TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TỪ THỊ THANH MỴ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
AN GIANG, 2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TỪ THỊ THANH MỴ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
khóa luận tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
AN GIANG, THÁNG 5 /2011
SINH VIÊN
TỪ THỊ THANH MỴ
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU.............................................................................................................................1
NỘI DUNG.........................................................................................................................4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO
DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN
GIANG......................................................................................................4
1.1. Đặc thù môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông. ..........................4
1.1.1. Vị trí và nhiệm vụ của môn Giáo dục công dân
trong trường trung học phổ thông.........................4
1.1.1.1. Vị trí của môn Giáo dục công dân trong trường trung học phổ thông ....4
1.1.1.2. Nhiệm vụ của môn Giáo dục công dân
trong trường trung học phổ thông .......................5
1.1.2. Đặc thù tri thức môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông............8
1.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân
ở trường trung học phổ thông............12
1.2.1. Công nghệ thông tin............................................................................................12
1.2.1.1. Khái niệm công nghệ thông tin................................................................12
1.2.1.2. Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học môn
Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông...........16
2.2.3. Phương pháp thảo luận nhóm..............................................................................47
2.2.4. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (phương pháp tình huống).......49
2.3. Đẩy mạnh các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học .............50
2.3.1. Tăng cường các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin
trong đào tạo giáo viên môn Giáo dục công dân...............50
2.3.2. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng giáo viên nâng cao
kỹ năng ứng dụng Công nghệ thông tin..............52
2.3.3. Tổ chức những hội thi thiết kế bài giảng điện tử, trao đổi, thảo luận, chia sẻ
kinh nghiệm ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ........................................53
2.4. Một số kiến nghị trong việc ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học môn Giáo dục công dân ..............55
KẾT LUẬN ........................................................................................................................58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
XYZW
BGD & ĐT:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CNTT:
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
GAĐT:
Trang 1
MỞ ĐẦU
Tên đề tài:
U
Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn
Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Long
Xuyên, tỉnh An Giang.
1. Lí do chọn đề tài
Đã từ rất lâu, môn GDCD bị xem là "môn phụ" nên tình trạng học sinh học với
tinh thần uể oải, đối phó, hầu như không lắng nghe bài giảng, không ghi bài, ít phát
biểu là phổ biến, cộng thêm xu hướng ngày nay học sinh chạy theo các môn khoa học
tự nhiên ngày càng mạnh mẽ, nhất là học sinh ở thành thị, coi môn GDCD như một
môn điều kiện thi để qua. Tuy được xác định là môn học rất quan trọng trong trường
phổ thông nhưng trong thực tế lại chưa thật sự được quan tâm đúng mức cả trong việc
học tập và giảng dạy. Vì vậy, chất lượng học tập của học sinh còn nhiều hạn chế.
Nguyên nhân chủ yếu là do cách thức và phương pháp truyền đạt của giáo viên còn
hạn chế, xuất phát từ tính đặc thù của bộ môn.
Với quan điểm xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Những năm qua việc đổi
mới nội dung, chương trình sách giáo khoa được thực hiện khá đồng bộ. Việc đổi mới
nội dung, chương trình yêu cầu phải đổi mới PPDH. Đổi mới phương pháp dạy học
đòi hỏi phải sử dụng phương tiện dạy học phù hợp và CNTT là một trong những
phương tiện quan trọng góp phần đổi mới PPDH bằng việc cung cấp cho giáo viên
những phương tiện làm việc hiện đại. Cho đến nay, phải nói rằng không một ai nghi
ngờ về vai trò to lớn và những tác dụng kỳ diệu của CNTT trong các lĩnh vực của đời
sống. Trong giáo dục, việc ứng dụng CNTT trên thực tế cũng đã đem lại kết quả đáng
kể và những chuyển biến lớn trong dạy học, nhất là về PPDH.
