1
Đ ầ u t ư 5 1 B – K h o a Đ ầ u t ư
2011
Đánh giá đói nghèo của Việt
Nam giai đoạn 2001-2010
[Kinh tế phát triển]
Email:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ ĐÓI NGHÈO CỦA VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010
Đơn vị thực hiện: Đặng Quốc Việt
Nguyễn Thanh Thủy
Nguyễn Thị Thủy Ngân
Nguyễn Trần Trí
Nguyễn Thái Dương
Cung Đức Kiên
Ngô Anh Hùng
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
3
HÀ NỘI, 2011
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1
1. Khái niệm về đói nghèo 1
2. Các tiêu chí đánh giá đói nghèo. 2
3. Các nhân tố tác động đến đói nghèo. 3
PHẦN II: ĐÁNH GIÁ ĐÓI NGHÈO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010 6
2. Giai đoạn 2006-2010 26
III.Những hạn chế và thách thức của chương trình xóa đói giảm nghèo
giai đoạn 2001-2010:
28
IV. Một số giải pháp kiến nghị 30
KẾT LUẬN 31
DANH MỤC BẢNG
Bảng Tên bảng Trang
1 Chuẩn nghèo và tỷ lệ hộ nghèo qua các năm 6
2 Tỷ lệ nghèo chia theo vùng của Thống kê VN 7
3 Ngưỡng nghèo Việt Nam qua các năm 7
4 Chỉ số HPI (Human Poverty Index) Việt Nam 2001-
2010
8
5 Hệ số Gini của một số quốc gia Châu Á năm 2002 14
6 Hệ số Gini của Việt Nam 14
7 Sự bất bình đẳng giữa nhóm nghèo nhất và nhóm
giàu nhất năm 2002 và 2008
17
8 Kết quả đánh giá nguyên nhân đói nghèo theo vùng 20
9 Đánh giá kết quả chương trình mục tiêu xóa đói giảm
nghèo giai đoạn 2006-2010
27
10 Tỉ lệ đi học chung chia theo cấp học năm 2010 29
DANH MỤC HÌNH
Hình Tên hình Trang
1 Tỷ lệ người dự kiến không thọ quá 40 tuổi 9
2 Thu nhập bình quân đầu người một tháng qua các năm 12
3 Hệ số chênh lệch giữa nhóm người giàu nhóm người
nghèo (20%Thu nhập)
Còn về nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ
phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất
định. Vì những lẽ đó, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xóa dần nghèo
tuyệt đối là công việc có thể làm còn nghèo tương đối là hiện tượng thường
có trong xã hội và vấn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch
giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo.
Đói nghèo là một khái niệm động phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế,
xã hội, lịch sử, mức độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu phát triển con người.
Ở một thời điểm, một vùng, một quốc gia là đói nghèo nhưng sang một thời
điểm khác, vùng khác, nước khác thì chỉ số đó mất ý nghĩa. Do đó rất khó quy
định hợp lý một chuẩn mực về đói nghèo cho mọi quốc gia, ngay trong một
quốc gia cũng có thể khác nhau giữa các vùng, giữa các thời kỳ.
2. Các tiêu chí đánh giá đói nghèo.
Khi xác định tiêu chí và mức nghèo đói, các công trình nghiên cứu quốc
tế thường chia làm 2 mức độ: phân định giữa các quốc gia và giữa các nhóm
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
7
dân cư, từ đó xác định các quốc gia giàu, nghèo trên thế giới và phân chia
dân cư của mỗi quốc gia hoặc từng địa phương thành các nhóm giàu, nghèo.
Đối với quốc gia, Hiện nay, Ngân hàng Thế Giới ( WB ) đưa ra các tiêu
chí đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia bằng thu nhập bình quân
đầu người theo 2 cách tính:
- Phương pháp Atlas, tức là theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD.
- Phương pháp P.P.P ( Purchasing power parity ), là phương pháp sức
mua tương đương, cũng tính bằng USD.
Theo phương pháp Atlas, người ta phân tích 6 loại về sự giàu - nghèo
của các nước ( lấy mức thu nhập năm 1990 ).
- Trên 25.000 USD/năm, là nước cực giàu.
- Từ 20.000 USD/năm đến dưới 25.000 USD/năm, là nước giàu.
