TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN
TIỂU LUẬN
Đề tài: Vận
dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm
Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học
môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt Thắng
Học viên: Hồ Anh Sơn
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
2
Hà Tĩnh, năm 2015
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, với đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và
lãnh đạo, đã làm cho diện mạo đất nước thay đổi trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Để đáp ứng nguồn nhân lực cho công cuộc đổi mới, hệ thống giáo dục
các cấp đã và đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Một trong những
mục tiêu giáo dục ở nhà trường là giáo dục toàndiện. Ở trường THCS học sinh
được học rất nhiều bộ môn khác nhau. Tất cả các môn học đó đều góp phần giáo
dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh. Bên cạnh đó còn có sự tác động của hoạt động
Đoàn, Đội. Nhưng môn Giáo dục công dân là môn học trực tiếp giáo dụcđạo đức,
viên. 70-80% số học sinh phạm pháplà những học sinh chậm tiến, học lực kém, do
lười học hoặc do hoàn cảnh gia đình. Nguyên nhân của những con số trên là do ý
thức của các em về vấn đề pháp luật rất thấp. Có nhiều giải pháp đưa ra để làm
giảm các tệ nạn xã hội nhưng những giải pháp đó chỉđược coi là giải pháp tình thế.
Do đó cần phải hình thành cho mọi người có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh "pháp
luật" đặc biệt là đối tượng học sinh, ngay từ khi các em chưa phải là người tham
gia pháp luật thường xuyên. Vì thế, xây dựng chương trình giáo dục pháp luật
trong nhà trường là giải pháp mang tính lâu dài. Cũng lí do đó bản thân chọn “Vận
dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh
phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.”
2. Mục đích nghiên cứu:
Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn GDCD, tạo sự hấp dẫn, hứng
thú, cho học sinh trong quá trình học tập và làm cho môn GDCD thật sự xứng đáng
với vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của bộ môn trong nhà trường THCS.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng học sinh lớp 6, 7 trường THCS Nguyễn Tuấn Thiện.
4. Giả thuyết nghiên cứu:
Nếu áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật
cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học
Cơ sở vào giảng dạy mảng kiến thức pháp luật ở môn Giáo dục công dân theo qui
trình hợp lý, khoa học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục
công dân.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
4
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
5
- Phương pháp thống kê toán học.
- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm.
7. Đóng góp mới của đề tài:
Vận dụng sáng tạo, khai thác được tính năng động của học sinh, gây hứng thú
trong giờ học môn GDCD sử dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm
Giáo dục pháp luật bằng giúp nâng cao chất lượng học tập môn GDCD nói chung
và giáo dục pháp luật nói riêng đáp ứng yêu cầu mới của đất nước.
8. Kết cấu của đề tài: Gồm 3 phần
- Phần Mở đầu.
- Phần Nội dung.
- Phần Kết luận
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BẰNG TÌNH HUỐNG NHẰM GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD
1.1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp dạy học bằng tình huống
trong dạy học môn GDCD ở trường Trung học (Gợi ý)
1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học bằng tình huống
1.1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học
Trong các tác phẩm về lý luận dạy học, ta có thể tìm thấy nhiều định nghĩa
về phương pháp dạy học như:
Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối
hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự
gắn bó hữu cơ với nhau, chúng không thể thiếu nhau được. Trong thực tiễn, nhiều
giáo viên chỉ chăm lo việc truyền đạt mà coi nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên
phải kết hợp hai chức năng trên đây bằng chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp
lý của bài giảng, thầy vừa giảng vừa truyền đạt ), vừa đồng thời điều khiển việc
tiếp thu ban đầu và cả việc tự học của trò. Vì vậy phương pháp dạy chính là mẫu,
là mô hình cơ bản cho phương pháp học trong tất cả các giai đoạn của sự học tập.