GDCD là một môn học rất nhạy bén đối với những vấn đề xã hội, việc cung cấp
mà chưa đi sâu vào phân tích từng thực trạng cũng như đề ra cụ thể từng giải pháp
tương ứng với các thực trạng. Hoặc các đề tài nghiên cứu đi sâu, cụ thể nhưng chỉ
dừng lại ở phạm vi của từng chuyên môn, từng trường…chưa đáp ứng với quy mô phổ
biến và mang tính rộng rãi của đề tài.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo
dục công dân ở trường trung học phổ thông.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và
thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin, đồng thời đề ra giải pháp ứng dụng
công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD các trường trung học phổ thông trên
địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng và đề ra giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT trên địa bàn thành phố
Long xuyên, tỉnh An Giang nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Qua đó, bản
thân có thể ý thức được việc rèn luyện kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong
Trang 3
giảng dạy môn GDCD nhằm đổi mới phương pháp dạy học, chuẩn bị cơ sở vững chắc
cho công tác giảng dạy trong tương lai.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, tìm hiểu thực trạng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học môn GDCD ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An
Giang.
Thứ hai, trên cơ sở thực trạng, đề ra giải pháp để phát huy tính tích cực trong
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,
TỈNH AN GIANG
1.1. Đặc thù môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông
1.1.1. Vị trí và nhiệm vụ của môn Giáo dục công dân trong trường trung học
phổ thông
1.1.1.1. Vị trí của môn Giáo dục công dân trong trường trung học phổ thông
Trên cơ sở xác định mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển hài hòa,
toàn diện và tính chất xã hội chủ nghĩa của nền giáo dục, Điều 27 của Luật Giáo dục
(2005) nước ta xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển
toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản phát triển năng
lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh học
lên và tiếp tục đi sâu vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Trên cơ sở mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, Luật giáo dục của nước ta đã xác
định rõ mục tiêu của từng cấp học, bậc học. Trong đó, mục tiêu của cấp THPT là:
“Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của THCS, hoàn thiện học
vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có
điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại
học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi sâu vào cuộc sống lao động”.
Mục tiêu trên đã trở thành định hướng chỉ đạo cho toàn bộ các hoạt động của hệ
thống giáo dục quốc dân mà trước hết là thông qua quá trình dạy học các môn học ở
trường THPT, trong đó có môn GDCD. Liên quan đến vai trò và vị trí môn GDCD,
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (Khóa VIII) của Đảng đã nhấn mạnh “hết sức coi
trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực
thực hành…” nhằm “giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung và phương
pháp giáo dục – đào tạo”, góp phần phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
đến địa phương cần có nhận thức đúng vai trò vị trí và mục tiêu đào tạo của bộ môn
GDCD cấp Trung học phổ thông, có kế hoạch và các giải pháp tích cực nhằm không
ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, đồng thời cần tăng cường
công tác chỉ đạo bảo đảm chất lượng giảng dạy, giáo dục đạo đức và pháp luật trong
các trường Trung học phổ thông, đáp ứng yêu cầu “dạy người và dạy chữ, dạy nghề,
trong đó mục tiêu dạy người là quan trọng nhất” nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước”.
1.1.1.2. Nhiệm vụ của môn Giáo dục công dân trong trường trung học phổ
thông
Môn GDCD ở trường THPT có những nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất, trang bị cho học sinh hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức –
nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật.
Môn GDCD ở trường THPT là một hệ thống kiến thức liên quan đến nhiều lĩnh
vực như triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học,
đường lối, quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà nước, pháp
Trang 6
luật…Vì thế nhiệm vụ đầu tiên của môn học là phải trang bị và giúp học sinh nắm
vững hệ thống tri thức cơ bản, thiết thực của bộ môn.
Đối với Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan và
phương pháp luận khoa học (GDCD 10), giáo viên phải giúp cho học sinh nhận biết
được nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.
Hiểu được bản chất của thế giới là vật chất. Thế giới vật chất vận động và phát triển
theo những quy luật khách quan. Con người có thể nhận thức và vận dụng được những
quy luật ấy. Giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa hoạt động của chủ thể và
khách thể qua các mối quan hệ: Thực tiễn với nhận thức, tồn tại xã hội với ý thức xã
hội, con người là chủ thể của lịch sử và là mục tiêu phát triển của xã hội.