- Từ 10.000 USD đến dưới 20.000 USD/năm, là nước khá giàu.
của lịch sử để lại, vừa là vấn đề của phát triển, thường có trong quá trình
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
9
phát triển mà quốc gia nào cũng gặp phải. Nó tác động trực tiếp tới cuộc
sống của con người, từng cá nhân, gia đình đến cộng đồng. Mỗi quốc gia ở
các mức độ khác nhau đều phải quan tâm giải quyết vấn đề đói nghèo để
vượt qua những trở ngại cho sự phát triển phồn thịn về kinh tế và từng bước
đạt tới sự công bằng xã hội. Tuy nhiên, với mỗi chế độ xã hội khác nhau thì
mục đích và mức quan tâm cũng khác nhau, song đây là vấn đề toàn cầu nên
nó cũng thu hút được sự quan tâm, phối hợp các nỗ lực giải quyết của cộng
đồng quốc tế.
Để chống lại đói nghèo, giảm bớt sự nghèo, cần phải xác định đúng
những nhân tố tác động dẫn đến đói nghèo. Có nhiều nhân tố khác nhau tác
động đến đói nghèo, các nhân tố tác động có sự đan xen, thâm nhập vào
nhau. Cả các nhân tố ngoại cảnh tự nhiên lẫn các nhân tố về điều kiện kinh tế
xã hội và nhân tố về điều kiện nội tại của chính những người nghèo.
3.1. Điều kiện tự nhiên
Đất đai là một nhân tố rất quan trọng để xóa đói giảm nghèo, đặc biệt
là đối với người nông dân. Đất canh tác ít, đất cằn cỗi, ít màu mỡ, canh tác
khó, phân tán… (như địa hình trên đồi, núi đá ở vùng cao) dẫn đến năng suất
cây trồng và vật nuôi thấp ảnh hưởng lớn đến thu nhập cụa các hộ gia đình.
Khí hậu, thời tiết khắc nhiệt, không thuận lợi dẫn đến thiên tai, hạn hán,
lũ lụt… gây mất mùa, thiệt hại về tài sản của nhân dân vùng chịu thiên tai.
Đây chính là nguyên nhân tiềm tang gây ra nạn đói nghèo cấp tính.
Bất lợi về vị trí địa lý ( xa xôi, hèo lánh, vùng sâu, vùng cao…) sẽ là
nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt các công trình cơ sở hạ tầng, dịch vụ thiết
yếu ( đường giao thông, điện, y tế, trường học…) làm cho người dân không
có điều kiện trao đổi thông tin, khó khăn trong việc thông thương buôn bán,
ít có điều kiện để tiếp cận với các phúc lợi xã hội trong việc chăm sóc sức
khỏe. Đây cũng là nhân tố dẫn tới đói nghèo.
- Tiềm lực kinh tế (vốn, tư liệu sản xuất), khả năng kinh doanh của hộ
nghèo thấp kém. Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào
vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực. Người nghèo có khả năng
tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ. Ngược
lại, nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói.
Các hộ nghèo có ít đất đai và tình trạng không có đất đang có xu hướng
tăng lên. Thiếu đất ảnh hưởng đến đảm bảo an ninh lương thực của người
nghèo cũng như việc hướng tới sản xuất các loại cây trồng có giá trị cao. Đa
số người nghèo giữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị thấp,
thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lại lợi nhuận cao, giá trị
sản xuất thiếu cạnh tranh trên thị trường và do đó họ lại rơi vào vòng luẩn
quẩn của nghèo khó.
- Lao động có trình độ học vấn, chuyên môn, tay nghề thấp, từ đó họ khó
có khả năng, cơ hội kiếm được việc làm trong các khu vực khác, trong ngành
phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao và ổn định. Theo số
liệu thống kê về trình độ học vấn của người nghèo cho thấy khoảng 90%
người nghèo chỉ có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn. Kết quả điều tra
mức sống cho thấy, trong số người nghèo, tỷ lệ số người chưa bao giờ đi học
chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%, trung học cơ sở chiếm 37%.
Trình độ học vấn thấp dẫn đến khả năng tiếp nhận khoa học công nghệ
là rất hạn chế. Bên canh đó, trình độ học vấn thấp còn ảnh hưởng đến các
quyết định có liên quan tới giáo dục sinh đẻ, nuôi dạy con cái… như vậy
không chỉ ảnh hưởng tới thế hệ hiện tại mà đến cả thế hệ tương lai.
- Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được
bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp.
Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnh
đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải
quyết các vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật. Nhiều văn bản pháp
luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó nắm bắt, mạng lưới các
dịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đều,
2002 112 146 23,0 26.9 10.6
2004 124 163 18.1 21.2 8.6
2006 200 260 15.5 18.0 7.7
2008 290 370 13.4 16.1 6.7
2010 350 440 10.7 13.2 5.1
2010 (*) 400 500 14.2 17.4 6.9
Ghi chú: Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010(*) tính theo chuẩn nghèo của Chính
phủ giai đoạn 2011-2015 là 400 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực
nông thôn và 500 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực thành thị.
Nguồn:TCTK, Điều tra mức sống hộ gia đình 2002,2004,2006,2008,2010
Nhận xét:
• Trong giai đoạn 2001-2010, chuẩn nghèo ở nước ta được chia thành
chuẩn nghèo dành cho khu vực thành thị và khu vực nông thôn đồng
thời được liên tục điều chỉnh để phù hợp với mức giá cả thay đổi
trong điều kiện lạm phát mạnh do tăng trưởng kinh tế ở mức cao của
nước ta. Mặc dù vậy, tỷ lệ hộ nghèo chung ở nước ta vẫn có sự giảm
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
15
đều đặn qua các năm ( trung bình khoảng 3% trong 2 năm) từ mức
23% năm 2002 xuống còn 10.7% năm 2010. Đồng thời, một thành tựu
đáng ghi nhận khác đó là sự giảm tỷ lệ hộ nghèo đồng đều ở cả thành
thị và nông thôn: sau khi kết thúc giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ hộ nghèo
ở cả 2 khu vực kể trên đều chỉ còn bằng khoảng gần 50% so với
những năm đầu ( năm 2002 )
• Tuy nhiên, với mức chuẩn nghèo mới được áp dụng cho giai đoạn
2011-2015 (dòng 2010(*) trong bảng) thì tỷ lệ hộ nghèo hiện nay còn
khá cao, điều đó cho thấy chúng ta chưa thể hài lòng với những gì đã
đạt được, đặc biệt, giai đoạn 5 năm tới còn được dự báo là giai đoạn
khó khăn của nền kinh tế toàn cầu, trong bối cảnh mức lạm phát và
thất nghiệp cao đang diễn ra phổ biến trên toàn thế giới như hiện nay,
2006 213 16.0 20.4 3.9
2008 280 14.5 18.7 3.3
(Nguồn:TCTK, Điều tra mức sống hộ gia đình 2002,2004,2006,2008)
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
17
Nhận xét:
• Khác với chuẩn nghèo, ngưỡng nghèo được xác định chung cho cả khu
vực thành thị và nông thôn cho từng năm. Bởi vậy chúng ta thấy một
sự chênh lệch rất lớn giữa tỷ lệ nghèo về lương thực thực phẩm giữa
2 khu vực này, tỷ lệ của khu vực nông thôn thường gấp khoảng 5, 6
lần khu vực thành thị. Thông qua đây chúng ta thấy được phần nào sự
thiệt thòi của người dân ở khu vực nông thôn.
• Tuy nhiên, bằng các nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong những
năm qua, tỷ lệ này đã được giảm đi đáng kể: trong năm 2008, ở khu
vực nông thôn, con số này chỉ còn 18.7% và 3.3% ở khu vực thành thị.
Mặc dù vậy, trong bối cảnh lạm phát, giá cả lương thực thực phẩm
đang ngày càng leo thang như hiện nay, chúng ta cần có những biện
pháp mạnh mẽ hơn nữa để tránh tình trạng tái nghèo về lương thực
thực phẩm.
