Giáo trình lí luận và phương pháp dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học cơ sở - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

GIÁO TRÌNH
(Lưu hành nội bộ)

LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC
CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Tác giả: Th.s Lương Thị Lan Huệ

Năm 2017

1


MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở
TRƯỜNG THCS..............................................................................................
1.1 Một số khái niệm.
1.2 Vị trí, đặc điểm của môn GDCD ở trường THCS
1.2.1 Vị trí môn GDCD ở trường THCS
1.2.2 Đặc điểm môn GDCD ở trường THCS
1.3 Những điểm mới của chương trình môn GDCD ở trường THCS.
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THCS......
2.1.Khái niệm phương pháp, phương pháp dạy học
2.2 Thực trạng dạy học môn GDCD ở trường THCS
2.3. Đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD hiện nay và một số yêu cầu

4.3 Thiết kế các đề kiểm tra trong dạy học môn GDCD ở trường THCS
4.4. Hướng dẫn soạn giáo án và thực hành giảng dạy.......................

3


LỜI NÓI ĐẦU

Phương pháp giảng dạy vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Tính
khoa học thể hiện ở chỗ, giảng viên vần phải nắm bắt được nội dung kiến thức của
bài học để chuyển tải đến sinh viên, là một nghệ thuật nghĩa là giảng viên phải là
một bậc thầy về tâm lý và các kỹ năng sư phạm để linh hoạt xử lý tình huống trong
dạy học đồng thời hướng người học suy tư về nội dung bài học. Tóm lại, người
giảng viên đứng trên bục giảng cần có hai yếu tố cơ bản đó là nền tảng tri thức và
kỹ năng sư phạm. Để có được điều đó, đòi hỏi mỗi người dạy cần phải nghiên cứu
để luôn làm mới tri thức, sự hiểu biết của mình và trao dồi nghiệp vụ sư phạm.
Nhằm giúp sinh viên tiếp cận được những đổi mới và yêu cầu dạy học bộ
môn Giáo dục công dân, chúng biên soạn bài giảng: Lý luận và phương pháp dạy
học môn GDCD ở trường THCS. Nội dung bài giảng nhằm cung cấp cho sinh viên
một số kiến thức về vị trí, vai trò môn GDCD trong nhà trường phổ thông, những
yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình môn học, yêu cầu đối với sinh viên và
giảng viên khi nghiên cứu, học tập và giảng dạy môn học này và phương pháp dạy
học tích cực có tính phổ biến hiện nay. Hy vọng bài giảng sẽ là tài liệu nghiên cứu
bổ ích cho sinh viên chuyên ngành GDCT và GDCD.

Quảng Bình, tháng 6 năm 2017
Giảng viên

Lương Thị Lan Huệ




Môn GDCD vừa có vị trí thông thường của một môn học, vừa có vị trí đặc
biệt của nó.
Ở vị trí thông thường, môn GDCD được xếp ngang hàng với các môn khoa
học khác trong hệ thống các môn học. Nó có nhiệm vụ như các môn khoa học
khác: trang bị cho học sinh những tri thức, giáo dục tư tưởng, tình cảm, rèn luyện
kỹ năng, phát triển trí tuệ cho học sinh.
Ở vị trí đặc biệt, môn GDCD có những đặc điểm riêng mang tính đặc thù bộ
môn, khác biệt so với các bộ môn khác. Đó là môn GDCD cùng với các môn học
khác đều có nhiệm vụ giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh. Song môn GDCD
là môn học trực tiếp nhất về mặt này vì do đặc điểm kiến thức của nó. Nếu như các
môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội khác có nhiệm vụ là cung cấp các tri thức
về tự nhiên về xã hội thì môn GDCD thiên về cung cấp các tri thức, bài học đạo
đức làm người. Có thể nói môn GDCD là môn học giáo dục một cách hệ thống về
mặt tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh; Trực tiếp xây dựng tư tưởng, tình
cảm, thái độ, hành vi đạo đức, trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân với gia đình,
nhà trường, cộng đồng xã hội cho học sinh. Hiểu đúng tính đặc thù của bộ môn
GDCD sẽ giúp xác định tầm quan trọng của bộ môn , tránh việc coi nhẹ hay tầm
thường hóa bộ môn này. Người giáo viên giảng dạy GDCD không chỉ có nhiệm vụ
truyền đạt tri thức mà còn là người trực tiếp giáo dục tư tưởng, hình thành quan
niệm đạo đức, pháp luật cho học sinh.
1.2.2 Đặc điểm của môn GDCD ở Trường THCS
Thứ nhất, môn GDCD là môn học thay thế cho môn Chính trị-Đạo đức trước
đây. Đặc điểm cơ bản của nó là bao quát các kiến thức về đạo đứ và pháp luật. Tất
nhiên các kiến thức của nó rất đơn giản, như quan hệ ứng xử trong gia đình, hàng
xóm, cộng đồng dân cư, xã hội, các quyền công dân. Những kiến thức lớp 8, 9
bước đầu cung cấp những tri thức về pháp luật ở mức đơn giản nhất như quyền của
người công dân: quyền bất khả xâm phạm của con người về các mặt tự do, dân chủ
6