Còn về phía học sinh, khi học tập vừa phải tiếp thu bài thầy giảng, lại vừa
phải tự điều khiển quá trình học tập của bản thân. Nói cách khác, học sinh phải tiếp
thu nội dung do thầy truyền đạt, đồng thời dựa trên toàn bộ lôgic bài giảng của
thầy mà tự lực chỉ đạo sự học tập của bản thân ( tự định hướng, tự tổ chức, tự thực
hiện, tự kiểm tra - đánh giá ). Người học sinh giỏi thường là người biết nắm bắt
Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
7
được lôgic cơ bản của bài giảng của thầy, rồi tự sáng tạo lại nội dung đó theo lôgic
của bản thân. Vậy, trong phương pháp học, hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo
gắn bó chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau, bổ sung cho nhau, như hai mặt của
cùng một hoạt động.
Dạy tốt, học tốt, xét về mặt phương pháp phải là sự thống nhất của dạy với
học, và đồng thời cũng là sự thống nhất của hai chức năng riêng của mỗi hoạt động
truyền đạt và chỉ đạo trong dạy; tiếp thu và tự chỉ đạo trong học. Nói cách khác,
dạy học tối ưu phải là sự dạy học mà trong đó, về mặt phương pháp, bảo đảm được
cùng một lúc ba phép biện chứng:
Giữa dạy và học.
Giữa truyền đạt và chỉ đạo trong dạy.
dạy học là những tình huống thực hoặc mô phỏng theo tình huồng thực, được cấu
trúc hóa nhằm mục đích dạy học”.
Tình huống bao giờ cũng là tình huống có vấn đề.
“Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của
bài toán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể
giải quyết được, kết quả là họ nắm được tri thức mới. Trong đó, vấn đề học tập là
những tình huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng
giữa cái (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này đòi
hỏi phải được giải quyết”.
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi
anh ta chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa
thể đạt tới mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này kích
thích con người tìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là
quy luật của hoạt động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu
của tư duy, hành động tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải
quyết vấn đề”.
Xét về khía cạnh tâm lý thì: “Tình huống là trạng thái tâm lý độc đáo của
con người gặp chướng ngạy nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu
giải quyết mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước, mà bằng tìm tòi
sáng tạo tích cực đầy hứng thú, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương
pháp giành kiến thức và cả niềm vui sướng của người phát hiện kiến thức”.
Qua một số định nghĩa ta có thể hiểu tình huống có vấn đề trong dạy học là:
tình huống học tập mà khi học sinh tham gia thì gặp một số khó khăn, học sinh ý
Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
9
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
10
Giáo viên phải tạo ra được mâu thuẫn nhận thức, có điều học sinh chưa biết
cần tìm hiểu, việc đi tìm lời giải đáp chính là đi tìm kiến thức, kỹ năng, phương
pháp mới.
Giáo viên gây được sự chú ý ban đầu, từ đó kích thích sự hứng thú tạo nên
nhu cầu nhận thức, khởi động tiến trình nhận thức của học sinh. Học sinh chấp
nhận mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan.
Tình huống và vấn đề nêu ra phải rõ ràng, phù hợp với khả năng của học
sinh. Từ những điều quen thuộc, bình thường đã biết phải đi đến cái mới (mục đích
cần đạt được) học sinh cảm thấy có khả năng giải quyết được vấn đề.
Dạy học bằng tình huống là một trong những yêu cầu quan trọng của đổi
mới nội dung, phương pháp dạy học, dạy học bằng tình huống là một trong những
phương pháp dạy học hiện đại, hay phương pháp dạy học tích cực.
Giảng dạy theo phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức rộng cả
về lý luận và thực tiễn. Nếu chỉ có kiến thức lý luận lý thuyết thì giáo viên không
đưa ra được những tình huống, hoặc có đưa ra thì cũng không đúng với nội dung
hoặc không sát thực tế. Từ đó làm cho người học không định hướng được cách giải
quyết tình huống, hoặc giải quyết sai.