1.2. Nghèo khổ tổng hợp
Bảng 4: Chỉ số HPI (Human Poverty Index) Việt Nam 2001-2010
Xếp hạng theo
HDI
Chỉ số HPI
Xếp hạng
Giá trị
(%)
Không
thọ quá
40 tuổi
2001 101/162 45/90 29,1 12,8 6,9 44 - 39
2003 109/175 39/94 19,9 10,7 7,3 23 - 33
2004 112/177 41/95 20,0 10,7 9,7 23 - 33
2005 108/177 47/103 21,2 9,4 9,7 27 33
2006 109/177 33/102 15,7 9,4 9,7 15 - 28
2007/
2008
105/177 36/108 15,2 6,7 9,7 15 - 27
2009 116/182 55/135 12,4 5,8 9,7 8 25
2010 113/169 0,075
Nguồn: Viện Thông tin Khoa học Xã hội
Chỉ số HPI của Việt Nam và thứ tự xếp hạng so với các nước đang phát triển
HPI-1 đã có nhiều dấu hiệu tích cực. Năm 2001 Việt Nam xếp thứ 45/90, năm 2004 là
41/95, năm 2008 là 35/108.
Trong Báo cáo Phát triển con người của UNDP năm 2009 (HDR 2009), Việt
Nam đứng thứ 55/135 trong bảng xếp hạng HPI-1. Tỷ lệ dân không được sử dụng các
nguồn nước sạch ở Việt Nam đã giảm từ 44% năm 2001 xuống còn 23% năm 2004,
15% năm 2006 - 2008 và 8% năm 2009. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
19
cũng giảm từ 39% năm 2001, 33% năm 2003, 2004 & 2005, 28% năm 2006, 27%
năm 2007 - 2008 và 25 % năm 2009.
Theo ba khía cạnh cơ bản nhất của cuộc sống con người, thực trạng đói
nghèo của Việt Nam giai đoạn 2001-2010 được biểu hiện cụ thể như sau:
a) Xét trên khía cạnh cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh:
Hình 1: Tỷ lệ người dự kiến không thọ quá 40 tuổi
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trong giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ người dự kiến không thọ quá 40 tuổi ở nước
ta có xu hướng giảm dần. Đến năm 2009, tỷ lệ này thấp hơn một nửa so với năm
2001 (từ 12.8% xuống 5.8%).
chữ giữa thành thị và nông thôn cũng rất thấp : 2.7% ở thành thị và 7.5% ở
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
21
nông thôn. Vùng đồng bằng song Hồng có tỷ lệ mù chữ thấp nhất (2.5%), cao
nhất là vùng Trung du và miền núi phía Bắc (11.9%). Địa phương có tỉ lệ mù
chữ thấp nhất là Hà Nội, Hải Phòng và TP.HCM (2.1%) và cao nhất là Lai
Châu ( 40.6%).
c) Xét trên khía cạnh đảm bảo về kinh tế:
• Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế:
Theo thống kê của Bộ Y tế (từ năm 2000-2002) ở một số tỉnh miền Bắc,
tỷ lệ người nghèo bị ốm không được điều trị, chiếm khoảng 40%. Trong đó, lý
do khó khăn về tài chính (chiếm khoảng 53%); ý thức chăm sóc sức khỏe của
bệnh nhân cũng như của cộng đồng còn rất hạn chế cũng là một nguyên
nhân.
Sau khi có Quyết định 139 của Thủ tướng Chính phủ về KCB (khám chữa
bệnh) cho người nghèo, từ 2003 đến nay, tình hình KCB cho người nghèo đã
có nhiều thay đổi. Theo thống kê, số đối tượng hưởng lợi từ Quỹ KCB cho
người nghèo đã có nhiều thay đổi. Theo thống kê, số đối tượng hưởng lợi từ
Quỹ KCB cho người nghèo đã lên tới 14.3 triệu người , chiếm khoảng 17.5%
dân số toàn quốc.
Luật BHYT được thông qua năm 2008 và chính thức được triển khai từ
đầu năm 2010, song song với việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản
hướng dẫn. Sau khi ban hành Luật, người nghèo có khả năng tiếp cận với cá
dịch vụ KCB có chất lượng cao hơn. Tuy nhiên do còn nhiều rào cản về thủ
tục hành chính, chi phí gián tiếp, đi lại khó khăn và quy định đồng chi trả 5%
nên người nghèo chưa thực sự được hưởng các dịch vụ KCB có chất lượng
như các đối tượng khác.
• Khả năng tiếp cận nguồn nước sạch:
Tính đến cuối năm 2005, trên địa bàn cả nước đã có khoảng 62% số dân
nông thôn được cấp nước sinh hoạt; khoảng 50% số hộ gia đình có nhà tiêu
dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi là 25%, trong đó 15 % trẻ bị suy dinh dưỡng
ngay từ trong bào thai và đây là một trong những nguyên nhân làm giảm
chất lượng dân số Việt Nam.
