TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA SINH HỌC
NGUYỄN THỊ HẠNH
VẬN DỤNG DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG CẢM ỨNG
– SINH HỌC 11 THPT.
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học Sinh học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN THỊ THANH HỘI
HÀ NỘI, 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu
sắc đến cô giáo, người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Thị Thanh Hội đã luôn
tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong
bộ môn Lí luận và Phương pháp dạy học Sinh học cũng như trong khoa Sinh
học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu
và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại
trường.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo và
các em học sinh trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai – TP. Hà Nội đã nhiệt tình
giúp đỡ và tạo điều kiện cho em điều tra trong quá trình nghiên cứu khóa luận
và thực nghiệm đề tài.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên,
giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài này.
Hà Nội, tháng năm
Tác giả
Nguyễn Thị Hạnh
2
MỤC LỤC
Hình II.1: Sơ đồ quy trình xây dựng tình huống có vấn đề 35
Hình II.2: Sơ đồ quy trình rèn luyện NL PH và GQVĐ 43
Hình III.1: Đồ thị tần suất cộng dồn các điểm trong thực nghiệm 67
Hình III.2: Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra của nhóm lớp TN và ĐC sau thực
nghiệm 68
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
là một trong những nhiệm vụ chiến lược của sự nghiệp đổi mới nền giáo dục nước
ta hiện nay. Hội nghị lần thứ VI - Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã kết
luận về công tác giáo dục - đào tạo, trong đó có nhấn mạnh: "áp dụng những
phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh những năng lực tư duy
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề". Điều 28 Luật Giáo dục nước ta (2005) cũng
nhấn mạnh: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”.
Một trong những định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy là đề cập đến
việc dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ
thống và có tư duy phân tích tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân,
tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của người học. Đặc biệt việc đổi mới chú
trọng đến đào tạo ra những con người có năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề.
Bởi lẽ do yêu cầu của nền kinh tế xã hội ngày càng thay đổi nhanh chóng đòi hỏi ở
mỗi con người phải có năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề để giải quyết tốt
những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống mới thích ứng, tồn tại và phát triển được.
Dạy học “Giải quyết vấn đề” là một cách tiếp cận phương pháp dạy học tích
cực trong đó trọng tâm của hoạt động dạy là "sáng tạo" ra các tình huống có vấn đề
và trọng tâm của hoạt động học là học sinh chủ động, tích cực giải quyết các vấn đề
để tìm ra trí thức. Dạy học giải quyết vấn đề còn giúp HS rèn luyện năng lực phát
hiện và giải quyết vấn đề - một năng lực cần thiết cho mỗi con người trong cuộc
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng
Dạy học giải quyết vấn đề và vận dụng dạy học giải quyết vấn đề trong dạy
học chương cảm ứng - sinh học 11 THPT.
5.2. Khách thể
Học sinh lớp 11 THPT.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng dạy học giải quyết vấn đề vào dạy học chương cảm ứng sẽ nâng
cao hiệu quả học tập và rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện và giải quyết vấn
đề trong dạy học chương Cảm ứng - Sinh học 11 THPT.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu tổng quan về tài liệu lí luận dạy học có liên quan, đặc biệt là các
tài liệu về dạy học giải quyết vấn đề để xây dựng cơ sở lí thuyết cho việc vận dụng
vào dạy học chương Cảm ứng - Sinh học 11.
7.2. Phương pháp điều tra cơ bản
Điều tra thực trạng việc dạy học Cảm ứng và việc vận dụng dạy học giải quyết
vấn đề ở trường THPT thông qua việc dự giờ thăm lớp, toạ đàm với giáo viên và
học sinh.
7.3. Phương pháp tham vấn chuyên gia
Sau khi xây dựng và chọn lọc các hoạt động dạy học vận dụng dạy học giải
quyết vấn đề sẽ tham khảo ý kiến của một số giảng viên, giáo viên có kinh nghiệm.
7.4. Phương pháp thống kê toán học
8. Dự kiến những đóng góp mới của đề tài
- Xây dựng tình huống có vấn đề chương Cảm ứng - Sinh học 11 theo dạy học giải
quyết vấn đề.
- Thiết kế các giáo án chương Cảm ứng - Sinh học 11 theo dạy học giải quyết vấn
đề.
- Thiết kế tiêu chí đánh giá năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho HS.