1.1.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
1.1.2.1. Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng tình huống
Với tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung
tâm, dạy học bằng tình huống có những ưu điểm sau đây:
Thứ nhất: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học dễ hiểu và
dễ nhớ các vấn đề phức tạp’’. Thông qua các tình huống được phân tích, thảo luận,
Thứ tư: “Dạy học bằng tình huống thông qua việc giải quyết tình huống giúp
người học có thể phát hiện ra những vấn đề cuộc sống đặt ra nhưng bản thân chưa
đủ kiến thức giải quyết”. Cuộc sống vốn đa dạng và phong phú nên không loại trừ
khả năng phát sinh những tình huống mà người học và thậm chí cả người dạy chưa
gặp bao giờ. Trong tình huống này, người dạy phải định hướng và khơi gợi khả
năng tư duy độc lập, sáng tạo của người học được vận dụng, phát huy tối đa và
không loại trừ khả năng người học sẽ tìm ra được những các lý giải mới làm bổ
sung thêm kiến thức cho cả người học lẫn người dạy.
Thứ năm: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho người học có thể
rèn luyện một số kỹ năng cơ bản như kỹ năng làm việc nhóm, tranh luận và thuyết
trình”. Đây là những kỹ năng quan trọng giúp cho người học có thể thành công
Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
12
trong tương lai. Học bằng tình huống giúp người học dễ dàng nhận ra những ưu
điểm và hạn chế của bản thân khi họ luôn có môi trường thuận lợi để so sánh với
các học viên khác trong quá trình giải quyết tình huống. Từ đó họ sẽ có cơ hội học
hỏi kỹ năng làm việc nhóm, tranh luận và thuyết trình từ những học viên khác.
Phương pháp học bằng tình huống cũng giúp người học phát triển các kỹ năng phát
biểu trước đám đông một cách khúc chiết, mạch lạc, dễ hiểu; phân tích vấn đề một
cách lôgic; hiểu biết thực tế sâu rộng, biết vận dụng linh hoạt lý thuyết để giải
quyết các tình huống thực tế; biết phản biện, bảo vệ quan điểm cá nhân, đồng thời
có khả năng thương lượng và dễ dàng chấp nhận các ý kiến khác biệt, biết lắng
nghe và tôn trọng ý kiến của người khác để làm phong phú hơn vốn kiến thức của
mình.
nghiên cứu tình huống, giáo viên cũng có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý
hoặc sai sót của tình huống và có những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho
phù hợp.
1.1.2.2. Hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình huống
còn có một số điểm hạn chế nhất định.
Thứ nhất: “Đối với các môn học là ngành khoa học xã hội, khi giảng dạy
bằng tình huống, các vấn đề xã hội thường được giải thích theo nhiều quan điểm
khác nhau tùy thuộc vào quan điểm, quan niệm sống, vào vốn kiến thức xã hội và
kinh nghiệm của người học. Vì vậy, đôi khi cuộc thảo luận về tình huống sẽ không
hướng theo con đường và dẫn đến một kết cục như người soạn thảo tình huống
mong muốn, nhất là trong những lớp học mà học viên đa dạng về trình độ và đến
từ những vùng miền khác nhau, và giáo viên không có kinh nghiệp trong việc điều
phối, dẫn dắt cuộc thảo luận”.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi tinh thần tự học,
thái độ làm việc nghiêm túc và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, năng động. Tuy
nhiên, hiện nay có khá nhiều học sinh không quen với phương pháp học bằng tình
huống, họ không có kỹ năng làm việc nhóm, thụ động, ỷ lại, không hợp tác từ đó
làm giảm hiệu quả của phương pháp dạy học bằng tình huống”.