Đối với Phần thứ hai: Công dân với đạo đức (GDCD 10), giáo viên phải giúp
cho học sinh nắm vững một số phạm trù cơ bản của đạo đức học có quan hệ trực tiếp
Nhiệm vụ này được tập trung trong phần: Công dân với việc hình thành thế giới quan,
phương pháp luận khoa học (GDCD 10). Để thực hiện được nhiệm vụ này, trong quá
trình dạy học, giáo viên bộ môn không nên sa đà vào các khái niệm, phạm trù, nguyên
lý, quy luật triết học mang nặng tính chất hàn lâm, kinh điển. Thông qua việc dạy các
khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật, giáo viên phải hướng học sinh đến các ý
nghĩa về mặt phương pháp luận. Từ những ý nghĩa phương pháp luận rút ra sau mỗi
bài học, tiết dạy, học sinh sẽ tự liên hệ, rút ra những bài học cho bản thân, thông qua
đó giúp các em từng bước hình thành cho mình phương pháp luận khoa học.
Thứ ba, môn GDCD có nhiệm vụ góp phần giúp học sinh hình thành nhân sinh
quan tiến bộ.
Thông qua hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức - nhân văn, đường lối
chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật, môn GDCD giúp học sinh ý thức
được các giá trị của con người Việt Nam thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giúp
các em có được những hiểu biết đúng đắn về xã hội xã hội chủ nghĩa, về nhà nước xã
hội chủ nghĩa, về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, về các định hướng phát triển kinh tế xã hội, về vai trò và giá trị của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá
nhân, Nhà nước và xã hội. Học sinh có cái nhìn đúng đắn về thế giới và thời đại, về
con người và cộng đồng, về các hiện tượng khác nhau đang diễn ra trong đời sống.
Các em biết phân tích, đánh giá các hiện tượng xã hội theo quan điểm khoa học tiến
bộ, biết đấu tranh để ủng hộ và bảo vệ cái mới, cái tích cực và chống lại những cái tiêu
cực, lạc hậu, lỗi thời.
Thứ tư, trang bị cho học sinh những kỹ năng sống cần thiết
Trong quá trình dạy học môn GDCD, nhiều giáo viên bộ môn đã không hoàn
thành nhiệm vụ này. Nhiều giáo viên chỉ chú trọng đến việc truyền thụ tri thức trong
khi không chú ý đến việc giáo dục các kỹ năng sống cần thiết cho học sinh. Do đó, bài
học GDCD trở nên hàn lâm, đơn điệu, nhàm chán, không cuốn hút được học sinh,
không đạt được mục tiêu đề ra. Những kỹ năng trong các bài học GDCD như: giao
tiếp và ứng xử, tổ chức quản lý, hoạt động chính trị - xã hội, hợp tác và cạnh tranh
lành mạnh, định hướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, thích ứng với những
điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trước những biến động không ngừng của đời sống xã
hội,…hoặc những kỹ năng cụ thể hơn như quan hệ bạn bè, đồng chí, những cư xử
bài học GDCD bổ ích và hiệu quả.
1.1.2. Đặc thù tri thức môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông
Là môn khoa học xã hội ở trường THPT có vị trí, nhiệm vụ, mục tiêu riêng do
đó hệ thống tri thức của môn học GDCD có những đặc thù sau:
Thứ nhất, hệ thống tri thức môn GDCD ở THPT mang tính đa dạng, tổng hợp.
Đặc điểm này thể hiện ở cấu trúc nội dung chương trình cũng như ở từng bài học, từng
đơn vị kiến thức trong sách giáo khoa. Hệ thống tri thức của môn GDCD ở THPT
được tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, nhiều bộ môn khoa học khác nhau như triết học, đạo
đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối, quan điểm của
Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà nước, pháp luật học, mọi đơn vị kiến
thức lại có những nội dung liên quan đến các lĩnh vực, các môn khoa học khác nhau
như: dân số, môi trường, y tế, ngoại giao, quốc phòng, giới tính và sức khỏe sinh sản,
vật lý, sinh học, hóa học, lịch sử, địa lý, văn học…
Đặc thù nói trên đòi hỏi người giáo viên GDCD bên cạnh việc nắm vững hệ
thống tri thức triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, pháp luật học,
Trang 9
đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước phải nắm vững nội dung
liên quan ở những lĩnh vực, những bộ môn khoa học khác nhau. Người giáo viên
GDCD phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ, phải am hiểu nhiều lĩnh vực,
nắm vững và biết vận dụng kiến thức của các lĩnh vực, các bộ môn khoa học khác
nhau vào bài học GDCD.
