TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
==***==
LÊ THỊ VINH
SỰ VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN
GDCD Ở TRƢỜNG THPT MỸ LỘC, TỈNH
NAM ĐỊNH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
GV: NGUYỄN QUAN THUẬN
HÀ NỘI - 2012
1
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian làm khóa luận cũng nhƣ học tập tại trƣờng, em đã nhận đƣợc sự quan
tâm giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy cô trong khoa Giáo dục Chính trị, cùng với sự
động viên khích lệ của gia đình và bạn bè. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu
này.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Nguyễn Quang Thuận.
Thầy đã tận tình giúp đỡ, hƣớng dẫn em trong suốt quá trình làm khóa luận để em có thể
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học.
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này, do sự hạn hẹp về thời gian và do sự
hạn chế về kiến thức của bản thân nên em không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót. Vì vậy, em
rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và của các bạn để đề tài của
em đƣợc hoàn thiện hơn.
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
.............................................................................................
Chƣơng 1 : MỘT SỐ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ PPDH
1.1.
Lý luận về phƣơng pháp ............................................................. 7
1.2.
Lý luận về PPDH ................ ........................................................ 8
1.3.
Lý luận về PPDH môn GDCD ở trƣờng THPT ........................... 11
Chƣơng 2: LÍ LUẬN VỀ PPDH NÊU VẤN ĐỀ Ở TRƢỜNG THPT
2.1.
Khái niệm PPDH nêu vấn đề ........................................................ 15
2.2.
Cơ sở của PPDH nêu vấn đề ......................................................... 16
2.3.
Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định .......................................................................... 39
Kết luận
48
Tƣ liệu tham khảo
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta thấy rằng mỗi môn học ở trƣờng THPT đều có vai trò nhất định
trong việc đào tạo ra những thế hệ học sinh có kiến thức và phẩm chất, tạo ra
nguồn lao động phục vụ công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta.
Điều 27 của Luật Giáo dục năm 2005 chỉ rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ
thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây
dựng tƣ cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên
hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Từ
mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, mục tiêu của cấp học THPT đƣợc xác
định nhƣ sau: “Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và những
hiểu biết thông thƣờng về kỹ thuật và hƣớng nghiệp để tiếp tục học đại học,
cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, h ọc nghề hoặc đi vào cuộc
sống lao động”.
Để thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổ thông và mục tiêu của bậc
THPT thì chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp giáo dục phổ thông phải phù
hợp với thực tiễn đất nƣớc, với con ngƣời Việt Nam và với xu thế của thời
học tập ở HS, hình thành lối học vẹt, học tủ ở HS. Từ thực trạng đó, trong
những năm gần đây Bộ giáo dục và đào tạo đã đƣa ra và từng bƣớc thực hiện
đổi mới PPDH. Vậy đổi mới PPDH nhƣ thế nào? Đổi mới PPDH ở nƣớc ta
đƣợc thực hiện theo hƣớng “Lấy học sinh làm trung tâm” tức là đề cao vai trò
chủ động tích cực của HS trong quá trình lĩnh hội kiến thức, còn GV giữ vai
trò chủ đạo và là ngƣời hƣớng dẫn, điều khiển, giúp đỡ HS lĩnh hội kiến thức.
Trong cách học này, HS đƣợc phép tự thử nghiệm và khám phá, chủ động tìm
7
tòi tri thức nên đã kích thích đƣợc khả năng, tính tích cực học tập và sự sáng
tạo của các em. Do đó trong quá trình dạy học nói chung, trong dạy học môn
GDCD nói riêng, ngƣời GV cần kết hợp PPDH truyền thống với PPDH tích
cực. GV không nên tuyệt đối hoá hoặc xem nhẹ vai trò của bất cứ PPDH nào.
PPDH tích cực bao gồm một số phƣơng pháp nhƣ vấn đáp, trực quan,
nêu vấn đề, động não… Trong đó phƣơng pháp nêu vấn đề là phƣơng pháp
không còn xa lạ, mới mẻ trong dạy học. Lịch sử của phƣơng pháp nêu vấn đề
có thể đƣợc xác định từ hàng ngàn năm trƣớc qua phƣơng pháp dạy học của
Khổng Tử hay của Xocrat. Khi vận dụng phƣơng pháp này vào giảng dạy các
môn học nói chung và môn GDCD nói riêng đã tạo đƣợc kết quả tích cực. Bởi
vì nó đã phát huy đƣợc khả năng, sự sáng tạo và khả năng độc lập suy nghĩ
của HS, giúp các em không chỉ giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập
mà còn giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống hàng ngày.