Năm 2007, theo báo cáo của WHO, có 1.6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy
dinh dưỡng nhẹ cân (21.2%) và khoảng 2.6 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng
thấp, còi (33.9%)
Viện Dinh dưỡng quốc gia Việt Nam (NIN) đã báo cáo kết quả nghiên
cứu khoa học về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam, dựa trên điều
tra dinh dưỡng toàn quốc 2009-2010 tại 63 tỉnh/thành phố với hơn 50.000
trẻ từ 2-5 tuổi cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân còn ở mức 19.62%,
tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi là 29.05%.
2. Bất bình đẳng của Việt Nam giai đoạn 2001-2010
2.1. Một số đánh giá chung về bất bình đẳng ở Việt Nam
Trong giai đoạn 2001-2010, mức độ bất bình đẳng của Việt Nam có
tăng lên nhưng vẫn là tương đối thấp so với các nước trong khu vực. Các số
liệu cho thấy Việt Nam có bất bình đẳng ở mức độ vừa phải. Phần lớn sự gia
tăng bất bình đẳng là do sự gia tăng chênh lệch giữa thành thị và nông thôn.
Nếu chỉ xét mức độ bất bình đẳng ở khu vực nông thôn thì hầu như bất bình
đẳng không hề tăng bởi chênh lệch thu nhập ở khu vực này là không cao.
Điều này chứng tỏ rằng mức độ bất bình đẳng tăng lên của Việt Nam chủ yếu
là giữa thành thị và nông thôn. Tăng trưởng của khu vực thành thị cao gấp
nhiều lần tăng trưởng của khu vực nông thôn cùng với quá trình đô thị hóa
dẫn đến chênh lệch thu nhập ngày càng tăng lên.
2.1.1. Bất bình đẳng về phân phối thu nhập
Hình 2: Thu nhập bình quân đầu người một tháng qua các năm
Nguồn: Tổng cục thống kê
Hình 3: Hệ số chênh lệch giữa nhóm người giàu nhóm người
nghèo (20%Thu nhập)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
Trung Quốc 0,447
Hàn Quốc 0,306
Nguồn: Ngân hàng phát triển Châu Á, 2006
Bảng 6: Hệ số Gini của Việt Nam
Hệ số Gini theo chi tiêu
Năm 2002 2004 2006 2008
Cả nước 0,370 0,370 0,358 0,356
Thành thị 0,353 0,332 0,329 0,347
Nông thôn 0,281 0,295 0,302 0,305
Hệ số Gini theo thu nhập
Cả nước 0,42 0,423 0,43 0,43
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2006, Ngân hàng Thế giới
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
27
Qua số liệu từ khảo sát mức sống hộ dân cư năm 2010 của Tổng cục
Thống kê, tình trạng phân hóa giàu nghèo thể hiện qua hệ số Gini ở
Việt Nam ở mức trung bình so với các nước trong khu vực.
Vào thời điểm năm 2002 (bảng 1.3) ta thấy mức độ bất bình đẳng của
Việt Nam là ít hơn Trung Quốc 0,447 và tương tự như Thái Lan 0,42. Chỉ tiêu
này cho thấy Việt Nam trong giai đoạn này vẫn còn là một nước khá bình
đẳng, mức độ bất bình đẳng của Việt Nam tương đương với một số nước
trong khu vực Đông Nam Á.
Tuy nhiên mức độ bất bình đẳng đã tăng dần theo các năm. Năm 2006,
mức độ bất bình đẳng tăng lên nhẹ và không thay đổi cho đến năm 2008
(0.43). Sau những thay đổi lớn trong tình hình kinh tế năm 2008 kèm theo
các cú sốc giá cả và lạm phát thì mức độ bất bình đẳng thu nhập đã gia tăng
một cách nhanh chóng, năm 2010 hệ số Gini là 0,46, điều này cho thấy mật
độ phân bố thu nhập ngày càng có xu hướng phân tán hơn. Tuy nhiên con số
này chưa chỉ ra sự bất bình đẳng giữa các vùng miền ở Việt Nam gia tăng ở
mức độ nào.
bằng về xã hội, công bằng về cơ hội phát triển.