Sự đa dạng của hệ thống tri thức cũng đòi hỏi người giáo viên GDCD phải sử
dụng một cách đa dạng và linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sau
cho phù hợp với đặc thù tri thức của từng phần, từng bài học GDCD.
Thứ hai, hệ thống tri thức môn GDCD ở THPT mang tính khái quát, trừu
tượng.
Tính khái quát, trừu tượng của hệ thống tri thức GDCD trước hết thể hiện ở
những nội dung, luận điểm được đề cập trong mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức.
phương tiện dạy học phù hợp với đối tượng để truyền thụ và giúp học sinh lĩnh hội
chính xác những nội dung của bài học. Việc tăng cường thực tiễn và đảm bảo tính vừa
sức trong dạy học luôn là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong dạy học GDCD, đặc
biệt là đối với những nội dung có tính khái quát, trừu tượng.
Thứ ba, hệ thống tri thức môn GDCD ở trường THPT mang tính thời sự.
Tri thức của tất cả các môn học điều gắn liền với thực tiễn cuộc sống ở những
góc độ và lĩnh vực khác nhau. Đối với môn GDCD, bên cạnh tính thực tiễn thì tri thức
của môn học luôn mang tính thời sự sâu sắc. Những tri thức của môn học dù khái quát,
trừu tượng hay cụ thể đều tập trung phản ánh những vấn đề, những hiện tượng đang
nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày. Những vấn đề thách thức của toàn cầu như bùng
nổ dân số, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường,…Ngay cả những nội dung khái quát, trừu
tượng như: Quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng
hóa, quy luật cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cung cầu trong
sản xuất và lưu thông hàng hóa…cũng đang hằng ngày, hằng giờ biểu hiện, tác động
trong mọi lĩnh vực của đời sống.
Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên GDCD phải luôn làm cho tri thức của bài
học bắt nhịp với cuộc sống đang đổi thay từng ngày. Để làm được điều đó, mỗi người
giáo viên GDCD phải có một tâm hồn nhạy cảm, biết cảm nhận, lắng nghe những đổi
thay của cuộc sống, biết nắm bắt, sàng lọc, cập nhật, phân tích và xử lý thông tin để
mang hơi thở của cuộc sống, của thời đại vào từng tiết học, bài dạy GDCD. Tuy nhiên,
nếu lạm dụng đặc thù này, giáo viên sẽ biến giờ học GDCD trở thành một giờ nói
chuyện thời sự.
Thứ tư, hệ thống tri thức môn GDCD ở trường THPT mang tính định hướng
chính trị sâu sắc.
Đối với môn GDCD ở trường THPT, mục tiêu dạy người - giáo dục để học sinh
trở thành một công dân có ích cho xã hội luôn được xác định là quan trọng nhất. Quá
trình giáo dục để học sinh trở thành những công dân có ích cho xã hội trước hết phải
bắt đầu từ việc giáo dục ý thức công dân, ý thức chính trị cho các em. Ở nhà trường
THPT nhiệm vụ này trước hết phải thuộc về môn GDCD. Do đó, hệ thống tri thức của
môn học luôn hướng vào việc giúp học sinh hình thành những thái độ, tình cảm công
nảy sinh trong cuộc sống hằng ngày của chính bản thân các em, trong quan hệ với bạn
bè, trong tình yêu, hôn nhân và gia đình, trong quan hệ cộng đồng…
Trong quá trình dạy học GDCD người giáo viên bộ môn phải nắm vững mục
tiêu về kĩ năng của từng bài, lựa chọn giới thiệu, trang bị cho học sinh những kĩ năng
cần thiết nhất. Khuyến khích các em mang những kĩ năng đó và thực hành và không
ngừng tự hoàn thiện ngay trong cuộc sống hàng ngày của chính các em. Trong quá
trình dạy học, người giáo viên GDCD không ngừng trải nghiệm, quan sát, học hỏi và
hoàn thiện chính mình. Một bài học GDCD thật sự là bổ ích là bài học mà ở đó mà
học sinh không chỉ học được những tri thức, tình cảm cần thiết mà các em còn học ở
đó cả sự trải nghiệm và những kĩ năng sống của chính người thầy.