Nhƣ vậy, xuất phát từ mục tiêu của giáo dục phổ thông, mục tiêu của cấp
học THPT, từ yêu cầu đổi mới PPDH theo hƣớng tích cực, từ kết quả của việc
vận dụng PPDH nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD ở trƣờng THPT, em
lựa chọn đề tài: “Sự vận dụng phƣơng pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học
môn GDCD ở trƣờng THPT Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định” làm đề tài khoá luận
của mình.
Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của PPDH và PPDH môn GDCD ở
trƣờng THPT.
Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của PPDH nêu vấn đề ở trƣờng
THPT hiện nay.
Vận dụng PPDH nêu vấn đề vào Bài 15 “Công dân với một số vấn đề
cấp thiết của nhân loại”, (Sách giáo khoa GDCD 10) trong dạy học môn
GDCD ở trƣờng THPT Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
Đƣa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng PPDH nêu vấn đề
trong dạy học môn GDCD ở trƣờng THPT.
9
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận hƣớng vào đối tƣợng nghiên cứu là GV dạy môn GDCD
và HS, hoạt động dạy học của GV dạy môn GDCD và HS lớp 10A, 10C của
trƣờng THPT Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu việc vận dụng PPDH nêu vấn đề
trong dạy học môn GDCD ở trƣờng THPT Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Phƣơng pháp nghiên cứu của khoá luận dựa trên cơ sở phƣơng pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp
với một số thao tác tƣ duy nhƣ phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát
hoá…Ngoài ra, khoá luận còn sử dụng các phƣơng pháp khác nhƣ điều tra xã
hội học, thống kê toán học, thực nghiệm sƣ phạm…
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Về mặt lí luận
Khoá luận hệ thống hoá và phát triển lí luận về PPDH, PPDH môn
quan. Mặt khách quan là các quy luật khách quan chi phối đối tƣợng mà chủ
thể phải nhận thức đƣợc, ví dụ là những quy luật tâm lí chi phối nhận thức của
HS mà GV phải nắm đƣợc. Mặt chủ quan là các thao tác, phƣơng tiện mà chủ
thể lựa chọn phù hợp với những quy luật chi phối đối tƣợng. Mặt khách quan
và chủ quan của phƣơng pháp có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên hiệu quả
của phƣơng pháp. Viện sĩ Todo Paplop viết: “Phƣơng pháp khoa học
là những quy luật nội tại của sự vận động của tƣ duy, với tƣ cách
là sự phản ánh chủ quan của thế g iới khách quan, hoặc nói cách
khác là những quy luật khách quan đƣợc “chuyển” và “dịch” trong
11
ý thức con ngƣời và đƣợc sử dụng một cách có ý thức, có hệ thống
nhƣ là phƣơng tiện để giải thích và cải biến thế giới”.[10, pp.401 ]
1.2. Lí luận về PPDH
1.2.1. Khái niệm PPDH
Trong giáo dục nói chung, trong dạy học nói riêng rất cần có phƣơng
pháp, kết quả giáo dục ở nhà trƣờng không chỉ đánh giá qua nội dung mà còn
qua PPDH. Vậy PPDH là gì? Từ trƣớc tới nay đã có nhiều quan niệm khác
nhau về PPDH. Cụ thể:
PPDH là cách thức làm việc của GV và HS để HS lĩnh hội tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo [18].
PPDH là những cách thức hoạt động tƣơng tác đƣợc điều chỉnh của
GV và HS hƣớng vào việc giải quyết các nhiệm vụ giáo dƣỡng, giáo dục và
phát triển trong quá trình dạy học [14].
PPDH là con đƣờng chính yếu, cách thức làm việc phối hợp, thống
nhất của thầy và trò, trong đó thầy truyền đạt nội dung trí dục để trên cơ sở đó
và thông qua đó chỉ đạo sự học tập của trò; còn trò lĩnh hội và tự chỉ đạo sự
học tập của bản thân để cuối cùng đạt đƣợc mục đích dạy học [9].
PPDH bao gồm các yếu tố sau:
Hƣớng tiếp cận đối tƣợng dạy học: xác định mục đích của hoạt động
dạy học là gì? học để hƣớng tới việc cung cấp tri thức hay hình thành kỹ năng
hành động (hành vi) cho ngƣời học?