Hệ quả tất yếu của bất bình đẳng về thu nhập, đó chính là bất bình đẳng
về mặt xã hội, về mặt con người. Cơ hội của các nhóm thu nhập thấp hơn
ngày càng giảm đi, điều đó cũng có nghĩa tương lai họ càng không có đủ kiến
thức và kỹ năng để có thể tham gia vào thị trường lao động mang lại thu
nhập cao hơn. Tất cả các quốc gia ngày càng quan tâm đến việc làm sao để
vừa tạo ra sự tăng trưởng phát triển và vừa đem lại lợi ích cho tất cả mọi
thành viên trong xã hội.
Một trong những biểu hiện của bất bình đẳng về xã hội đó chính là bất
bình đẳng giới.
Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về tăng cường bình đẳng
giới và nâng cao vị thế của phụ nữ. So với các quốc gia có cùng mức độ phát
triển và thu nhập, Việt Nam có các chỉ số về bình đẳng giới khá cao: chỉ số
Phát triển giới (GDI) năm 2007 của Việt Nam là 0,732 đứng thứ 92 trong số
177 quốc gia theo Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 của Liên
hiệp quốc. Đồng thời, chỉ số HDI năm 2007 của Việt Nam là 7,33 xấp xỉ bằng
với chỉ số GDI, điều này chứng tỏ không có sự khác biệt giữa trình độ phát
triển giữa nam và nữ.
Việt Nam đã xoá bỏ được những khác biệt về giới trong giáo dục ở tất
cả các cấp học: Tỷ lệ học sinh nữ trong năm học 2008-2009 đạt 47,9% ở cấp
Tiểu học; 48,5% ở cấp Trung học Cơ sở; 52,6% ở cấp Trung học Phổ thông;
và 48,5% ở cấp Đại học. Bình đẳng về việc làm và thu nhập là cũng đạt được
những bước tiến quan trọng; trong số lao động mới tăng thêm hàng năm, nữ
giới chiếm khoảng 49%. Phụ nữ ngày càng bình đẳng hơn trong công tác
quản lý lãnh đạo, trong các vị trí đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân
dân.lãnh đạo các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp.
Các thước đo khác như thước đo vị thế giới (GEM), Việt Nam xếp thứ 62
trong số 109 quốc gia và chỉ số bất bình đẳng giới (GII) xếp thứ 58 trên thế
giới.
Bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịc vụ an sinh xã hội cũng là một
hội nhiều lĩnh vực dịch vụ, y tế, giáo dục. Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch ở
nhóm người giàu cao gấp 7 lần và chi tiêu cho y tế bình quân cao gấp 2 lần
nhóm người nghèo nhất vào năm 2008. Đồng thời số giờ làm việc trung bình
của nhóm giàu nhiều hơn nhóm nghèo đến 1,6 lần, không phải vì những
người thuộc nhóm nghèo không làm việc, mà nguyên nhân chính là do tình
trạng thiếu việc làm, việc làm bấp bênh do trình độ thấp và không có chuyên
môn.
Nếu xét về thu nhập có thể Việt Nam là một nước có mức độ bất bình
đẳng vừa nhưng khi xét về bất bình đẳng xã hội, về cơ hội tiếp cận các dịch
vụ an sinh xã hội thì rất bất bình đẳng. Có một sự chênh lớn giữa những
nhóm người giàu và người nghèo trong xã hội, điều này làm cho nhóm người
nghèo càng không có đủ kiến thức và kỹ năng để có thể cải thiện cuộc sống
của chính mình và thế hệ sau này.
Kết luận: Đứng trên góc độ xã hội, có thể thấy tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam đã hướng theo mô hình tăng trưởng vì con người. Tuy nhiên bản
thân sự tiến bộ về tăng trưởng kinh tế chưa đủ để tạo nên những tiến bộ về
mặt xã hội cho con người.
3. Nguyên nhân:
3.1. Nguyên nhân khách quan
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
33
- Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại chịu thời kì chiến tranh kéo dài. Hậu
quả là cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề, ruộng đồng bỏ hoang nguồn lực chính của
các hộ gia đình bị sút giảm do mất mát trong chiến tranh, thương tật…
- Chính sách trước Đổi mới thất bại: Sau khi thống nhất đất nước, việc áp dụng chính
sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp, chính sách giá tiền lương
đã làm suy kiệt toàn bộ nguồn lực đất nước.