1.3 Những điểm mới của chương trình môn GDCD ở trường THCS
- Chương trình môn GDCD ở trường THCS được thực hiện với thời lượng:
+ Dạy các bài mới : 26 tiết.
+ Thực hành ngoại khóa: 3 tiết
+ Kiểm tra viết (45 phút): 2 tiết
+ Ôn tập học kỳ:

2 tiết

+ Kiểm tra học kỳ:

2 tiết
Cộng 35 tiết

- Chương trình GDCD THCS hiện nay còn mang tính hàn lâm, tham kiến
thức, một số nội dung chưa phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi. Ví dụ: Ví dụ lớp 7
các em phải nắm được nội dung như HS phải nắm hết kiến thức về quốc hội,
HĐND các cấp ở các bài về bộ máy nhà nước sau đó làm bài tập với các câu hỏi
muốn đăng ký tạm trú, kết hôn... phải đến những cơ quan nào? Hay như ở bài
Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo, các em phải nghe giảng về tình hình tôn giáo
ở Việt Nam, các đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước”.
Xu hướng đổi mới nội dung, chương trình môn GDCD ở trường THCS sau
năm 2015 là:
- Từ năm 2018 sẽ đổi mới căn bản giáo dục, đó là sự đổi mới căn bản, toàn
diện và sâu sắc về giáo dục. Đó là đổi mới nội dung chương trình, đổi mới phương
pháp giảng dạy, đổi mới cách thức tổ chức lớp học, đổi mới kiểm tra, đánh giá và
đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Trong đó,
chương trình giáo dục phổ thông mới (THCS và THPT) sẽ đa dạng hóa hình thức

áo quần cũ còn dùng được, đồ dùng học tập cho trẻ em vùng lũ thông qua tổ chức
công đoàn trường....
Ví dụ 3: Sau khi học bài: Dân chủ và kỷ luật (lớp 9) học sinh không đi học
muộn, không bỏ học tùy tiện, tham gia phát biểu, đóng góp ý kiến để xây dựng tập
thể lớp vững mạnh.

9


CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở
TRƯỜNG THCS (5 tiết)
2.1 Khái niệm phương pháp, phương pháp dạy học
Danh từ phương pháp theo nghĩa gốc chữ Hy Lạp là Metod nghĩa là con
đường, phương tiện hay phương thức hành động để đạt đến mục đích nào đó. Theo
nghĩa chung nhất, phương pháp được hiểu là phương thức giúp chúng ta tìm hiểu
sự vật hiện tượng, nhận thức được đối tượng. Với ý nghĩa đó, trong hoạt động thực
tiễn và nhận thức, con người cần nắm lấy phương pháp tối ưu nhằm đạt được hiệu
quả một cách nhanh nhất, đúng đắn nhất.
. Phương pháp giữ vai trò rất quan trọng, có tính chất quyết định tới hiệu quả
của con người trong hoạt động.
"Với một phương pháp tốt, một tài năng vừa phải, có thể làm được nhiều
việc. Còn đối với một phương pháp không tốt thì ngay cả thiên tài cũng sẽ không
được gì và cũng không có thành tựu gì có giá trị và chính xác" (V.I.Paplôp)
Phương pháp gồm 2 mặt:
Mặt chủ quan: Con người là chủ thể sáng tạo và sử dụng phương pháp.
Phương pháp là sản phẩm của hoạt động nhận thức của con người.
Mặt khách quan: Để sáng tạo, vận dụng phương pháp đạt hiệu quả phải xuất phát
từ khách thể trong hiện thức khách quan, phù hợp với quy luật, hoàn cảnh khách
quan và đối tượng tác động.
Phương pháp dạy học

