Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ
Môn Giáo dục công dân (GDCD) là một môn học hết sức quan trọng
và cần thiết, nhất là trong thời buổi kinh tế thị trường ngày nay thì môn
GDCD lại càng quan trọng hơn. Trong thời đại ngày nay, đồng tiền đã chi
phối các hoạt động của con người kể cả hoạt động đạo đức, nó đã làm cho
đạo đức nhiều người xuống cấp trầm trọng, làm cho con người không còn
giữ được những phẩm chất đạo đức, truyền thống quý báu của dân tộc Việt
Nam ta. Sự xuống cấp đạo đức đó đã len lỏi vào cả trường học và đang
ngày càng làm cho học sinh (HS) chúng ta quên đi những truyền thống đạo
đức quý báu của dân tộc Việt Nam ta. Chính vì vậy mà cần phải đẩy mạnh
giáo dục đạo đức cho HS để kịp thời uốn nắn các em trở thành một con
người tốt có ích cho xã hội.
Muốn làm được điều đó, chúng ta cần phải xem trọng môn GDCD và
nâng tầm quan trọng của nó lên trong chương trình giảng dạy ở nhà trường
phổ thông. Bởi vì môn GDCD là sự kết hợp giáo dục cho các em đạo đức
và pháp luật để các em sống vừa có đạo đức nhưng cũng vừa phù hợp với
Hiến pháp và Pháp luật của Việt Nam.
Qua thực tế giảng dạy tại trường Trung học cơ sở (THCS), tôi nhận
thấy môn GDCD còn có nhiều bất cập. Việc dạy học còn mang tính chất
thụ động, chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS, các em không có
hứng thú khi học môn GDCD vì môn học này mang tính cứng nhắc, khô
khan, nên hiệu quả dạy và học chưa cao chưa đáp ứng yêu cầu và nhiệm
vụ của môn học.
Hiện nay, do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, của những trò
chơi giải trí mang tính bạo lực rất nhiều. Trong khi đó, những trò chơi dân
gian, trò chơi truyền thống mang tính giáo dục cao càng ngày càng mai một
và ít được quan tâm. Cho nên đạo đức của HS ngày càng xuống cấp, các
em hay chơi những trò chơi có tính bạo lực, một số em hay đánh nhau, ăn
1
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay phù hợp với xu thế phát triển tiến bộ
của thời đại.
Vì vậy, để phát huy tính tích cực của HS trong giờ dạy GDCD, người
giáo viên (GV) cần tổ chức hướng dẫn HS hoạt động, tự chiếm lĩnh các tri
thức, tự chiếm lĩnh các giá trị, các chuẩn mực đạo đức, pháp luật thông qua
việc nắm tri thức, thực hành và rèn luyện trong và ngoài giờ học.
Việc giáo dục đạo đức và pháp luật cho các em không chỉ dừng lại để
các em kiểm tra bằng việc học thuộc lý thuyết mà phải để các em áp dụng
trong cuộc sống, trong giao tiếp, ứng xử của mình hàng ngày. Muốn có
hiệu quả GV cũng cần có những phương pháp dạy phù hợp. Đối với môn
GDCD, có rất nhiều phương pháp giúp các em có thể nhận thấy rõ ràng
những biểu hiện đạo đức và pháp luật trong cuộc sống. Trong nội dung
sáng kiến này, tôi chỉ nêu một vài phương pháp mà tôi thấy rất hiệu quả,
vừa giúp các em hứng thú trong học tập, vừa giúp các em nhận rõ biểu hiện
nhanh chóng nhất mà không cần nói những lý thuyết khô khan.
2. Nội dung cụ thể của sáng kiến:
3
2.1. Phương pháp sử dụng hình ảnh trực quan sinh động:
2.1.1. Khái niệm:
Là phương pháp sử dụng tranh ảnh nhằm giúp các em tái tạo, tái hiện
có sáng tạo những kiến thức trong bài.
2.1.2. Cách thực hiện:
Hình ảnh phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn GDCD là vô cùng đa
dạng, phong phú. GV có thể lấy từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau như: qua
sách vở, báo chí ti vi, mạng Internet, trao đổi với mọi người...