Những đặc thù tri thức của môn GDCD nói trên biểu hiện khác nhau trong mỗi
bài học, mỗi đơn vị kiến thức khác nhau. Trước khi giảng dạy, người giáo viên bộ
môn cần nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung, đặc thù của từng bài học, từng tiết dạy,
từng đơn vị kiến thức để lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, nội dung
thông tin, tài liệu, phương tiện dạy học,…sao cho phù hợp và hiệu quả.
Trang 12
1.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở
trường trung học phổ thông
1.2.1. Công nghệ thông tin
1.2.1.1. Khái niệm công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay
là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin.
CNTT là một ngành kỹ thuật vận dụng tất cả các tiến bộ về khoa học, công
nghệ, điện tử, toán học, quản trị học… để thu thập, biến đổi, truyền tải, lưu trữ, phân
tích, suy luận, sắp xếp thông tin…phục vụ cho lợi ích của con người. Cụ thể như máy
tính, internet, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa…đều thuộc lĩnh vực của
CNTT.
Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính
để thực hiện các nhiệm vụ phức tạp theo yêu cầu của người sử dụng. Phần mềm của
máy tính được phân làm 2 loại: Phần mềm hệ thống (System Software) và phần mềm
ứng dụng (Applications Soffware).
Các loại máy tính: Máy tính lớn (Mainframe), Siêu máy tính (Super
Computer), Máy tính cá nhân PC (Personal Computer), Máy tính xách tay ( Laptop)
và Máy tính bỏ túi (Pocket PC)
Cấu tạo cơ bản của máy tính cá nhân có thể chia làm ba phần: Khối xử lí trung
tâm (CPU: Central Processing Unit), Bộ nhớ (Memory), Thiết bị vào/ra (Input/Output
device).
Ngày nay, máy vi tính có thể giải quyết được các nhiệm vụ cơ bản của quá
trình dạy học như: truyền thụ kiến thức, phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng thực hành,
ôn tập củng cố, kiểm tra đánh giá…là nhờ các chức năng lưu trữ, xử lí, cung cấp thông
tin, liên kết thông tin, minh họa, mô phỏng, điều khiển v.v..
Thứ hai, máy chiếu đa chức năng (máy chiếu Projector)
Máy chiếu đa chức năng là phương tiện dạy học mới được đưa vào sử dụng
trong những năm gần đây. Phương tiện này đã hỗ trợ đắc lực cho hoạt động dạy và
học của giáo viên và học sinh khi sử dụng công nghệ thông tin. Là một thiết bị xuất
hình ảnh hiện đại đi kèm với máy vi tính, máy chiếu Projector được thiết kế nhỏ gọn,
có thể treo cố định hoặc di động.
Thứ ba, một số phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn
GDCD
MS. Powerpoint là phần mềm tiện ích có thể tạo ra các công cụ trình diễn có
minh họa như các bản trình diễn (slide show) trên màn hình vi tính thể hiện dưới nhiều
dạng: Văn bản (text), đồ họa (graphics), ảnh chụp (image), hoạt ảnh (animation), dạng
video audio với màu sắc, hình ảnh đẹp, gây ấn tượng và hấp dẫn đối với học sinh.
PowerPoint được dùng để tạo các tờ rơi, áp phích, quảng cáo, các biểu mẫu đồ họa
trang trí đẹp mắt. Đặc biệt, với chức năng tạo các “Slide Show” hay còn gọi là các
“màn trình diễn”, Powerpoint được sử dụng rất nhiều trong việc tạo các báo các khoa
học, các bài trình bày đa phương tiện hấp dẫn. PowerPoint có thể ứng dụng trong dạy
học GDCD vì nó có một số ưu thế chủ yếu sau:
sử dụng và thiết kế Powerpoint như một công cụ hỗ trợ dạy học. Trường hợp nào sử
dụng phần mềm không hơn gì bảng đen và sách giáo khoa thì không nên dùng phần
mềm. Khi sử dụng phần mềm này, không nên quá lạm dụng các chức năng của nó để
trình diễn như dùng quá nhiều màu nền sặc sỡ, quá nhiều chữ, hình động, âm thanh
không thích hợp, làm cho bài dạy bị chi phối, học sinh ít tập trung nghe giảng mà chỉ
để ý đến màn hình.