đề ra các biện pháp tác động phù hợp với từng đối tượng, từng nhóm học sinh và
điều chỉnh phương pháp nội dung bài giảng của mình. Người ta nói ví von rằng,
nếu bạn là một người thợ xây, bạn có hộp đồ nghề. Trong hộp đồ nghề có đầy đủ
tất cả các vật dụng cần thiết, người thợ xây sẽ suy nghĩ để sử dụng đúng công dụng
của từng đồ vật khác nhau. Tương tự như vậy, trong giảng dạy có rất nhiều
phương pháp. Người giáo viên phải có nền tảng kiến thức, nắm vững các phương
pháp giảng dạy để vận dụng linh hoạt và có hiệu quả.
Khái niệm về hoạt động học
11


Như thế nào là học
Có ba quan điểm về học, cụ thể như sau:
Một là, học là công việc của người học chứ không phải là việc của người
dạy.
Hai là, mỗi cá nhân sẽ được gọi là học nếu nếu bản thân họ đưa ra cách trả
lời và khi đó, họ đã đối phó được với việc học, còn khi họ sao chép từ sách hay từ
kiến thức của giáo viên thì không phải là học (chỉ là quá trình chuyển giao). Đó là
quá trình dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Ba là, học tích cực người học có cơ hội học tập, họ muốn học, nội dung bài
học là những cái lôi cuốn họ.
Người ta học tốt nhất khi nào?
Khoa phương pháp giảng dạy trường Đại học New England cho rằng, có 10 điều
để học tốt:
+ Kiến thức trước đây của mỗi cá nhân được liên kết.
+Giáo viên phải nắm được kiến thức có sẵn vè các lĩnh vực của học sinh.
+Khi người học được thảo luận vấn đề họ hiểu với người khác
+Khi người học được tạo động cơ học, họ thích học và bị cuốn hút vào việc
học
+Khi người học cảm thấy thoải mái trước việc đương đầu với thử thách

sinh viên thói quen tự học, tự nghiên cứu. Hậu quả là làm triệt tiêu tính tự giác, tích
cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên trong học tập, hiệu quả và dạy học không cao
và tầm vĩ mô thì chi phí đào tạo không hiệu quả.
Thứ hai, nhiều giáo viên chưa đầu tư, chưa tỏ ra linh hoạt trong vận dụng
phương pháp dạy học tích cực dẫn đến chất lượng bài dạy chưa cao
Một số giáo viên sử dụng phương pháp dạy học tích cực chủ yếu thảo luận
nhóm, phương pháp hỏi đáp nhưng chưa đầu tư xây dựng hệ thống câu hỏi dẫn đến
lên lớp đặt câu hỏi tùy tiện như câu hỏi quá dễ, quá khó, quá dài, nội dung nào
cũng nêu câu hỏi dẫn đến mục tiêu bài dạy không đạt được. Mặt khác, khi học sinh
13


trả lời câu hỏi, giáo viên không có thói quen nhận xét, đánh giá, khích lệ, động
viên. Do đó, không phát huy được hiệu quả trong dạy học. Các hình thức thảo luận
rập khuôn, máy móc, chưa chú ý đến sự tham gia tích cực của các thành viên nhóm
dẫn đến nhiều học sinh quan niệm giờ thảo luận cũng là giờ nghỉ giải lao.
Thứ ba, trong giảng dạy việc liên hệ thực tiễn của giáo viên còn có nhiều bất
cập.
Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, một bộ phận giáo
viên chưa chú trọng liên hệ thực tiễn, thông tin mới chưa được cập nhật kịp thời, lý
giải các vấn đề thực tiễn đôi khi chưa thấu đáo dẫn đến bài giảng đơn điệu, sáo
rỗng, nhàm chán. Như trên đã viện dẫn, Lý luận chính trị là tổ hợp các môn học
mang tính lý luận cao song lý luận tự bản thân nó là sự tổng kết thực tiễn, vì vậy
nếu trong giảng dạy giáo viên không gắn lý luận với thực tiễn thì bài dạy sẽ không
có tính thuyết phục cao.
- Về phía học sinh
Thứ nhất, hầu hết học sinh chưa có phương pháp học tập có hiệu quả. Nhiều
học sinh quan niệm, học là khi học sinh lắng nghe giáo viên giảng bài, ghi chép bài
và làm bài tập đầy đủ. Quan niệm về học như vậy là chưa đầy đủ. Thực chất của
việc học là tự đặt ra câu hỏi và tự trả lời. Ngoài học ở trên lớp, về nhà học sinh