Để thuận lợi cho việc giảng dạy, GV nên phân loại tư liệu, sắp xếp
theo từng chủ đề khác nhau như: chủ đề về An toàn giao thông, phòng
dung học tập, gây hứng thú học tập ở HS, tạo điều kiện để GV thực hiện
đổi mới phương pháp dạy học, loại trừ khuynh hướng dạy chay làm cho các
giờ học khô khan, mang tính chất lý thuyết, áp đặt đối với HS. Ngoài ra nó
còn là nguồn cung cấp các chất liệu để HS khai thác nội dung học tập một
cách tích cực, tự giác, giúp các em phát triển được óc quan sát, trí tưởng
tượng, khả năng tư duy liên hệ thực tế, nhớ kỹ, hiểu sâu những điều thu
nhận được.
2.1.5. Lưu ý:
Để sử dụng tranh ảnh có hiệu quả, GV cần lưu ý những điểm sau:
Trước hết, GV phải có những am hiểu tình hình chính trị xã hội của
địa phương, đất nước, phải cập nhật thông tin trên đài truyền hình, đài phát
thanh, báo chí, trên mạng Internet để bổ sung những tranh ảnh, bài viết, số
liệu mới đảm bảo tính chính xác, cập nhập của bài giảng.
Cần xác định loại tranh ảnh sử dụng, tác dụng của nó đối với bài
giảng.
Hình ảnh phải “đắt” và phù hợp, phải đảm bảo tính thẩm mĩ.
Tranh ảnh phải được treo hoặc dán ở vị trí HS dễ quan sát, tốt nhất
nên treo trên bảng, phía trước mặt HS.
Trước khi cho HS quan sát, GV cần nêu rõ yêu cầu, nhiệm vụ, gợi ý
các nội dung chính cần tìm hiểu, GV nên mô tả, giải thích những chi tiết
trừu tượng, phức tạp trên tranh ảnh.
5
Cho HS thảo luận, phân tích nội dung, ý nghĩa, nhận xét, đánh giá sự
kiện, tình huống qua tranh ảnh, để rút ra những điều cần thiết liên quan đến
bài học.
Trong một giờ dạy, tránh sử dụng quá nhiều hình ảnh tạo nên sự
nhiễu thông tin của HS hoặc HS quá chú ý đến hình ảnh mà không chú ý
Cách tiến hành: GV dán lên bảng 1 bông hoa có 4 cánh và 1 nhuỵ
hoa. Mỗi cánh hoa tương ứng với 1 câu hỏi, cho HS chọn cánh hoa mà
mình thích, nếu trả lời đúng cánh hoa sẽ được mở ra, bên trong là đáp án.
Sau đây là một số câu hỏi có thể sử dụng trong trò chơi này:
Câu 1: Tên một danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở Quảng Ninh? (Đáp
án: Vịnh Hạ Long).
Câu 2: Năm 1911, từ nơi này, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường
cứu nước? (Đáp án: Bến Nhà Rồng)
Câu 3: Tên một ngôi chùa ở Hà Tây (nay là Hà Nội) có lễ hội dài
nhất trong năm? (Đáp án: Chùa Hương)
Câu 4: Trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam? (Đáp
án: Áo dài)
Sau khi HS trả lời xong, GV giới thiệu: Những địa danh như Vịnh Hạ
Long, bến Nhà Rồng, chùa Hương, áo dài ... đó chính là (GV mở nhuỵ hoa
có chữ di sản văn hoá) những di sản văn hoá của đất nước ta. Vậy để hiểu
thế nào là di sản văn hoá, cô và các em cùng tìm hiểu bài hôm nay.
Ví dụ 2: Khi dạy bài 7 “Đoàn kết, tương trợ” - (GDCD 7), đây là
một bài dạy mà chủ yếu là giáo dục các em về đạo đức, về sự đoàn kết gắn
bó để tạo nên sức mạnh tập thể. Có thể tổ chức một trò chơi có tên gọi là
“Đoàn kết”.
+ Khi Thầy hô “Đoàn kết, đoàn kết” thì các em đáp lại là “Kết mấy,
kết mấy”.