Microsoft Frontpage là một phần mềm thiết kế web chuyên nghiệp của hãng
phần mềm Micrisoft. Phần mềm này được đi kèm với bộ Ofice XP, bao gồm những
tính năng vượt trội nhưng lại rất dễ sử dụng. Vì Frontpage biến việc thiết kế web đơn
giản như khi ta soạn thảo một văn bản trong Microsoft Word vậy.
Ngày nay, Internet và đặc biệt là Word Wide Web đã trở thành một dịch vụ
thông tin gắn chặt với đời sống kinh tế - xã hội. Trong giáo dục, việc truy cập thong
Trang 15
tin và tạo ra thông tin trở thành một công việc thường xuyên của thầy giáo và
học sinh. Chương trình Frontpage cho phép mọi người dễ dàng tạo ra các trang web
sinh động đầy màu sắc, đồng thời chuyển tải các trang đó lên mạng Internet một cách
thuận tiện nhanh chóng.
Nhờ những tiện ích của mình mà MS.Frontpage đã được ứng dụng trong quá
trình giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh. Sử dụng MS. FrontPage trong
giảng dạy môn GDCD, giáo viên sẽ cấu trúc bài giảng của mình như một website,
trong website có chứa những trang web mang nội dung bài giảng; các trang có thể
chứa nội dung của từng đề mục hay từng hoạt động dạy học. Các thư mục riêng dùng
để lưu giữ hình ảnh, phim, bài tập trắc nghiệm…tất cả các bài giảng được lưu cùng
một thư mục trên ổ đĩa cứng của máy tính.
Ngoài ra một trong những hiện tượng phổ biến hiện nay là sử dụng Internet
trong dạy học môn GDCD. Mạng internet là một kênh thông tin khổng lồ có khả năng
cung cấp thông tin vô cùng phong phú, đa dạng và nhiều nội dung. Khai thác internet
phục vụ cho dạy học sẽ mang lại nhiều hiệu quả thiết thực, cần thiết cho việc dạy học
một giáo viên mà đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng, tìm tòi và sáng tạo để
mang lại bài giảng hữu hiệu nhất. MS. Powerpoint là phần mềm phổ biến và mang lại
hiệu quả cao nhất khi các giáo viên ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD ở
các trường THPT.
1.2.1.2. Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công
dân ở trường trung học phổ thông
Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực công nghệ
thông tin đang thực sự tạo ra một cuộc cách mạng làm thay đổi bộ mặt đời sống xã
hội. Đặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục, việc từng bước ứng dụng công nghệ thông tin
vào quá trình giảng dạy đang được xem như là một hướng quan trọng góp phần đổi
mới PPDH theo hướng tăng cường hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng
nâng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, từ đó góp phần tích cực trong việc nâng
cao chất lượng đào tạo. Thực tế quan sát quá trình giảng dạy cho thấy, việc sử dụng
công nghệ thông tin mà chủ yếu làm một số phần mềm thông dụng như PowerPoint,
Fronpage để soạn các bài giảng điện tử sẽ hỗ trợ tốt cho việc giảng dạy và học tập.
Trong đó MS.PowerPoint được coi là một trong những phần mềm thông dụng và có
nhiều tiện ích, rất phù hợp cho việc thiết kế, trình diễn có hiệu quả các bài dạy GDCD
cho cả giáo viên và học sinh.
Đối với giáo viên
Do tính chất đặc thù của môn GDCD, là một môn học thuộc khoa học xã hội
nhân văn, chủ yếu cung cấp tri thức theo dạng lí thuyết với khối lượng lớn, do đó việc
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học bộ môn còn gặp nhiều khó khăn. Mặt
khác, hiện nay các phần mềm được thiết kế sẵn để phục vụ giảng dạy chuyên ngành
đang được triển khai rộng rãi, trong dạy học các môn khoa học tự nhiên xã hội, ngoại
ngữ, riêng đối với môn GDCD còn rất hạn chế. Tuy nhiên, khả năng ứng dụng công
nghệ thông tin và các thiết bị kĩ thuật phù hợp nhằm làm tăng chất lượng dạy học cũng
như tăng hứng thú của học sinh đối với môn học này ở nhà trường phổ thông là hết
sức khả thi. Thông qua việc ứng dụng CNTT, người giáo viên GDCD có thể khai thác
thông tin trên Internet và khai thác tốt các phần mềm công cụ một cách sáng tạo nhằm
nâng cao hiệu quả của bài dạy và môn học. Như giáo viên chuẩn bị bài dạy một lần thì
thiết đối với giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD, bởi GDCD là một môn học rất nhạy
bén đối với những vấn đề xã hội, việc cung cấp thông tin, liên hệ thực tế là một trong
những yêu cầu quan trọng xuất phát từ đặc trưng của bộ môn.