9. Cấu trúc đề cương nghiên cứu
Như vậy, việc DHGQVĐ được hiểu là một cách tiếp cận mới trong lĩnh vực
phương pháp dạy học đang phát triển hiện nay, nó bao gồm một tổ hợp các phương
pháp dạy học, trong đó việc xây dựng các tình huống có vấn đề giữ vai trò trung
tâm và giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo các hoạt động học tập tích
cực, chủ động của học sinh để giải quyết vấn đề nhằm đạt được các mục tiêu dạy
học.
Trong DHGQVĐ thì tình huống có vấn đề đóng vai trò trung tâm, là hạt nhân
của DHGQVĐ với hai hoạt động chính là: Xây dựng các tình huống có vấn đề và
giải quyết các tình huống có vấn đề để rút ra tri thức.
1.1.2. Mục tiêu của dạy học giải quyết vấn đề
Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề hướng đến các mục tiêu tổng quát sau:
- Về nhận thức: giúp người học có cơ hội nắm chắc kiến thức theo chiều rộng lẫn
chiều sâu. Điều này có được là do trong quá trình tìm hiểu và giải quyết vấn đề,
người học hoàn toàn chủ động trong việc xác định những nội dung có liên quan để
nghiên cứu, tìm hiểu, và vận dụng.
- Về kỹ năng: giúp người học phát triển năng lực đọc tài liệu, kỹ năng nghiên cứu
khoa học, kỹ năng giải quyết vấn đề, các kỹ năng xã hội như: làm việc nhóm,
thuyết trình, tranh luận, thương lượng, … Những kỹ năng này được hình thành
trong quá trình người học nghiên cứu, vận dụng tài liệu, làm việc cùng với nhóm để
giải quyết vấn đề và sau đó là trình bày kết quả trước tập thể lớp.
- Về thái độ: giúp người học cảm thấy gắn bó và yêu thích môn học và sự học, thấy
được những giá trị của hoạt động nhóm đối với bản thân. Sự thay đổi về thái độ
như vậy sẽ diễn ra từng bước theo quá trình phát triển của phương pháp dạy học
nếu được tổ chức có hiệu quả.
1.1.3. Đặc điểm của dạy học giải quyết vấn đề
- Vấn đề là bối cảnh trung tâm của hoạt động dạy và học
Có thể nói rằng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề đảo lộn thứ tự của hoạt
động dạy và học nếu so với các phương pháp truyền thống ở đó thông tin được GV
trình bày từ thấp đến cao theo một trình tự nhất định, và người học sẽ chỉ được tiếp
cận với một vấn đề cần được lý giải (nếu có) một khi họ đã được trang bị đầy đủ
- Người học được rèn luyện các kĩ năng cần thiết
Thông qua hoạt động tìm kiếm thông tin và lý giải vấn đề của cá nhân và tập
thể, người học được rèn luyện thói quen/kĩ năng đọc tài liệu, phương pháp tư duy
khoa học, tranh luận khoa học, làm việc tập thể… Đây là những kĩ năng rất quan
trọng cho người học đối với công việc sau này của họ.
- Người học được sớm tiếp cận những vấn đề thực tiễn
Giáo dục của ta bấy lâu nay thường bị phê phán là xa rời thực tiễn. Phương
pháp này có thể giúp người học tiếp cận sớm với những vấn đề đang diễn ra trong
thực tế có liên quan chặt chẽ với chuyên ngành đang học; đồng thời họ cũng được
trang bị những kiến thức, kĩ năng để giải quyết những vấn đề đó.
- Bài học được tiếp thu vừa rộng vừa sâu, được lưu giữ lâu trong trí nhớ người học
Do được chủ động tìm kiếm kiến thức và vận dụng kiến thức để giải quyết vấn
đề, người học có thể nắm bắt bài học một cách sâu sắc và vì vậy họ nhớ bài rất lâu
so với trường hợp tiếp nhận thông tin một cách thụ động thông qua nghe giảng
thuần túy.
- Đòi hỏi giáo viên không ngừng vươn lên
Việc điều chỉnh vai trò của giáo viên từ vị trí trung tâm sang hỗ trợ cho hoạt
động học tập đòi hỏi nhiều nổ lực từ phía giáo viên. Đồng thời theo phương pháp
này, giáo viên cần tìm tòi, xây dựng những vấn đề vừa lý thú vừa phù hợp với môn
học và thời gian cho phép; biết cách xử lý khéo léo những tình huống diễn ra trong
thảo luận… Có thể nói rằng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề tạo môi trường
giúp giáo viên không ngừng tự nâng cao trình độ và các kĩ năng sư phạm tích cực.