+ Khi Thầy hô “Kết 3, kết 3” thì các em liên kết lại thành 03 người
một nhóm.
+ Khi Thầy hô “Đoàn kết, đoàn kết” thì các em đáp lại là “Kết mấy,
kết mấy”.
7
8
thức nhanh hơn, mang lại hiệu quả giáo dục cao hơn, tạo cho các em một
cảm giác, một suy nghĩ “Mỗi ngày được đến trường là một ngày vui”.
Đồng thời phương pháp này cũng là một trong những cách phục hồi
những trò chơi dân gian của dân tộc, đưa vào trong HS, để từ đó giáo dục
các em biết yêu quí, gìn giữ và tôn trọng, phát huy những truyền thống quí
báu của dân tộc.
Khi tham gia trò chơi, HS được rèn luyện những kỹ năng, những
thao tác hành vi đạo đức giúp các em thể hiện được hành vi một cách đúng
đắn, tự nhiên, làm tăng khả năng giao tiếp cho bản thân. Bên cạnh đó, các
em sẽ vận dụng kiến thức đã học vào việc lựa chọn cho mình cách giải
quyết, ứng xử tình huống đúng đắn, phù hợp. Giúp HS rèn luyện được kỹ
năng sống cho bản thân và hình thành năng lực quan sát, được rèn luỵêṇ kỹ
năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác là phù hợp hay không phù
hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật.
Bằng trò chơi, việc luyện tập hành vi đạo đức được tiến hành một
cách nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan, nhàm chán, HS được lôi cuốn
vào quá trình học tập một cách tự nhiên làm nâng cao hứng thú học tập,
giúp các em giải trừ được những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập.
Như vậy, khi sử dụng phương pháp trò chơi cũng như các phương
pháp dạy học tích cực khác đã phát huy một cách tốt nhất tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh. Bồi dưỡng năng lực tự học, tự khám
phá, tự tìm hiểu, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ở học
sinh. Không chỉ thế, nó còn tác động trực tiếp đến tình cảm, thái độ đem lại
niềm vui, sự hứng thú học tập cho các em, làm cho các em cảm thấy thích
thú học tập, yêu môn học, yêu trường lớp hơn.
2.2.5. Lưu ý:
Trong giảng dạy GDCD không nhất thiết giờ nào cũng bắt buộc áp
vai giúp HS liên hệ đến các vấn đề liên quan một cách cụ thể để các em
phát huy vốn kinh nghiệm sống của bản thân để phân tích, lí giải, tranh
luận các tình huống, các sự kiện thực tế từ đó các em rút ra bài học và khắc
sâu kiến thức.
10
2.3.2. Cách thực hiện:
Trong môn GDCD, bài nào cũng có thể vận dụng phương pháp này
được. Phương pháp đóng vai có thể thực hiện dưới dạng hoạt cảnh tình
huống để giới thiệu bài hay để tìm hiểu phần đặt vấn đề, hoặc cũng có thể
dựng thành tiểu phẩm để củng cố bài học. Nghĩa là ở mỗi phần của bài học
chúng ta đều có thể sử dụng phương pháp đóng vai tùy theo nội dung và
mục đích của bài dạy.
Để phương pháp đóng vai thực sự có hiệu quả, cần tiến hành theo
các bước sau:
- Bước 1: GV giới thiệu tình huống có thể đóng vai một cách tương
đối đơn giản, không quá phức tạp (giới thiệu vào cuối tiết học trước để HS
chuẩn bị).
- Bước 2: Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công
sắm vai.
- Bước 3: Thứ tự các nhóm lên thể hiện kịch bản (tình huống).
- Bước 4: Các HS khác theo dõi, nhận xét, đánh giá, bổ sung (nếu
cần).
- Bước 5: GV chốt lại, nêu sự cố gắng của HS và rút kinh nghiệm.
Khi HS đã quen với phương pháp này, GV không cần đưa ra tình
huống có sẵn yêu cầu các em sắm vai theo nữa, mà chỉ cần đưa ra đề tài để
các em tự soạn tình huống và sắm vai theo tình huống các em soạn.
