại khóa cho môn này còn rất ít. GV chủ yếu
sử dụng phƣơng pháp dạy học truyền thống, và còn có hiện tƣợng dạy chéo môn
(GV dạy các bộ môn khác sang giảng dạy môn GDCD). Điều này dẫn đến
chất lƣợng dạy của môn GDCD rất thấp, từ đó gây tâm lý coi nhẹ môn học
trong các em, dẫn tới hiệu quả học tập thấp.
1.2.2. Thực trạng tự học trong việc dạy - học môn Giáo dục công dân ở
THPT Xuân Hòa
Tác giả tiến hành điều tra nhận thức của học sinh trƣờng THPT Xuân
Hòa về tầm quan trọng của môn Giáo dục công dân. Việc điều tra đƣợc tiến
hành trên 152 học sinh lớp 11 năm học 2014-2015 thuộc các lớp
11a1,11a2,11a3,11a4.
* Kết quả điều tra từ học sinh
Bảng 1.1:Kết quả điều tra nhận thức của học sinh về ý nghĩa của môn
Giáo dục công dân
STT
Mức độ nhận thức về ý nghĩa của môn Giáo Ý kiến đánh giá
dục công dân
SL
điều ảnh hƣởng không nhỏ tới chất lƣợng giảng dạy môn GDCD.
17
Bảng 1.2: Thái độ học tập đối với với môn Giáo dục công dân
STT
Thái độ học tập đối với môn GDCD
Ý kiến đánh giá
SL
TL(%)
1
Học thƣờng xuyên
20
13.2
2
Học tùy theo hứng thú
98
64.4
*Nguyên nhân khách quan
Trƣớc hết là các cấp quản lý chƣa thực sự quan tâm đến môn GDCD,
vẫn còn coi đó là môn phụ nên chƣa tạo điều kiện về bố trí GV và các điều
kiện cần thiết khác để GV GDCD nâng cao chất lƣợng dạy học. Bên cạnh đó,
Ban Giám hiệu Nhà trƣờng chƣa xác định đúng mục đích của môn học, hoặc
vì ƣu tiên cho mục đích khác mà họ cho là quan trọng hơn. Vì vậy, trƣờng
18
thƣờng xếp môn Giáo dục công dân học vào tiết 4 và tiết 5. Một nguyên nhân
chính nữa đó là: Khi GV dạy môn GDCD có việc đột xuất phải nghỉ dạy thì
Ban Giám hiệu Nhà trƣờng phân công chuyên môn GDCD cho các giáo viên
dạy bộ môn khác sang dạy ( GV dạy môn Ngữ Văn) thay nên hiệu quả giảng
dạy thấp, không chuyên sâu, làm cho các em không thấy đƣợc vai trò của môn
học trong khi môn học luôn có một phần quan trọng nhất là tri thức thực tế,
nội dung kiến thức của môn GDCD không “tĩnh”, nghĩa là không mang tính
ổn định, trừ một số nội dung về pháp luật, đặc thù môn học thật gần gũi với
đời sống lại phù hợp với sự thay đổi tâm lý của các em giúp các em liên hệ
với bản thân. Chính từ đó giúp các em định hƣớng, điều chỉnh thái độ, hành
vi phù hợp một cách nhanh nhất.
Bản thân không phải giáo viên chuyên ngành nên các GV dạy thay
chƣa vận dụng phƣơng pháp tự học cho các em mà chủ yếu là giảng dạy dƣới
hình thức đọc chép, giảng theo cảm tính và bài giảng còn mang hơi hƣớng
văn học .
* Nguyên nhân chủ quan
Hầu hết các em học sinh khi đƣợc hỏi về tự học môn GDCD đều trả lời:
“Do môn GDCD là môn phụ nên em không dành nhiều thời gian học, mà thay
vào đó em dành thời gian học các môn chính, những môn trực tiếp thi tốt
nghiệp và thi đại học, hơn nữa môn GDCD trừu tƣợng, khô khan. Các cô dạy