Thứ ba: “Phương pháp dạy học bằng tình huống tốn nhiều thời gian của
người học”. Trong phương pháp học truyền thống, trong một khoảng thời gian nhất
định, giáo viên có thể cung cấp một lượng kiến thức tương đối hoàn chỉnh, hệ
thống, logic cho học sinh. Cùng lượng kiến thức đó, trong phương pháp học bằng
Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
14
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
15
Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp
hơn Loại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp giờ
thuyết giảng. Các tình huống phức tạp cần đủ dài vài bao gồm một hoặc một số vấn
đề nhằm gợi mở kiến thức bắt đầu giờ thuyết giảng của một bài học mới. Các tình
huống này cần được giao trước cho học sinh cùng với tài liệu hướng dẫn để học
sinh đọc. Các tình huống không cần quá khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho học
sinh nghiên cứu và ghi nhớ những khái niệm khởi đầu của bài học”.
Loại 3 – Tình huống đầy đủ: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp
nhất và được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này là để học
sinh áp dụng các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải quyết các vụ việc
trong thực tiễn và qua đó học thêm kiến thức mới. Loại tình huống này yêu cầu học
sinh không những phải nghiên cứu tài liệu được giao mà còn phải thực hiện các
bước chuẩn bị theo yêu cầu của giáo viên. Phương pháp nêu vấn đề sẽ hỗ trợ để
giải quyết tình huống, trong đó học sinh là người làm việc chính và giáo viên là
người hướng dẫn cho học sinh. Về nội dung, tình huống này có độ phức tạp cao
nhất. Nó thường bao gồm ít nhất ba vấn đề xuyên suốt trong một hay nhiều bài học
và do đó yêu cầu về sự chuẩn bị của cả học sinh và giáo viên cũng ở mức độ cao
nhất”.
Ngoài ba loại tình huống này ta cũng có thể phân chia các tình huống theo
độ mở của vấn đề trong tình huống. Theo cách phân loại này, giáo viên có thể xây
dựng các tình huống mở và các tình huống đóng. Tình huống mở là các vụ việc mà
trong đó lời giải để ngỏ hoặc có nhiều cách giải khác nhau. Loại tình huống này rất
tốt trong việc kích thích khả năng tư duy và rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Khi
những vấn đề mà thông thường chính là những câu hỏi xuất phát từ bản thân kiến
thức cần học sinh tiếp thu. Việc giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải
giải quyết một số vấn đề nhỏ khác và nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được
xác định. Trên cơ sở các vấn đề và tiểu vấn đề, giáo viên sẽ xây dựng các tình tiết
sự kiện để hình thành một tình huống hoàn chỉnh. Ở bước cuối cùng này, giáo viên
có thể có hai cách để xây dựng tình tiết sự kiện. Thứ nhất, giáo viên có thể dựa trên
những vụ việc đã xảy ra và đã được giải quyết một cách sáng tạo. Nếu có những vụ
việc liên quan tới những nội dung kiến thức mà giáo viên đang muốn học sinh tìm
hiểu thì giáo viên có thể lấy tình tiết của vụ việc đó rồi điều chỉnh tình tiết sự kiện
cho phù hợp với yêu cầu của mình. Thứ hai, nếu không tìm được vụ việc thực tế thì
Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
17
giáo viên có thể tự xây dựng nên một tình huống giả định. Trong trường hợp này
các tiêu chuẩn của một tình huống tốt như phân tích trên đây phải được tuân thủ”.
Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong quá
trình dạy học bằng tình huống .
1.2 Thực trạng của việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học môn
GDCD ở trường Trung học ...(Gợi ý)
1.2.1 Đặc điểm của địa bàn khảo sát
Thực trạng vấn đề đạo đức ý thức chấp hành pháp luật của học sinh phổ thông hiện
nay đang xuống cấp nghiêm trọng. Những biểu hiện cơ bản thường thấy như: 1.