2.3.3. Một số ví dụ cụ thể:
khéo léo.
Ngoài các tình huống có thể đóng vai trong các bài học cụ thể, còn
có thể cho HS đóng vai trong các tiết với nội dung thực hành ngoại khoá
các vấn đề của địa phương và các nội dung đã học...
2.3.4. Tác dụng:
Sử dụng phương pháp đóng vai trong bộ môn GDCD sẽ có những tác
dụng sau:
Gây được hứng thú và sự chú ý cho HS.
Rèn cho HS tính mạnh dạn, tự tin khi đứng trước đông người.
12
Đóng vai giúp HS thực hành những kĩ năng trong môi trường an
toàn, được giám sát trước khi xảy ra các tình huống thực.
Khích lệ thay đổi thái độ, hành vi của HS theo hướng định trước. Ta
có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai
diễn.
Phương pháp đóng vai buộc GV và HS phải dành thời gian để chuẩn
bị bài trên lớp, điều đó sẽ nâng cao được hiệu quả giờ dạy, học bộ môn.
2.3.5. Lưu ý:
Để thực hiện được phương pháp sắm vai tốt, GV và HS cần có sự
chuẩn bị chu đáo từ trước.
Trong quá trình thực hiện cần thực hiện đúng quy trình thống nhất
theo một số bước như trên.
2.4. Phương pháp thảo luận nhóm:
2.4.1. Khái niệm:
Phương pháp thảo luận nhóm là GV tổ chức chia HS thành các nhóm
nhỏ (từ 5 đến 8 HS) để thảo luận những vấn đề của bài học dưới sự hướng
dẫn của GV.
phương pháp này HS tiếp thu bài tốt, hiểu bài và lớp học sôi nổi, các em rất
hứng thú học tập.
Ví dụ 2: Khi dạy bài 9: “Làm việc có năng suất, chất lượng hiệu
quả” - (GDCD 9), sau khi cho HS tìm hiểu truyện đọc trong phần đặt vấn
đề, GV chia HS thành 3 nhóm thảo luận 3 câu hỏi sau:
Nhóm 1: Em có nhận xét gì về việc làm của giáo sư Lê Thế Trung?
Nhóm 2: Em hãy tìm những chi tiết trong chuyện chứng tỏ giáo sư
Lê Thế Trung là người làm việc có năng suất chất lượng hiệu quả?
Nhóm 3: Việc làm của giáo sư Lê Thế Trung được nhà nước ghi
nhận như thế nào? Em học tập được điều gì ở ông?
Sau khi HS các nhóm thảo luận khai thác phần đặt vấn đề, GV cho
HS khái quát tìm hiểu nội dung bài học.
Với 3 câu hỏi này từng nhóm sẽ tập trung thảo luận và đưa ra ý kiến,
đại diện cho nhóm sẽ trình bày trước lớp, GV làm trọng tài và kết luận
thông qua ý kiến của các em.
14
2.4.4. Tác dụng:
Cách tổ chức lớp học áp dụng theo phương pháp này giúp HS tiếp
thu bài tốt, lớp học sôi nổi, các em rất hứng thú học tập. Nhờ không khí
thảo luận cởi mở nên HS, đặc biệt những em nhút nhát trở nên bạo dạn
hơn. Kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác của HS được phát triển.
Phương pháp này sẽ làm giảm bớt tính chủ quan, phiến diện làm tăng
tính khách quan khoa học cho HS. Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững dễ
nhớ và nhớ nhanh hơn, không khí lớp học thoải mái, HS tự tin hơn trong
việc trình bày ý kiến của mình và biết lắng nghe, phê phán ý kiến của các
thành viên khác. Ngoài ra còn phát huy tính tích cực của các em.
2.4.5. Lưu ý:
trong một tình huống cụ thể (thường là gương tốt), để từ đó GV hướng dẫn
HS phân tích. Nó giúp cho bài học GDCD đến với HS một cách tự nhiên,
nhẹ nhàng, sống động.
2.5.2. Cách thực hiện:
Có nhiều cách kể khác nhau:
- Kể diễn cảm.