Nội dung lí luận của PPDH: là yếu tố tạo nên sự khác biệt về bản chất
và mức độ khoa học giữa PPDH với kinh nghiệm dạy học nhƣ ƣu điểm, hạn
chế, phạm vi sử dụng có hiệu quả… của phƣơng pháp.
Biện pháp kỹ thuật của phƣơng pháp: là hệ thống cách thức tác động
của GV và HS lên đối tƣợng dạy học qua đó thực hiện nhiệm vụ dạy học.
Các thủ pháp nghệ thuật dạy học: là điều kiện cần thiết để hoạt động
dạy học đạt kết quả nhƣng không nên áp dụng máy móc.
13
1.2.3. Tính chất của PPDH
Tính đa dạng
PPDH đƣợc chia thành hai nhóm chính là PPDH truyền thống và PPDH
hiện đại. PPDH truyền thống là PPDH mang tính thụ động một chiều, thầy
đọc- trò chép còn PPDH hiện đại là PPDH lấy HS làm trung tâm kết hợp với
các phƣơng tiện dạy học hiện đại, công nghệ thông tin và truyền thông mới.
Tính đặc thù
Vì mỗi PPDH có đặc điểm riêng, ƣu điểm, hạn chế và hiệu quả khác
nhau. Không có PPDH nào là “vạn năng” nên phải kết hợp khéo léo các
PPDH. “Trong một bài dạy, không bao giờ chỉ dùng một phƣơng pháp. Nhƣ
vậy vấn đề đặt ra là phải phối hợp các phƣơng pháp nhƣ thế nào? Vấn đề phối
hợp phải bắt đầu từ sự phân tích nội dung. Nội dung rất đa dạng mà mỗi
phƣơng pháp thƣờng chỉ giải quyết đƣợc một nội dung nhận thức nào đó, vì
vậy phải sử dụng nhiều phƣơng pháp. Vấn đề là bao giờ cũng có một phƣơng
pháp chủ đạo, phƣơng pháp khác chỉ hỗ trợ cho phƣơng pháp chủ đạo này.
động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy. Những tiêu
chí của một khoa học là: có đối tƣợng nghiên cứu, có hệ thống lí thuyết, có
phƣơng pháp luận riêng cũng nhƣ có chức năng, nhiệm vụ và có phƣơng pháp
nghiên cứu riêng. Do có đối tƣợng nghiên cứu khác nhau nên có những khoa
học khác nhau. Đồng thời sự phân chia thành các ngành khoa học khác nhau
dẫn tới một số ngành khoa học có những chỗ gặp nhau, tích hợp với nhau và
làm xuất hiện khoa học mới. Ví dụ: sự gặp gỡ của khoa học giáo dục với môn
GDCD dẫn tới sự ra đời của chuyên ngành PPDH môn GDCD…
Với tƣ cách là một khoa học, PPDH môn GDCD đƣợc xem là một bộ
phận của khoa học giáo dục (thuật ngữ “khoa học giáo dục” đƣợc hiểu theo
nghĩa rộng) là một hệ thống lý thuyết và kỹ năng cơ bản để tổ chức quá trình
dạy học môn GDCD ở trƣờng THPT. Vậy PPDH môn GDCD là cách hoạt
động phối hợp thống nhất của GV và HS nhằm phát hiện ra những quy luật
15
của quá trình dạy học môn GDCD, xây dựng hệ thống các nguyên tắc, hình
thức và PPDH cụ thể để tổ chức thành công hoạt động dạy học môn GDCD ở
trường THPT.
1.3.2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của PPDH môn
Đối tƣợng nghiên cứu
PPDH môn GDCD ở trƣờng THPT với tƣ cách là một khoa học có đối
tƣợng nghiên cứu là sự hình thành nội dung tri thức môn GDCD và cách thức,
con đƣờng tổ chức để HS chiếm lĩnh nội dung tri thức của môn học này.
Quá trình dạy học môn GDCD là một hệ thống trọn vẹn, vì vậy các yếu
tố tạo nên nội dung khái niệm dạy học cũng chính là các yếu tố cấu thành đối
tƣợng nghiên cứu của PPDH môn GDCD. Cụ thể:
+ Môn học hay sự cụ thể hóa nội dung trí dục.
+ Hoạt động dạy của GV. Nghiên cứu hoạt động này, PPDH môn
+ Phƣơng pháp của khoa học giáo dục.
