1
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA
“ TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ ”TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây việc tăng cường các phương pháp dạy học tích cực
ở các trường THPT đã đem lại nhiều kết quả . Bên cạnh đó còn có những
nhược điểm sau đây:
- Một bộ phận của giáo viên còn bảo thủ trong nhận thức và thói quen dạy
học thụ động, nặng đối phó với thi cử , quen dạy "chay", ngại sử dụng thiết bị
dạy học
- Một số khác thì lại lạm dụng trực quan, lạm dụng máy chiếu Nếu không
cẩn thận sẽ có tác dụng trái chiều.
Đổi mới phương pháp dạy học ở bậc phổ thông là hết sức cấp thiết nhưng
điều quan trọng là phải chú trọng đến hiệu quả của nó. Xuất phát từ những lý
do trên , nên tôi chọn đề tài: “ Phát huy tính tích cực của học sinh thông qua
tình huống có vấn đề trong dạy học vật lý”.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
1.1. Khái niệm tình huống
Một tình huống nào đó đối với một chủ thể là một hoàn cảnh cụ thể mà một
chủ thể được đặt vào đó, nó tác động vào chủ thể, kích thích chủ thể hoạt
động, đặt ra cho chủ thể nhiệm vụ nào đó.
Tình huống học tập trong dạy học là tình huống được tổ chức bởi giáo viên
nhằm đưa học sinh vào những hoạt động học tập xác định theo mục tiêu dạy
học
2
1.2. Khái niệm tình huống học tập trong dạy học
Tình huống học tập trong dạy học là tình huống được tổ chức bởi giáo viên
nhằm đưa học sinh vào những hoạt động học tập xác định theo mục tiêu dạy
học
1.3. Khái niệm vấn đề
Khi đứng trước một tình huống có vấn đề học sinh gặp phải một khó khăn
không giải quyết được bằng vốn hiểu biết và kinh nghiệm cũ của bản thân.
Nhu cầu nhận thức và sự tò mò, hứng thú đã thúc đẩy học sinh tìm tòi phát
hiện để tìm ra câu trả lời.
Khi bị cuốn hút vào bài toán có vấn đề, học sinh càng say mê tìm tòi phát
hiện và cường độ tích cực càng cao, khi nhu cầu nhận thức của học sinh càng
tăng và quyết tâm tìm ra lời giải càng mãnh liệt. Bởi vậy nếu trong giờ học ta
đặt ra một mà một chuỗi các các bài toán nêu vấn đề thì có thể duy trì được
trạng thái tích cực của học sinh với sự hưng phấn và say mê tìm kiếm giải
quyết vấn đề.
c. Niềm vui, hạnh phúc của sự phát hiện
Học sinh sau khi trải qua trạng thái căng thẳng trong việc giải quyết vấn đề
gay cấn khi tìm được lời giải cũng là lúc các em có được niềm vui và hạnh
phúc của người phát hiện
1.6. . Điều kiện để tạo được tình huống có vấn đề trong học tập
a. Trước hết giáo viên phải xác định rõ kiến thức cần xây dựng là gì, mức độ
và yêu cầu của nó đối với học sinh. Từ đó xây dựng câu hỏi cơ bản và dự
kiến được những khó khăn học sinh gặp phải khi trả lời câu hỏi. Để có
được điều này , giáo viên phải căn cứ vào các tri thức khoa học cần dạy,
vào các quan niệm, kiến thức đã có của học sinh liên quan đến kiến thức
cần xây dựng
4
b. Trên cơ sở của điều kiện thứ nhất giáo viên phải soạn thảo được một
nhiệm vụ có tiềm ẩn vấn đề giao cho học sinh. Bên cạnh đó cần chuẩn bị
cho học sinh những điều kiện cần thiết để họ nhận thấy tự mình có thể
giải quyết được vấn đề. Trong nhiệm vụ đề ra có 2 yếu tố cơ bản : dữ kiện
cung cấp và lệnh hoặc câu hỏi cho học sinh
c. Trên cơ sở của hai điều kiện trên giáo viên dự định tiến trình định hướng
giúp đỡ học sinh một cách hợp lý. Việc đảm bảo cho học sinh giải quyết
thành công từng bước sẽ tạo cho học sinh một tâm trạng phấn khởi, kích
thuẫn nhận thức: Trong không khí sự rơi nhanh hay chậm không phụ thuộc
vào trọng lượng của các vật như các em nghĩ mà phụ thuộc vào yếu tố nào?