- Hình thức sở hữu: chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập thể trong một
thời gian dài đã làm động lực sản xuất bị hạn chế.
- Sự phát triển trong từng ngành chưa phù hợp:
Thiếu
vốn
Thiếu
đất
Thiếu
LĐ
Thiếu
kinh
nghiệm
Bệnh
tật
Tệ
nạn
Rủi ro Đông
người
Cả nước 63,69 20,82 11,40 31,12 16,94 1,18 1,65 13,60
1.Đông Bắc
2.Tây Bắc
3.Đồng bằng sông Hồng
4.Bắc Trung Bộ
5.Duyên hải Nam Trung Bộ
6.Tây Nguyên
7.Đông Nam Bộ
8.Đồng bằng sông Cửu Long
55,20
73,60
54,96
80,95
50,84
14,42
31,95
9,03
17,54
4,22
2,30
0,58
1,46
0,80
0,83
1,22
0,37
0,87
1,26
0,52
2,39
1,92
1,34
1,32
0,39
1,80
12,08
9,39
7,30
16,61
20,71
13,72
9,50
11,95
Nguồn: Viện Thông tin Khoa học Xã hội
Trên phương diện xã hội, đói nghèo biểu hiện qua tỷ lệ lao động thất
nghiệp, mức độ thấp kém của đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội, bao gồm
giáo dục, khoa học-kỹ thật, văn hóa và các lĩnh vực khác như y tế, chăm sóc
sức khỏe cộng đồng và phúc lợi xã hội.
• Y tế: Tỷ lệ nghèo cao, chi tiêu cho phúc lợi xã hội không đủ để đáp ứng
nhu cầu tối thiểu đến tất cả người nghèo. Ba bệnh dịch chủ yếu của sự
đói nghèo là AIDS, sốt rét và lao. Điều này phản ánh mối quan hệ giữa
nghèo đói và sức khỏe kém.
Nguy cơ già yếu trong nghèo đói, không có nguồn sinh sống đang trở
thành vấn đề rất được quan tâm.
• Giáo dục (mù chữ): Nghèo đói là rào cản chính để trẻ em không có điều
kiện đến trường và hưởng một nền giáo dục có chất lượng. Ở Việt Nam,
với phần lớn trẻ em dân tộc thiểu số, các em có thể bị đói ăn, suy dinh
dưỡng trước và ngay trong khi đi học, không đủ tiền để mua đồ dùng
học tập, quần áo và thức ăn, áp lực bỏ học để chăm sóc cho người thân,
giúp đỡ cha mẹ về kinh tế.
Theo bác cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UNICEF, UNESCO, tới năm
2008 90% số trẻ em hoàn thành bậc giáo dục tiểu học trên toàn quốc.
Tuy nhiên, con số này ở Tây Nguyên là 43%, vùng núi phía Bắc là 48%.
Như vậy, ở miền núi có tới 1/3 trẻ em không được học hết lớp 5.
4.3. Ảnh hưởng của đói nghèo đến môi trường
Nạn đói nghèo là một trong những nguyên nhân chính đe dọa và phá
hủy môi trường. Tại Việt Nam các vấn đề có nguyên do từ nạn nghèo làm cản
trở quá trình bảo vệ môi trường.
Thứ nhất, nghèo đói làm cho người dân chỉ có con đường duy nhất là
khai thác tài nguyên thiên nhiên (rừng, khoáng sản, đất đai…) mà không có
khả năng hoàn phục. Tốc độ khai thác tài nguyên theo hướng quá mức hay
hủy diệt. Thứ hai, nghèo đói dẫn đến thiếu vốn đầu tư sản xuất, đặc biệt là
cho các dự án cải tạo môi trường.
Ngoài ra, nghèo đói khiến người ta không tiếp xúc được với công nghệ
+ Dự án Xây dựng mô hình xóa đói giảm nghèo ở các vùng đặc
biệt
- Nhóm các dự án Xoá đói giảm nghèo cho các xã nghèo nằm ngoài
chương trình 135:
+ Dự án Xây dựng cơ sở hạ tầng ở các xã nghèo;
+ Dự án Hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề ở các xã
nghèo;
+ Dự án Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác xoá đói giảm
nghèo và cán bộ các xã nghèo;
+ Dự án ổn định dân di cư và xây dựng vùng kinh tế mới ở các xã
nghèo
+ Dự án Định canh định cư ở các xã nghèo.