Thứ ba, phần lớn học sinh chưa có kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ trong học tập
môn GDCD. Kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp thông qua cử chỉ, hành
động của cơ thể như nét mặt, điệu bộ, cử chỉ, hành động. Những hình thức giao
tiếp này đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình giao tiếp, chuyển tải thông
tin. Ví dụ, khi học sinh thuyết trình nội dung thảo luận của nhóm hoặc bài tập cá
nhân nếu sử dụng các động tác, cử chỉ, điệu bộ bổ trợ để biểu lộ, minh hoạ cho bài
thuyết trình của mình ngay lập tức sẽ thu hút sự chú ý, quan tâm của cả lớp. Đồng
thời nó cũng chứng tỏ sự tự tin, cái tôi trong quá trình học tập của học sinh. Khác
với các bộ môn khoa học khác, GDCD được xem là một môn học mang khô khan,
khó so với tư duy của học sinh. Vì vậy, khi trả lời câu hỏi, hay thuyết trình bài tập
thảo luận nhóm học sinh tỏ ra rất căng thẳng. Hầu hết học sinh chưa có kỹ năng
15


giao tiếp phi ngôn ngữ, chủ yếu sử dụng thuần tuý ngôn ngữ nói, đọc để thuyết
trình dẫn đến hiệu quả giờ thảo luận chưa cao. Ví dụ, khi lên bảng trình bày thay vì
nhìn xuống lớp để trao đổi thông tin thì một số học sinh quay mặt về phía giảng
viên, đứng nghiêm tỏ vẻ lo lắng, sợ sệt. Một số em trình bày theo kiểu học thuộc
làm cho người nghe nhàm chán. Nguyên nhân của hạn chế này có thể là do tố chất
của một số học sinh nhút nhát, không tự tin khả năng của mình, hoặc do chưa nắm
được nội dung bài học cần chuyển tải, do bí từ diễn đạt, do ức chế tâm lý như đứng
trước đám đông. Những hạn chế trên đang là rào cản lớn trong việc thực hiện
phương pháp dạy học tích cực-Lấy người học làm trung tâm.
Thứ tư, đa số học sinh gặp khó khăn trong việc sưu tầm, lựa chọn ví dụ minh
họa và dẫn dắt vấn đề lý luận. Lựa chọn ví dụ nào để minh họa một cách cụ thể
sống động, dễ hiểu, vừa mang tính thời sự, thực tiễn vừa giải quyết được nội dung,
mục tiêu bài học đặt ra là một thách thức đối với học sinh. Hầu hết, các em tỏ ra
không tự tin với những ví dụ do mình sưu tầm nên chủ yếu dựa vào những ví dụ có
sẵn trong sách tham khảo làm cho phương pháp và cách thức tiếp cận kiến thức
còn nghèo nàn, đơn điệu, thiếu tìm tòi, sáng tạo.

giáo viên cũng giống như người thợ xây, người thợ xây muốn xây tầng 1 lên tầng 2
cần có giàn giáo, dạy học cũng vậy, hệ thống câu hỏi phải từ thấp đến cao, đối với
câu hỏi khó cần có bắc giàn, có gợi ý).
Tích cực vận dụng phương pháp dạy học tích cực, các phương tiện dạy học
hiện đại, biết cách khai thác thông tin để ứng dụng bài giảng sinh động hơn.
Xây dựng và thực hiện kế hoạch theo định hướng phát triển năng lực, chú
trọng giáo dục đạo đức, giáo dục giá trị lối sống, rèn luyện kỹ năng sống, hiểu biết
xã hội, thực hành pháp luật.
Bài giảng luôn được bổ sung mới theo hướng phát triển năng lực học sinh.
Chú ý tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực của học sinh. Chú trọng các hoạt
động sáng tạo, trải nghiệm của học sinh. Ngoài việc tổ chức cho học sinh thực hiện