Học sinh sẽ nhận thức đúng : Trong không khí vật rơi nhanh hay chậm là do
sức cản của không khí.
b. Tình huống xung đột
Là tình huống mà những sự kiện, hiện tượng xảy ra trái ngược với suy nghĩ
học sinh. Điều đó tạo ra sự xung đột trong tư duy học sinh.
Ví dụ :
Trước khi học hiện tượng quang điện , học sinh đã biết ánh sáng có tính chất
sóng. Tuy nhiên , khi học đến hiện tượng quang điện nếu học sinh vận dụng
về hiểu biết của mình về ánh sáng để giải thích thì gặp phải khó khăn , phải
đi đến một giả thyết trái ngược với kiến thức cũ biết trước đó : ánh sáng có
tính chất hạt.
c. Tình huống bất ngờ:
Là tình huống mà những sự kiện, hiện tượng xảy ra trong tình huống thường
người ta không ngờ tới.
Ví dụ: Khi nghiên cúu hiện tượng mao dẫn ( vật lý 10) .
6
Ta làm thí nghiệm dùng những ống thủy ngân có tiết diện trong ống khác
nhau , rất nhỏ và hở ở hai đầu. Nếu nhúng các ống thủy tinh vào trong một
chậu nước . Yêu cầu học sinh quan sát và so sánh mực nước trong các ống và
mực nước bên ngoài ?
Học sinh sẽ bất ngờ khi thấy rằng mực nước trong ống cao hơn mực nước ở
ngoài ống . Tiết diện càng nhỏ thì mực nước trong ống càng dâng lên cao.
Tình huống này trái ngược với nhận thức đã có của học sinh.
d.Tình huống không phù hợp
Làm cho học sinh băn khoăn, nghi ngờ những sự kiện gặp phải vì chúng trái
với những tiêu chuẩn, những qui tắc đã được rút ra từ một điều khẳng định
nào đó trước đấy. Do đó cần phải tìm hiểu cả những sự kiện mới lẫn những
tiêu chuẩn đã có để tìm chân lý. Tình huống này dẫn đến việc lựa chọn , hoàn
các mẫu xốp đó.
Học sinh: Đa số học sinh cho rằng không có hiện tượng gì xảy ra
Thí nghiệm thổi khí vào trong phễu lớn
8
Giáo viên tiến hành thí nghiệm. Điều bất ngờ đã xảy ra đối với học sinh: các
mẫu xốp ban đầu hút nhau và dính lại với nhau. Sau khi ta nhỏ giọt nước xà
phòng vào giữa các mẫu xốp đó, chúng tản ra rất nhanh ra phía thành khay.
Mở đầu cho bài học bằng một thí nghiệm này thì khi đó học sinh thực sự bị
kích thích và các em rất hứng thú.
Ví dụ 3: Khi dạy kiến thức quán tính ( Ba định luật Niu Tơn- vật lý 10) thì
ta nên đưa ra một thí nghiệm để tạo sự hứng thú cho học sinh:
Đặt một cốc nước trên một tờ giấy rồi đặt ở một mép bàn.
Dùng tay giật mạnh tờ giấy theo phương ngang , cốc nước không bị đổ, còn tờ
giấy đã ở ngoài rồi.
b. Tạo ra tình huống vấn đề bằng một câu hỏi về một hiện tượng vật lý .