- Kết hợp giữa lời kể của GV biểu diển minh hoạ của HS.
- Có thể kể chuyện với kết cục để mở và yêu cầu HS tự hoàn thiện
phần kết.
- Có thể kể chuyện theo nhóm (bắt đầu bằng một HS rồi những em
khác kể tiếp cho đến em cuối cùng kết thúc câu chuyện)….
2.5.3. Một số ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: Khi dạy bài 8 “Năng động sáng tạo” - (GDCD 9), GV có
thể kể cho học sinh nghe câu chuyện về “Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký” dù
bị liệt cả hai tay, phải viết bằng chân nhưng đã vượt qua khó khăn, vượt
qua số phận để trở thành “Nhà giáo ưu tú”. Hoặc câu chuyện về “Thần đèn
Nguyễn Cẩm Lũy” chỉ học hết tiểu học nhưng có “biệt tài” di dời các công
trình. Từ đó giúp học sinh có ý thức vươn lên trong cuộc sống, biết vượt
qua khó khăn, năng động, sáng tạo trong công việc vươn tới thành công, có
đóng góp cho xã hội.
Ví dụ 2: Khi dạy bài 6 “Hợp tác cùng phát triển” - (GDCD 9), có
thể kể về tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam và vai trò của Bác Vũ
16
Khoan và Bác Trương Đình Tuyển trong công tác đàm phám. Việc gia
nhập WTO có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với Việt Nam. Khẳng định vị thế
của Việt Nam trên trường quốc tế và trên con đường hội nhập.
2.5.4. Tác dụng:
Qua các câu chuyện người thật, việc thật đã giúp HS có ý thức vươn
bộ hơn trong học tập và đạo đức, các em ngoan hơn, lễ phép, biết làm điều
tốt tránh điều xấu, biết sửa sai khi phạm lỗi, và trong thực tế có những em
lấy cắp đồ bạn đã biết trả lại cho bạn.
Chất lượng bộ môn luôn đạt và vượt chỉ tiêu, năm sau cao hơn năm
học trước, thể hiện qua hai bảng thống kê so sánh kết quả môn GDCD năm
học 2011-2012 và năm học 2012-2013 của trường THCS Lâm Sơn:
Bảng 1: Bảng thống kê kết quả môn GDCD khối 6, 7, 8, 9
cuối năm học 2011-2012 của trường THCS Lâm Sơn
Khối
TS
6
7
8
9
Tổng
HS
50
44
42
36
172
Giỏi
SL
%
8
16,0
21,4
3
8,3
46 26,7
Yếu
SL
%
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
Bảng 2: Bảng thống kê kết quả môn GDCD khối 6, 7, 8, 9
cuối năm học 2012-2013 của trường THCS Lâm Sơn
Khối
TS
6
7
8
9
Tổng
47,6
14
34,1
83
48,0
Phần thứ ba
Trung bình
SL
%
10 25,6
13 25,5
11 26,2
07 17,1
41 23,7
KẾT LUẬN CHUNG VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận chung:
18
Yếu
SL
%
0
0
0
0
0
0
0
Tăng cường hơn nữa việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy về
trình độ, kĩ năng sử dụng các phương tiện hiện đại trong dạy học.
Đặt môn GDCD vào vị trí ngang tầm với các môn khác, thậm chí cần
phải được coi trọng, chú ý nhiều hơn vì đây là bộ môn góp phần quan trọng
trong việc giáo dục tình cảm, hình thành nhân cách ở người học.
19
Bộ Giáo dục và Đào tạo cần soạn thảo, in ấn nhiều tài liệu tham
khảo, hướng dẫn việc ứng dụng, khai thác các dữ liệu từ các nguồn thông
tin khác nhau để GV có thể tìm tòi tài liệu nhanh chóng và phù hợp cho
việc giảng dạy đạt hiệu quả hơn.
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ của tôi trong việc dạy-học môn
GDCD muốn chia sẻ với đồng nghiệp, do khả năng có hạn cho nên còn rất
nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp, bổ sung của các
đồng nghiệp.
Lâm Sơn, ngày 15 tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Quách Thị Thanh Huyền
20