Nhược điểm
- Khó vận dụng ở những môn học có tính trừu tượng cao
Phương pháp này không cho kết quả như nhau đối với tất cả các môn học, mặc
dù nó có thể được áp dụng một cách rộng rãi. Thực tế cho thấy những môn học gắn
bó càng nhiều với thực tiễn thì càng dễ xây dựng vấn đề, và vì vậy khả năng ứng
dụng của phương pháp càng cao.
- Khó vận dụng cho lớp đông
Lớp càng đông thì càng có nhiều nhóm nhỏ vì vậy việc tổ chức, quản lý sẽ
GV NH GV NH GV NH
1 Biết Biết Biết Biết Biết Chưa biết
2 Biết Biết Biết Chưa biết Biết Chưa biết
3 Biết Biết
Biết
ít/nhiều
Chưa biết
Biết
ít/nhiều
Chưa biết
4 Biết Biết Chưa biết Chưa biết Chưa biết Chưa biết
5 Chưa biết Chưa biết Chưa biết Chưa biết Chưa biết Chưa biết
- Dạng I
Vấn đề được giáo viên và học sinh biết cả về nội dung, phương pháp và giải
pháp. Dạng này được dùng để kiểm tra những điều học sinh đã được học hoặc đã
được làm quen.
Ví dụ: Nêu vai trò của hướng trọng lực trong đời sống của cây?
- Dạng II
Vấn đề được giáo viên và học sinh biết về nội dung. Về phương pháp và giải
pháp, giáo viêm nắm rõ còn học sinh thì chưa biết và họ cần phải đưa ra quan điểm
riêng.
Ví dụ: Khi kích thích một điểm trên cơ thể, động vật có hệ thần kinh dạng lưới
phản ứng toàn thân và tiêu tốn năng lượng. Tại sao?
- Dạng III
Vấn đề được giáo viên và học sinh biết về nội dung. Về phương pháp và giải
pháp, giáo viên có thể biết đầy đủ hoặc một phần, còn học sinh thì chưa biết và họ
cần phải đưa ra quan điểm riêng.
Ví dụ: Theo em, tập tính kiếm ăn ở động vật là tập tính học được hay tập tính
bẩm sinh? Tại sao?
- Dạng IV
phải một mâu thuẫn, khó khăn về nhận thức. Mâu thuẫn và khó khăn đó vượt ra
khỏi giới hạn của tri thức đã có của chủ thể, bao hàm một điều gì đó chưa biết, đòi
hỏi sự tìm tòi tích cực, sáng tạo" [2].
1.3.2. Tình huống có vấn đề trong quá trình dạy học
HS trong quá trình nhận thức vốn tri thức chung cuả nhân loại đã vấp phải tình
huống giữa vốn hiểu biết của bản thân với nội dung một khái niệm, quy luật mới
nào đó thì sẽ xuất hiện vấn đề đó là vấn đề học tập.
Vấn đề có tính chủ quan của chủ thể nhận thức, bao hàm nhu cầu hiểu biết đối
tượng mới vượt qua khỏi giới hạn vốn tri thức đã có ở bản thân (mâu thuẫn chủ
quan). Như vậy, trong cùng một tình huống thì có thể nảy sinh vấn đề ở chủ thể
nhận thức này mà không có vấn đề ở chủ thể khác.
1.4. Lý thuyết về năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
1.4.1. Khái niệm
- Năng lực
Theo từ điển Tiếng Việt [trang 639], “năng lực” được hiểu là “khả năng, điều
kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” khi đề cập
tới năng lực của đối tượng nào đó hoặc “là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con
người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” khi đề cập
tới năng lực của con người. Hình thành cho HS những NL cơ bản trong học tập và
cuộc sống là nhiệm vụ quan trong của các nhà trường.
Xavier Roegiers (1996), năng lực là sự tích hợp các kĩ năng tác động một cách
tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết những
vấn đề do tình huống này đặt ra [10].
Theo Prof. Bernd Meier và TS.Nguyễn Cường (2012), năng lực là khả năng
thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn
đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá
nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng
hành động [7].