Ví dụ 4 : Khi dạy bài định luật bảo toàn mô men động lượng vật rắn
( 12 nâng cao) : Mở bài nên đặt câu hỏi: tại sao khi nhảy từ ván cầu xuống
nước , các vận động viện thường thực hiện động tác gập người và bó gối thật
chặt lúc xoay người trên chân không ?
c. Tạo ra tình huống bằng một bài tập
Ví dụ 5 : Khi dạy phần kiến thức hiện tượng phản xạ toàn phần ( phản
xạ toàn phần – vật lý 11 nâng cao)
Tình huống không phù hợp bắt đầu từ bài toán:
Chiếu ánh sáng đi từ nước sang không khí với góc tới i=60
0
. Biết chiết suất
của nước là 4/3. Tìm góc khúc xạ.
Học sinh áp dụng định luật khúc xạ sẽ tính được sin r > 1. Như vậy xuất hiện
trong câu hỏi học sinh là tại sao?
9
Lớp đối chứng và lớp thực nghiệm đều cùng một giáo viên dạy
Hình thức kiểm tra 15 phút .
Kiến thức kiểm tra: hiện tượng và điều kiện phản xạ toàn phần .
Kết quả bảng điểm
Nhóm
SỐ
HS
SỐ
BÀI
KT
Điểm < 3.5 3.5≤Điểm<5 Điểm ≥5 Điểm≥8
Số HS số % Số HSsố % Số HSSố % Số HS Số %
ĐC 46 46 4 8,6% 5 10, 86% 37 80,43% 6 13%
TN 45 45 1 2,2% 2 4,4% 42 93,3% 13 28.8%
Qua bảng điểm ta thấy :
- Lớp thực nghiệm có số học sinh trên trung bình cao hơn lớp đối chứng
khoảng 13 % , số học sinh trên 8 tăng nhiều và số học sinh yếu kém giảm rõ
rệt .
Như vậy một số bài dạy vật lý thiết kế theo hướng tạo tình huống có vấn đề
làm tăng hứng thú cho học sinh và nâng được kết quả giảng dạy.
IV. ĐỀ XUẤT , KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Tạo tình huống có vấn đề trong dạy học vật lý là một trụ cột của
phương pháp dạy học tích cực : “ Dạy học trên cơ sở vấn đề”. Tình
huống có vấn đề là qui luật của hoạt động nhận thức sáng tạo có hiệu
quả. Một số bài vật lý thiết kế theo kiểu này rất dễ khả thi, đem lại chất
lượng cao
Tạo tình huống có vấn đề trong dạy học vật lý có thể dùng để mở đầu
cho một một bài học , hoặc dùng để giới thiệu một mục nào của bài
11
chứ
c
hoạ
t
động
nhận
thứ
c c
ủa
họ
c
sinh
t
rong
dạ
y
họ
c v
ậ
t lí
ở
tr
ường
phổ
thông,
4. Lê
Thị
Thanh
Thảo,
Lí
luận
dạ
y
họ
c
hiện
đạ
i
ở
tr
ường
phổ
thông
(bài giảng
cho
Minh.
5. Phạm Hữu Tòng ( 2004) . Dạy học vật lý ở trường phổ thông theo định hướng
phát triển hoạt động học tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học
12
MỤC LỤC
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA 1
“ TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ ”TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 1
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1
1. Cơ sở lý luận 1
1.1. Khái niệm tình huống 1
1.2. Khái niệm tình huống học tập trong dạy học 2
1.3. Khái niệm vấn đề 2
1.4. Tình huống có vấn đề 2
1.5 . “Tại sao nói tình huống có vấn đề’’ tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh2
1.6. . Điều kiện để tạo được tình huống có vấn đề trong học tập 3
1.7.Lệnh và câu hỏi trong tình huống vật lý 4
2.Nội dung , biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài 4
2.1. Các kiểu tình huống có vấn đề 4
2.2. Các biện pháp tạo ra tình huống có vấn đề 6
III . HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI : 9
1. Thu thập dữ liệu bằng phưong pháp quan sát: 9
2. Thu thập kết quả bằng bài kiểm tra : 9
IV. ĐỀ XUẤT , KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 10
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
13