17


các nhiệm vụ dạy học ở trên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn học
sinh học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường.
Tiếp tục đổi mới kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu nâng cao vận dụng kiến
thức liên môn vào thực tiễn, cần tăng cường các câu hỏi mở, gắn với thực tiễn địa
phương và cuộc sống các em để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các
vấn đề kinh tế -xã hội. Chú ý hướng dẫn học sinh đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá
bản thân, năng lực của mình.
Tăng cường bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và đổi mới sinh hoạt tổ chuyên
môn
+ Đối với học sinh
Tích cực chủ động trong học tập, học là phải động não, biết vận dụng và có
ý thức thực hiện các chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật đã được học.
Học sinh phải quán triệt hai nguyên tắc học mới:
Học là việc của người học chứ không phải của người khác.
Học là tự trả lời câu hỏi còn việc sao chép từ sách này qua sách khác là cách

nội dung bài học một cách khoa học nhất.
- Khi dạy về chủ đề đạo đức, giáo viên phải trả lời ba câu hỏi lớn :
+ Nội dung của chuẩn mực đạo đức (nói về cài gì), khai triển được nội dung bài
học.
Ví dụ : Khai thác nội dung : Sống cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư (lớp
7) Giáo viên phải hiểu được ý nghĩa của từng chuẩn mực. Chẳng hạn : Cần tức là
cần cù, siêng năng, chịu khó nhưng cần cù phải có tri thức phải có hiệu quả. Lênin
cho rằng : « Nhiệt tình cộng vô học bằng phá hoại » Khổng Tử cho rằng, người có
nhân phải có trí có dũng, người có trí không nhầm lẫn, người có dũng không sợ
hãi. Kiệm là tiết kiệm, không chỉ tiết kiệm tiền bạc mà còn tiết kiệm thời gian,
công sức, không chỉ tiết kiệm cho bản thân mà còn tiết kiệm cho người khác, cho
19


cộng đồng, xã hội. Tiết kiệm khác với hà tiện. Tiết kiệm trên cơ sở chi tiêu hợp lý,
không phung phí, còn hà tiện là keo kiệt, bủn xỉn. Con người chúng ta nên tiết
kiệm chứ không nên hà tiện. Liêm chính tức là chính trực, ngay thẳng, không tham
lam, không làm điều xấu trái với luân thường đạo lý. Chí công vô tư là người làm
việc vì lợi ích của tập thể, không so đo, tính toán, làm ơn nhưng không lấy cớ đó
để bắt buộc khác phải trả ơn công lao của mình. Người chí công vô tư là luôn công
bằng, không thiên vị, làm việc theo lẽ phải. Phẩm chất sống cần, kiệm, liêm chính
chí công vô tư là một phẩm chất cần rèn luyện đối với mọi người trong xã hội vì nó
góp phần hình thành và phát triển nhân cách của con người theo hướng chân, thiện,
mĩ, là điều kiện để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người. Từ
những chuẩn mực này giáo viên có thể lấy ví dụ trong sử học trong văn học, thơ ca
hoặc ltrong cuộc sống đời thường để minh họa, yêu cầu học sinh lấy ví dụ thực tế
trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của các em.
Ví dụ : Khai thác nội dung bài : Tự tin (lớp 7)
Giáo viên giải thích khái niệm tự tin : Tự tin là tin vào khả năng bản thân, giám tự
quyết định và hành động một cách chắc chắn, làm việc có kế hoạch và chủ động

Điều 44 Quy định : công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ
quốc là tội nặng nhất. Điều 45 ghi rõ : Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và
quyền cao quý của công dân. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham
gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Đồng thời, công dân có nghĩa vụ tuân theo
Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và
chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng.
+ Ý nghĩa và sự cần thiết phải rèn luyện chuẩn mực đạo đức đó.
VD : Người có đức tính tự tin sẽ làm việc chủ động, có hiệu quả, tự khẳng định
mình trong một tập thể.
21