Như vậy, có thể hiểu năng lực là những khả năng, kĩ xảo học được hay sẵn có
của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về
hoạt động cụ thể. NL chỉ được hình thành, phát triển, thể hiện thông qua các hoạt
động học tập cụ thể. Do đó, chỉ có thông qua mức độ thành thạo các thao tác, kĩ
năng mới có thể đánh giá được sự phát triển của NL cần được rèn luyện. Hơn nữa,
để có thể kiểm tra đánh giá NL học tập của HS chúng ta cần phải tạo ra các
THCVĐ để thúc đẩy quá trình tư duy, tìm tòi sáng tạo của HS. Chính vì vậy việc
hình thành, phát triển và rèn luyện NL PH và GQVĐ cho HS là hết sức cần thiết.
1.4.3. Những hình thức, biện pháp rèn luyện năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
- Theo tác giả Nguyễn Thị Toan các hình thức rèn luyện NL PH và GQVĐ bao gồm
hai hình thức phổ biến như sau:
+ Tự nghiên cứu vấn đề: Hình thức này thường được sử dụng đối với những
bài tập dự án, những hoạt động học tập nghiên cứu ngoài giờ lên lớp. HS sẽ chủ
động tìm hiểu nghiên cứu vấn đề, nêu THCVĐ và tự thực hiện giải quyết vấn đề.
Sản phẩm thu được HS sẽ viết thành báo cáo và GV sẽ đánh giá, nhận xét thông
qua báo cáo của HS.
+ Vấn đáp, thuyết trình PH và GQVĐ: Hình thức này thường được áp dụng
đối với những hoạt động học tập tiến hành trên lớp. GV cung cấp THCVĐ, đưa ra
các câu hỏi gợi mở phục vụ giải quyết vấn đề. HS sẽ trả lời những câu hỏi gợi mở
của GV sau đó tổng hợp, liên kết và thực hiện giải quyết vấn đề. GV sẽ đánh giá,
nhận xét thông qua bài thuyết trình giải quyết vấn đề của HS.
- Các biện pháp rèn luyện NL PH và GQVĐ:
Có nhiều biện pháp để rèn luyện NL PH và GQVĐ, nhưng chúng tôi tập trung
nghiên cứu, xây dựng biện pháp sử dụng THCVĐ trong vận dụng dạy học giải
quyết vấn đề ở đề tài [6].
1.4.4. Cấu trúc NL PH và GQVĐ
Cấu trúc NL PH và GQVĐ cho chúng ta xác định được một người có NL PH
và GQVĐ phải có những khả năng nào. Trên cơ sở nghiên cứu và vận dụng chúng
tôi xác định cấu trúc NL PH và GQVĐ của HS THPT bao gồm các tiêu chí về các
kĩ năng thành tố như sau:
Tiêu chí thứ 1: Xác định và tìm hiểu vấn đề được THCVĐ chứa đựng trong
học tập và cuộc sống
chiếu kết quả thực nghiệm với giả thuyết được đưa ra ban đầu. Từ những đánh giá
so sánh người học sẽ đưa ra những, nhận xét kết luận về giả thuyết đã đưa ra, qua
đó kết luận lại vấn đề cần giải quyết và trình bày kết quả.
Tiêu chí thứ 4: Đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề
Sau khi đã thực nghiệm để kiểm chứng giả thuyết, tức là đã giải quyết được
mâu thuẫn của vấn đề dựa trên biện pháp được lựa chọn người học phải đánh giá
được hiệu quả cũng như sự phù hợp của biện pháp mà người học lựa chọn. Đánh
giá biện pháp bao gồm những tiêu chí sau:
- Sự đúng đắn và phù hợp thực tế của biện pháp
- Những điểm hợp lý và tối ưu của biện pháp so với các biện pháp khác.
Qua những đánh giá trên người học sẽ rút ra bài học kinh nghiệm về quá trình
thực hiện giải quyết vấn đề.
Tiêu chí thứ 5: Đề xuất vấn đề mới và giải quyết các tình huống tương tự
Sau khi đã kết luận vấn đề GV yêu cầu HS đề xuất những vấn đề mới có liên
quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật ngược vấn đề và giải quyết nếu có thể, từ
đó HS có thể vận dụng kết quả để giải quyết bài tình huống, vấn đề tương tự.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Sự phù hợp của việc lựa chọn chương Cảm ứng – Sinh học 11 THPT để dạy
học vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
2.1.1. Đặc điểm nội dung kiến thức chương Cảm ứng – Sinh học 11 THPT
Cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 11 THPT
Phần bốn: Sinh học cơ thể
Chương 1: Chuyển hóa vật chất và năng lượng
a. Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật
b. Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật
Chương 2: Cảm ứng
a. Cảm ứng ở thực vật
b. Cảm ứng ở động vật
Chương 3: Sinh trưởng và phát triển
a. Sinh trưởng và phát triển ở thực vật
Phân biệt cảm ứng ở thực vật và động vật.