- Nhóm các dự án Việc làm:
+ Dự án Tổ chức cho vay vốn theo các dự án nhỏ giải quyết việc
làm thông qua Qũy Quốc gia hỗ trợ việc làm;
+ Dự án Nâng cao năng lực và hiện đại hoá các Trung tâm dịch vụ
việc làm;
+ Dự án Điều tra, thống kê thị trường lao động và xây dựng hệ
thống thông tin thị trường lao động;
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
41
+ Dự án Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác giải quyết việc
làm.
1.2. Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-
2010
a) Mục tiêu:
- Phấn đấu xoá đói;
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10-11% đến năm 2010.
b) Nội dung:
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo là một chương trình quốc
Tiếp theo là giai đoạn II (2006-2010).
2.1. Giai đoạn 1 (1997-2006) :
Đánh giá đói nghèo Việt Nam 2001 - 2010
43
Mục tiêu
- Phát triển sản xuất, nâng cao mức sống cho các hộ dân tộc thiểu số;
- Phát triển cơ sở hạ tầng;
- Phát triển các dịch vụ công cộng địa phương thiết yếu như điện, trường
học, trạm y tế, nước sạch
- Nâng cao đời sống văn hóa.
2.2. Giai đoạn 2 (2006-2010):
Mục tiêu
- Tạo sự chuyển biến nhanh về sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường; cải thiện và
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các
xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn một cách bền vững, giảm khoảng cách
phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong cả nước.
- Phấn đấu đến năm 2010, trên địa bàn cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ
nghèo xuống còn dưới 30% theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định
số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính
phủ.
2.3. Nội dung chính chương trình
Hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng
cao trình độ sản suất của đồng bào các dân tộc. Đào tạo cán bộ khuyến
nông thôn bản. Khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. Xây dựng các
mô hình sản xuất có hiệu quả, phát triển công nghiệp chế biến bảo quản.
Phát triển sản xuất: Kinh tế rừng, cây trồng có năng suất cao, chăn nuôi
gia súc, gia cầm có giá trị.
Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó
khăn. Làm đường dân sinh từ thôn, bản đến trung tâm xã. Xây dựng
11,9% (giai đoạn 2002 – 2003).
- Bên cạnh đó, trong giai đoạn này, Việt Nam còn đạt được một số kết
quả trong công bằng xã hội đặc biệt là bình đẳng giới và bình đẳng
trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục… Cụ thể, Việt
Nam có tỷ lệ biết chữ của dân số trên 10 tuổi rất cao, trên 91%, trong
đó tỷ lệ biết chữ của phụ nữ là 88% và của nam giới là 94%. Việc tiếp
cận các dịch vụ y tế, chữa bệnh của người nghèo đã được cải thiện đáng
kể, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng từ 67 năm (năm 1999)
lên 70 năm (năm 2002), riêng tuổi thọ trung bình của phụ nữ đạt 73
năm.
2. Giai đoạn 2006-2010
- Đạt được thêm nhiều kết quả đáng khích lệ về giảm nghèo trong bối
cảnh nguồn lực có hạn. Cùng với việc phát triển kinh tế, Việt Nam đã
quan tâm và ưu tiên các nguồn lực cho giảm nghèo. Với việc giảm 50%
nghèo vào năm 2005,và cho đến nay đã giảm được 75% tỷ lệ nghèo (so
với đầu thập kỷ 90), Việt Nam chuyển vị trí từ nước nghèo nhất sang
nhóm nước có mức thu nhập trung bình thấp. Tỷ lệ hộ nghèo giảm
xuống 9,45% năm 2010 từ mức 22% năm 2005 và tốc độ giảm vượt
mức 2%/năm.
- Một số kết quả đạt được của chương trình Mục tiêu quốc gia Xóa đói
giảm nghèo giai đoạn 2006-2010
Bảng 10 : Đánh giá kết quả chương trình mục tiêu xóa đói giảm
nghèo giai đoạn 2006-2010
Các chương trình/dự án Mục tiêu Kết quả đạt được
1.Hướng dẫn cho người
nghèo học cách làm ăn,
khuyến nông-lâm-ngư
4,2 triệu lượt
người nghèo
Ước đạt 3,7 triệu lượt người