+ Phương pháp, cách thức để rèn luyện chuẩn mực đạo đức.
Khi dạy Phần pháp luật, giáo viên phải nắm được các nội dung cơ bản :
+ Hiểu các khái niệm các chuẩn mực pháp luật thể hiện trong bài học. Nội
dung quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân liên quan
đén bài học, gồm:
Công dân được làm gì? (có quyền gì?)
Công dân phải làm gì? (có nghĩa vụ gì?)
Công dân không được làm gì? (những điều nghiêm cấm). Ví dụ trong kinh
doanh, công dân có quyền tự d lựa chọn ngành nghề, quy mô, hình thức tổ chức
kinh doanh, có nghĩa vụ phải kê khai và phải đóng thuế cho Nhà nước, không được
kinh doanh những ngành nghề, những mặt hàng mà Nhà nước cấm.
+ ý nghĩa của việc thực hiện các chuẩn mực pháp luật trong cuộc sống của cá
nhân, gia đình và sự phát triển xã hội. Ví dụ thực hiện đúng những quy định của
pháp luật về hôn nhân sẽ bảo đảm cuộc sống hạnh phúc của cá nhân, gia đình làm
cho môi trường xã hội lành mạnh, phát triển vì gia đình là tế bào của xã hội, gia
đình hạnh phúc thì dẫn đến xã hội văn minh.
+Trách nhiệm của công dân, học sinh trong việc thực hiện các quy định của
pháp luật, phương hướng và cách rèn luyện để thực hiện tốt những chuẩn mực

2.5.2. Nguyên tắc tính đảng
Nguyên tắc tính Đảng trong giảng dạy môn giáo dục công dân là sự bảo vệ
những luận điểm khoa học của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối chính trị đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm xây dựng đất
nước ngày càng phồn vinh, phát triển. Nguyên tắc tính Đảng không chỉ thể hiện ở
mặt lý luận mà còn thể hiện cả mặt thực tiễn. Do bản chất nội dung của mình, môn
giáo dục công dân mang tính Đảng rõ rệt hơn bất cứ bộ môn khoa học nào. Nguyên
tắc tính Đảng càng trở nên đặc biệt quan trọng trong thời đại ngày nay khi cuộc
đấu tranh giữa hệ tư tưởng củc giai cấp công nhân và hệ tư tưởng của giai cấp tư

23


sản đang trở nên gay gắt, các trào lưu tư tưởng phản động đang tìm mọi cách để
xoá bỏ các thành tựu cách mạng của ta.
Đảm bảo nguyên tắc tính đảng trong giảng dạy môn giáo dục công
dân là sự đóng góp có hiệu quả nhất, thiết thực nhất vào việc bảo vệ và phát triển
những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Bồi
dưỡng tinh thần yêu nước, cũng cố niềm tin vào Đảng, vào chế độ chủ nghĩa xã hội
mà Đảng và nhân dân ta đã chọn. Thực hiện nguyên tắc này, trong dạy học đòi hỏi:
+ Người giáo viên cần có lập trường tư tưởng chính trị vũng vàng, có tinh
thần yêu nước, có lòng tự hào tự cường dân tộc.
+ Đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
phê pháp, đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong cuộc sống, những tư
tưởng phản động, chống phá cách mạng.
+ Hiểu biết sâu sắc những vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra.
2.5.3. Nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn
Thực chất của nguyên tắc này là làm cho việc giảng dạy và học tập môn giáo
dục công dân gắn liền với cuộc sống sinh động của xã hội. Đây cũng là một yêu
cầu tất yếu đối với việc truyền thụ kiến thức bộ môn này cho học sinh. Mặt khác,

ra nhờ hoạt động vật chất của bộ não, bao giờ cũng phải phù hợp với những quy
luật tâm sinh lý của con người, sự chuyển hoá giưuax các quá trình hưng phấn và
ức chế của hệ thần kinh trung uwowng và đồng thời không vượt quá giới hạn quy
định (ngưỡng) của các kích thích, nhờ đó con người có sự phản ứng với ngoại
cảnh. Vì thế, nếu đòi hỏi một cường độ học tập quá cao sẽ làm cho học sinh căng
thẳng, mệt mỏi trong quá trình lĩnh hội tri thức.
Khi giảng dạy, giáo viên phải xác định được mục tiêu của môn học, đặc
điểm tâm sinh lý của học sinh, lựa chọn những cách thức truyền đạt phù hợp.
Trong khi biên soạn chương trình, sách giáo khoa các tác giả đã phải căn cứ
vào đối tượng học sinh, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, trình độ của học sinh, thời
gian hợp lý dành cho bộ môn. Đó chin hs là chỗ dựa vững chắc cho giáo viên bộ

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status