Đặc điểm của phản xạ.
Đặc điểm cảm ứng ở động vật có tổ chức thần
kinh ở mức độ khác nhau.
Các dạng cảm ứng ở động vật.
Bài 27: Cảm ứng ở
động vật (tiếp theo)
1
Cấu trúc và hoạt động của thần kinh dạng ống.
Phân biệt đặc điểm cơ bản của phản xạ ở dạng
thần kinh ống và thần kinh hạch.
Bài 28: Điện thế
nghỉ
1
Khái niệm điện thế nghỉ.
Cơ chế hình thành điện thế nghỉ.
Bài 29: Điện thế
hoạt động và sự lan
truyền xung thần
kinh
1
Phân biệt điện thế nghỉ và điện thế hoạt động.
Cơ chế hình thành điện thế hoạt động.
Sự lan truyền xung thần kinh trên sợi thần kinh.
Bài 30: Truyền tin
qua xinap
Đặc điểm của xinap.
Quá trình truyền tin qua xinap.
Bài 31: Tập tính của
động vật
bốn chương, tương đương với bốn hoạt động sinh lý trong chương trình Sinh học
11 đều có tầm quan trọng ngang nhau và có mối liên hệ logic mật thiết. Mở đầu là
chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng. Chương này có tầm quan trọng rất
lớn và cần quan tâm đầu tiên. Hoạt động chuyển hóa vật chất và năng lượng cung
cấp nguyên liệu năng lượng cho mọi hoạt động sống của cơ thể. Trong khi đó, song
song với chương I là chương II: Cảm ứng. Chương II nghiên cứu tác động qua lại
giữa cơ thể và môi trường, sự thích ứng của cơ thể trước các điều kiện trong và
ngoài. Mục đích của nghiên cứu Cảm ứng là chỉ ra được những đặc điểm giống và
khác nhau ở cả Thực vật và Động vật, đó là: cơ quan, tác nhân tiếp nhận kích thích;
cơ quan, con đường và tốc độ dẫn truyền và xử lí thông tin; cơ chế, bộ phận trả lời
và ý nghĩa. Kiến thức xuyên suốt cả chương chủ yếu là các kiến thức liên quan đến
cơ chế với nhiều nội dung khá phức tạp, trừu tượng, các kiến thức liên quan mật
thiết đến nhau. Vì vậy đòi hỏi HS phải có các kĩ năng hệ thống hóa, khái quát hóa
và đặc biệt phải có kĩ năng so sánh để tìm ra đặc điểm chung của hoạt động sinh lý
ở cấp độ cơ thể. Mặt khác, đây là một trong những chương có tính liên hệ thực tiễn
cao, gắn với đời sống xã hội và Thế giới sống phong phú, đa dạng đòi hỏi học sinh
phải có nhiều kĩ năng tổng hợp, đánh giá phát hiện và giải quyết vấn đề.
2.1.2. Sự phù hợp của việc lựa chọn chương Cảm ứng – Sinh học 11 THPT để vận
dụng dạy học giải quyết vấn đề
Từ những đặc điểm về nội dung chương Cảm ứng đã phân tích ở trên chúng
tôi nhận thấy rằng cần có những phương pháp đổi mới trong việc dạy và học
chương này. Đối với một chương mà lượng kiến thức khá nhiều và phức tạp gây
không ít khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức lý thuyết, rất dễ khiến cho HS
không hứng thú trong việc nghiên cứu các kiến thức SGK. Chính vì vậy cần có
những cách truyền thụ kiến thức mới mẻ từ GV để tăng hứng thú cho HS và giúp
các em nhớ, hiểu kiến thức lâu và sâu hơn. Việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
trong dạy học chương Cảm ứng là một trong những giải pháp giúp nâng cao hiệu
quả dạy học. Bằng việc thiết kế các họat động dạy học như đưa ra các tình huống
có vấn đề gắn liền với đời sống thực tiễn sẽ khiến cho HS hứng thú và chủ động
hơn trong việc tìm tòi, khám phá ra kiến thức. Các em sẽ được tự nghiên cứu, tự