Qua đây giáo viên có điều kiện để học hỏi, tìm tòi nguồn tri thức mới, bản thân
mỗi người rèn luyện thêm chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao khả năng tiếp xúc và sử
dụng có hiệu quả CNTT vào trong quá trình giảng dạy của mình nhằm nâng cao chất
lượng hiệu quả của việc dạy học môn GDCD ở trường THPT.
Đối với học sinh
Khi giảng dạy có ứng dụng CNTT, nội dung bài dạy đã được giáo viên cô đọng
một cách ngắn gọn, xúc tích nhưng vẫn đảm bảo nội dung, cùng với nhiều hình ảnh, tư
liệu minh họa…đã đem lại những lợi ích thiết thực.
Trang 18
Thứ nhất, là cung cấp cho học sinh nhiều dữ liệu. Đặc biệt là các học sinh lớp
11, lớp 12, các em có thể tự tìm hiểu và sưu tầm nguồn dữ liệu phong phú từ CNTT,
chuẩn bị cho bài học, tăng cường ý thức tự học.
Thứ hai, giảng dạy bằng GAĐT sẽ phát huy tối đa trí tuệ của học sinh. Và ở đó,
học sinh sẽ tiếp thu bài một cách chủ động, có nhiều thời gian nghe giảng để đào sâu
suy nghĩ. Bên cạch đó, học sinh được tham khảo nhiều tình huống thực tế gần gũi với
đời sống hiện thực sẽ giúp các em dễ liên hệ và nhanh chóng tiếp thu được vấn đề.
Mặt khác khi môn GDCD ở trường THPT được truyền tải bằng ứng dụng
CNTT sẽ làm học sinh giảm đi suy nghĩ môn GDCD là một môn phụ, vì môn GDCD
cũng được đầu tư một cách kỹ càng và thiết thực hơn lại rất gần gũi với cuộc sống
hàng ngày. Đồng thời, cùng với việc tiếp thu bài học giáo án điện tử sẽ giúp cho học
sinh có điều kiện tiếp xúc hàng ngày với CNTT, làm quen với môi trường máy vi
tính…giúp học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành, có nghĩa là phần nào hình thành thói
quen làm việc khoa học, làm việc theo xu hướng thời đại - ứng dụng CNTT.
Tóm lại, với tác động của CNTT, môi trường dạy học cũng thay đổi, nó tác
động mạnh mẽ tới quá trình quản lý, giảng dạy, đào tạo và học tập dựa trên sự hỗ trợ
không phải là một công cụ để thay thế “bảng đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò
định hướng trong tất cả các hoạt động trên lớp.
Các đơn vị của bài học đều phải được Multimedia hóa. Multimedia được hiểu
là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông. Trong môi trường multimedia,
thông tin được truyền dưới các dạng: Văn bản (text), đồ họa (graphics), hoạt ảnh
(animation), ảnh chụp (image), âm thanh (audio) và phim video (video clip).
Với bài giảng điện tử, người thầy được giảm nhẹ việc thuyết giảng, tăng cường
đối thoại, thảo luận với người học, qua đó kiểm soát được người học. Người học được
thu hút, kích thích khám phá tri thức, có điều kiện quan sát vấn đề, chủ động nêu câu
hỏi và nhờ vậy quá trình học tập trở nên hứng thú, sâu sắc hơn.
* Cấu trúc cơ bản của một bài giảng điện tử môn GDCD
Cấu trúc cơ bản của một bài giảng điện tử GDCD được thể hiện qua sơ đồ sau:
BÀI GIẢNG
NỘI DUNG 1
LÝ THUYẾT
MINH HỌA
NỘI DUNG 2
LÝ THUYẾT
MINH HỌA
NỘI DUNG n
CỦNG CỐ VÀ DẶN DÒ
Sơ đồ 1. Cấu trúc cơ bản của một bài giảng điện tử GDCD
U
U