Phƣơng pháp nghiên cứu của khoa học giáo dục nói chung gồm: phân
tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa, trừu tƣợng hóa… và các
phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn nhƣ quan sát, thực nghiệm khoa học, tổng
kết kinh nghiệm, điều tra… Trong đó các phƣơng pháp nghiên cứu lí luận và
nghiên cứu thực tiễn thƣờng đƣợc sử dụng kết hợp và chặt chẽ với nhau. Vì lí
luận khái quát nào về mặt lí thuyết cũng phải dựa trên những sự kiện thực
tiễn, ngƣợc lại bất cứ kết luận thực tiễn nào cũng dựa trên những giả định về
mặt lí thuyết.
Nhƣ vậy PPDH môn GDCD là một chuyên ngành của khoa học giáo dục,
có đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu riêng.
1.3.3. Mối quan hệ giữa các PPDH môn GDCD ở trường THPT
Theo cách tiếp cận của Các Mác về PPDH thì với cùng một nội dung dạy
học sẽ có nhiều PPDH khác nhau, trong đó có một phƣơng pháp tốt nhất. Do
17
đó, trong quá trình dạy học môn GDCD ở trƣờng THPT, giữa các PPDH
không hề tách rời mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ngƣời GV cần biết
kết hợp, vận dụng khéo léo các PPDH để quá trình dạy học môn GDCD đạt
hiệu quả cao. GV có thể sử dụng một PPDH, thƣờng là sử dụng kết hợp vài
PPDH với nhau trong một bài dạy học. Một trong những PPDH tích cực, sáng
tạo và đạt hiệu quả cao là phƣơng pháp nêu vấn đề.
18
Chƣơng 2
LÍ LUẬN VỀ PPDH NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN
vậy tập dƣợt cho HS biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải
trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm
PPDH mà phải đƣợc đặt nhƣ một mục tiêu giáo dục và đào tạo.
2.2. Cơ sở của PPDH nêu vấn đề
Cơ sở hay “nguyên liệu” của dạy học nêu vấn đề là “vấn đề”.
Khái niệm “vấn đề” ở đây đƣợc hiểu là vấn đề nhận thức, là mâu thuẫn
(mâu thuẫn bên trong giữa cái đã biết và cái chƣa biết trong đó cái chƣa biết
là cái có ý nghĩa, là cái bức bách cần thiết) việc giải quyết mâu thuẫn sẽ thỏa
mãn, và đáp ứng đƣợc nhận thức của con ngƣời trong cuộc sống.
Theo E.V.Llienôp: “Một câu hỏi thật sự, nghĩa là một vấn đề đòi hỏi
đƣợc giải quyết thông qua việc tiếp tục nghiên cứu những sự kiện, thì bao giờ
cũng có dạng một mâu thuẫn logic, một nghịch lí”.
Theo X.L.Rubinxten: “Con ngƣời bắt đầu suy nghĩ khi anh ta thấy xuất
hiện nhu cầu hiểu biết một cái gì đó. Tƣ duy luôn luôn bắt đầu từ một vấn đề
hoặc một câu hỏi, từ sự ngạc nhiên hay nỗi băn khoăn thắc mắc” .
Theo M.A.Đanilôp: “Vấn đề nhận thức đặc trƣng ở chỗ nó đƣa học sinh
ra ngoài giới hạn của những kiến thức vốn có của các em” [6, tr18].
Không chỉ HS mà cả GV và HS đều phải tƣ duy khi đối diện trƣớc vấn
đề nảy sinh trong quá trình dạy học. Theo Lecne.I.IA: “ Trong trƣờng hợp
giáo viên ra một bài toán nhận thức mà mình đã hiểu rõ thì tuy đã biết lời giải
rồi song trong khi học sinh giải bài toán đó, giáo viên vẫn đóng vai trò một
ngƣời tìm tòi chứ không chỉ đóng vai trò trọng tài quan sát xem lời giải của
học sinh có đúng hay không” [17]. Bởi vì, với liên hệ ngƣợc chiều, GV sẽ thu
đƣợc tất cả các bƣớc hay lời giải sai hoặc độc đáo của HS. Và GV đánh giá
20
ngay trong giờ học đó xem các bƣớc đi nhƣ vậy có đúng hay sai, bác bỏ hay
khen ngợi các cách giải quyết đó.
phƣơng pháp luận biện chứng” (Sách giáo khoa GDCD 10) thì GV cần giảng
giải, làm cho HS nắm đƣợc thế nào là thế giới quan, phƣơng pháp luận? vai
trò thế giới quan, phƣơng pháp luận của triết học? thế nào là thế giới quan
duy vật và thế nào là thế giới quan duy tâm? thế nào là phƣơng pháp luận biện
chứng và phƣơng pháp luận siêu hình? Rồi từ đó làm cho HS nắm đƣợc nội
dung kiến thức cụ thể chủ nghĩa duy vật biện chứng – sự thống nhất hữu cơ
giữa thế giới quan duy vật và phƣơng pháp luận biện chứng”.