Xưng hô, giao tiếp với thầy cô, người lớn tuổi và bạn bè bằng những lời lẽ trống
không, thiếu văn hóa thậm chí hỗn láo; 2. Có những hành vi và thái độ khiếm nhã
qua môn GDCD. Ít có thời gian tổ chức các chuyên đề, hoạt động ngoại khóa về
đạo đức và pháp luật. Quy định thầy, cô giáo không được xúc phạm đến thân thể ,
nhân cách của học sinh, trường học thân thiện…, ngoài những ưu điểm không thể
phủ nhận thì cũng có những trở ngoại cho các nhà trường trong việc giáo dục
những học sinh hư.
Cơ chế thị trường và những đổi thay của xã hội làm cho ranh giới giữa thầy và trò
ngày càng mờ nhạt, hình ảnh người thầy ngày càng phai mờ trong học sinh và phụ
huynh. Ở đâu đó, giáo dục đã bị thương mại hóa khiến giáo dục nhiều khi bị mang
ra trao đổi. Môi trường sống, môi trường xã hội hiện nay có nhiều cám dỗ, lôi kéo,
các kênh thông tin quá đa dạng và sự tiến bộ của những trang thiết bị hiện đại mà
chúng ta không kiểm soát được cũng tác động xấu đến đạo đức và ý thức pháp luật
của học sinh. Nhiều gia đình học sinh có quan điểm lệch lạc, thiếu sự quan tâm đến
con em mình, thiếu sự hợp tác với các nhà trường. Sự sẵn sàng vào cuộc của gia
đình, xã hội với nhà trường trong việc giáo dục đạo đức pháp luật cho học sinh
chưa cao. Những chuẩn mực về đạo đức, thẩm mỹ chưa được hình thành và giáo
dục một cách bài bản và hệ thống.
1.2.2 Thực trạng của việc sử dụng các PPDH nhằm giáo dục pháp luật cho học
sinh trong dạy học môn GDCD ở trường Trung học ...
Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
19
Xuất phát từ thực trạng ý thức của học sinh học môn Giáo dục Công dân dẫn đên
thực trạng giảng dạy Giáo dục Công dân nói riêng và pương pháp dạy học nhằm
giáo dục pháp luật cho học sinh trong trương THCS còn nhiều hạn chề. Trong thời
20
Lớp 6: Bài 12: CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ QUYỀN TRẺ EM.
Lớp 7: QUYẾN ĐƯỢC BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM
VIỆT NAM.
Với các tình huống như sau:
2.1.1. Có ý kiến cho rằng: chỉ có những trẻ em da trắng và da vàng mới có
những quyền trẻ em được quy định trong công ước quốc tế về quyền trẻ em, còn
trẻ em da đen ở những nước châu Phi thì không có những quyền này. Xin hỏi
nhận định như thế có đúng không?
Trả lời:
Công ước Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em là một công ước quốc tế quy định
các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ em. Công ước có
hiệu lực từ ngày 2 tháng 9 năm 1990. Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều
đã tham gia công ước (193 quốc gia, trừ Hoa Kỳ và Somalia). Các quốc gia phê
chuẩn công ước này chịu ràng buộc của các quy định công ước này theo luật quốc
tế. Điều 2 của công ước khẳng định rằng các quốc gia thành viên phải tôn trọng và
bảo đảm những quyền trẻ em được nêu ra trong công ước mà không có sự phân
biệt, đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân
tộc….
Như vậy, trẻ em ở bất cứ quốc gia nào đã tham gia công ước đều được
hưởng những quyền trẻ em được ghi nhận trong công ước, không phụ thuộc vào
màu da của các em. Trẻ em da đen cũng như trẻ em da trắng, đều có các quyền
bình đẳng như nhau.
Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới tham gia Công ước liên hợp quốc về
quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990. Ngay sau đó, Quốc hội Việt Nam đã
ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vào năm 1991 để ghi nhận các
quyền trẻ em trong công ước này.
thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ
em”.
Bé Bi đã tròn 2 tuổi mà chú Khang chưa đi đăng ký khai sinh cho bé là không
đúng. Việc này có thể làm ảnh hưởng đến các quyền lợi khác trong tương lai của
bé Bi.
Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
22
3. Trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em được pháp luật quy định như
thế nào?
Trả lời:
Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ,
tinh thần và đạo đức.
Trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em được Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục năm 2004 (Điều 24) quy định như sau:
- Cha mẹ, người giám hộ là người trước tiên chịu trách nhiệm về việc chăm
sóc, nuôi dưỡng trẻ em, dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em; khi
gặp khó khăn tự mình không giải quyết được, có thể yêu cầu và được cơ quan, tổ
chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc,
nuôi dưỡng trẻ em.
- Cha mẹ, người giám hộ, các thành viên lớn tuổi khác trong gia đình phải
gương mẫu về mọi mặt cho trẻ em noi theo; có trách nhiệm xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triên toàn
diện của trẻ em.
mình.
- Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi
dưỡng để phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. Cha mẹ là người
trước tiên chịu trách nhiệm về việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, dành điều kiện
tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em.
- Quyền được chăm sóc sức khoẻ: Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ
sức khoẻ. Cha mẹ có trách nhiệm thực hiện việc chữa bệnh cho trẻ em.
Theo Điều 9, Nghị định 91/2011/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 17
tháng 10 năm 2011 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em thì cha mẹ, người giám hộ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Sau khi sinh con, cha hoặc mẹ bỏ con, không chăm sóc, nuôi dưỡng;
- Cha, mẹ bỏ mặc con, người giám hộ cố ý bỏ rơi trẻ em ở nơi công cộng hoặc
ép buộc trẻ em không sống cùng gia đình, bỏ mặc trẻ em tự sinh sống, không quan
tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em, để trẻ em này rơi vào hoàn cảnh đặc
biệt theo quy định tại Điều 40 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;
Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.
Tiểu luật kết thúc lớp BDKTPL
24
- Cha, mẹ, người giám hộ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, cắt đứt quan
hệ tình cảm và vật chất với trẻ em, trừ trường hợp cho trẻ em làm con nuôi hoặc bị
buộc phải cách ly trẻ em theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, để khắc phục hậu quả, pháp luật buộc cha, mẹ, người giám hộ
thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em theo quy định của
cho trẻ em; chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội trong việc bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em.
- Cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông phải có điều kiện cần
thiết về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để đảm bảo chất lượng
giáo dục.
- Người phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh trong nhà trường
phải được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, có sức khỏe, phẩm chất
đạo đức tốt, yêu nghề, yêu trẻ, được tạo điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ.
Như vậy, theo các quy định của pháp luật, cha mẹ không có quyền bắt con cái
bỏ học mà phải tạo điều kiện để con cái thực hiện quyền được học tập của mình.
Suy nghĩ và hành động của bố Mai như thế là không đúng. Gia đình, nhà trường và
xã hội có trách nhiệm bảo đảm quyền được học tập của trẻ em.
2.1.5 “Ngày 23 tháng 10, trước cửa bệnh viện X, có một bé gái 5 tuổi nhăn
nhó vì đau ruột thừa. Em đã ngồi đây từ sáng nhưng vẫn chưa được vào khám
vì em không mang theo thẻ bảo hiểm y tế và mẹ em thì không có tiền để đóng
phí khám bệnh. Thật may mắn là sau khi được thông báo, Giám đốc bệnh viện
đã ra giải quyết vụ việc và tạo điều kiện cho em được khám bệnh. Em gái được
phẫu thuật và cứu sống ngay sau đó. Những nhân viên bệnh viện cản trở việc
khám bệnh của em cũng đã bị xử phạt theo pháp luật.”
Cường rất bức xúc khi đọc được tin tức trên và biết rằng hành vi đó đã vi
phạm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em. Em muốn biết hành vi cản trở,
không khám chữa bệnh cho trẻ em sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Quyền được chăm sóc sức khỏe là một quyền cơ bản của trẻ em được ghi
nhận trong Công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em. Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em năm 2004 cũng khẳng định : trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo
Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ
thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học Cơ sở.