Tìm tòi bộ phận
Trong mỗi bài giảng bao gồm nhiều đề mục, mỗi đề mục lại bao gồm
nhiều đề mục nhỏ. Các đề mục và các mục nhỏ có liên quan chặt chẽ với
nhau, tạo thành một bài giảng trọn vẹn với kết cấu logic xác định. Đó là
những phần, những bộ phận của bài giảng. Vì thế hình thức tìm tòi bộ phận
của phƣơng pháp nêu vấn đề đƣợc sử dụng để truyền thụ tri thức mỗi bộ phận
đó, tức là giải quyết từng phần của bài giải. Sau khi đƣa HS vào tình huống có
vấn đề, GV hƣớng dẫn HS tìm ra phƣơng pháp tốt nhất để HS tự giải quyết
vấn đề và khái quát hóa tri thức đã giải quyết. Sau cùng, GV tổng hợp chúng, hệ thống hóa lại
giúp HS hiểu đƣợc những kiến thức cơ bản, trọng tâm của phần đó.
Nêu vấn đề toàn bộ
Đây là hình thức có mức độ cao nhất trong PPDH nêu vấn đề. Dƣới sự
hƣớng dẫn, dẫn dắt của GV thì HS tự mình giải quyết toàn bộ một vấn đề nêu
ra trong bài giảng. Hình thức này đƣợc thực hiện sau khi GV đã suy xét kỹ
càng về nội dung kiến thức của bài giảng, về khả năng và trình độ tƣ duy, về
kiến thức đã có của HS, của điều kiện cho phép HS tự tìm hiểu và giải quyết
vấn đề. Đƣơng nhiên để HS có thể giải quyết toàn bộ vấn đề nêu ra, bản thân
GV đã phải suy nghĩ tới tiến trình HS sẽ phải tiến hành, mối liên hệ giữa các
phần; giữa giải quyến vấn đề bộ phận với giải quyết vấn đề toàn bộ hƣớng
22
nâng cao lòng tin vào khả năng của bản thân trong việc giải quyết các tình
huống học tập cũng nhƣ trong đời sống hiện thực.
+ Tăng cƣờng hiểu biết và sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm
thông qua việc hợp tác để giải quyết các tình huống.
+ Kết quả của dạy học đặt và giải quyết vấn đề là hình thành ở HS kiến
thức và kỹ năng vững chắc. Quan trọng hơn là HS biết cách chủ động chiếm
lĩnh kiến thức, đánh giá kết quả học tập của bản thân và của ngƣời khác.
Thông qua đó các năng lực cơ bản đƣợc hình thành, đặc biệt là năng lực vận
dụng tri thức để giải quyết vấn đề thực tiễn một cách linh hoạt và sáng tạo.
Hạn chế:
+ Xây dựng các tình huống có vấn đề trong dạy học là việc khó, không
phải GV nào cũng làm đƣợc. Vì vậy đòi hỏi GV phải có kinh nghiệm chuyên
môn, có trình độ sâu rộng và am hiểu những vấn đề thực tế liên quan tới bộ
môn.
+ Nếu GV tổ chức lớp học không tốt sẽ mất nhiều thời gian, lãng phí thời
gian học tập vì HS tốn nhiều thời gian để giải quyết tình huống và rút ra các
tri thức cần thiết.
+ HS cần có thói quen và khả năng tự học tự giác thì mới đạt hiệu quả
cao.
+ Trong một số trƣờng hợp cần có thiết bị dạy học và các thiết bị cần
thiết đi kèm thì việc áp dụng phƣơng pháp này mới đạt hiệu quả. Ví dụ: khi
thực hành thí nghiệm…
+ HS dễ bị lạc hƣớng trong quá trình giải quyết tình huống, dễ nản chí
khi gặp tình huống khó hoặc không nhiệt tình tham gia khi tình huống kém
hấp dẫn (chƣa kể đến tình huống khó thực hiện do tốn kém kinh phí).
24
2.5. Hạt nhân của PPDH nêu vấn đề