MỞ ĐẦU
I – LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hoá học là bộ môn khoa học quan trọng trong nhà trường phổ
thông. Môn hoá học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ
thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, giáo viên bộ môn hoá
học cần hình thành ở các em một kỹ năng cơ bản, phổ thông và thói
quen học tập và làm việc khoa học làm nền tảng cho việc giáo dục xã
hội chủ nghĩa, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động. Có
những phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ,
chính xác, yêu chân lí khoa học, có ý thức trách nhiệm với bản thân,
gia đình, xã hội có thể hoà hợp với môi trường thiên nhiên, chuẩn bị
cho học sinh lên và đi vào cuộc sống lao động.
Trong môn hoá học thì bài tập hoá học có một vai trò cực kỳ quan
trọng nó là nguồn cung cấp kiến thức mới, vận dụng kiến thức lí thuyết,
giải thích các hiện tượng các quá trình hoá học, giúp tính toán các đại
lượng: Khối lượng, thể tích, số mol Việc giải bài tập sẽ giúp học sinh
được củng cố kiến thức lí thuyết đã được học vận dụng linh hoạt kiến
thức vào làm bài. Để giải được bài tập đòi hỏi học sinh không chỉ nắm
vững các tính chất hoá học của các đơn chất và hợp chất đã học, nắm
vững các công thức tính toán, biết cách tính theo phương trình hóa học và
công thức hoá học. Đối với những bài tập đơn giản thì học sinh thường đi
theo mô hình đơn giản: Như viết phương trình hoá học, dựa vào các đại
lượng bài ra để tính số mol của một chất sau đó theo phương trình hoá
học để tính số mol của các chất còn lại từ đó tính được các đại lượng theo
yêu cầu của bài . Nhưng đối với một số dạng bài tập thì nếu học sinh chỉ
áp dụng theo phương pháp thông thường thì rất mất nhiều thời gian làm
bài hơn nữa lại trình bày dài dòng và khó hiểu.Qua giảng dạy tôi thấy
rằng phương pháp giải nhanh các bài toán là một vấn đề rất quan trọng,
cần phải giải quyết được thì mới nâng cao được chất lượng học tập của
học sinh, đặc biệt là học sinh giỏi. Chính vì những lý do trên mà tôi đã
chọn đề tài : “ Phương pháp giải nhanh một số dạng bài tập hóa học”
- Tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của một số đồng nghiệp .
- Áp dụng đề tài vào chương trình giảng dạy đối với học sinh lớp 9
đại trà và ôn thi học sinh giỏi
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN
I- Cơ sở lí luận.
Như chúng ta đã biết các bài tập hoá học rất phong phú và đa dạng.
Mỗi dạng bài tập hoá học đều có nguyên tắc riêng và có phương pháp giải
đặc trưng riêng. Tuy nhiên do việc phân loại các bài tập hoá học chỉ mang
tính tương đối, vì vậy trong mỗi loại bài tập loại này thường chứa đựng
một vài yếu tố của loại bài tập kia. Điều đó giải thích tại sao có nhiều bài
toán hoá học giải được bằng nhiều cách giải khác nhau. Để giải được một
bài toán không phải chỉ đơn thuần là giải ra đáp số mà việc biết giải khéo
léo, tiết kiệm được thời gian mà vẫn cho kết quả chính xác mới là điều
quan trọng.
Về nguyên tắc, muốn giải nhanh và chính xác một bài toán hoá học thì
nhất thiết học sinh phải hiểu sâu sắc nội dung và đặc điểm của bài toán
đó, nắm vững các mối quan hệ giữa các lượng chất cũng như tính chất
của các chất, viết đúng các phương trình phản ứng xảy ra. Thực tế có rất
nhiều bài toán rất phức tạp: các dữ kiện đề bài cho ở dạng tổng quát ,
hoặc không rõ, hoặc thiếu nhiều dữ kiện …tưởng chừng như không bao
giờ giải được. Muốn giải chính xác và nhanh chóng các bài toán loại này
thì phải chọn một phương pháp phù hợp nhất ( phương pháp giải thông
minh ).
Tôi nghĩ, giáo viên giảng dạy môn hóa học đặc biệt là giáo viên bồi
dưỡng học sinh giỏi sẽ không đạt được mục đích nếu không biết chọn lọc
những phương pháp giải toán thông minh, nêu ra đặc điểm của phương
pháp và nguyên tắc áp dụng. Các phương pháp này là cẩm nang giúp học
sinh biết tìm hướng giải dễ dàng, hạn chế tối đa những sai lầm trong quá
trình giải bài tập, đồng thời phát triển tìm lực trí tuệ cho học sinh ( thông
qua các bài tập tương tự mẫu và các bài tập vượt mẫu ).
3- Điểm hạn chế của đề tài
- Đề tài khó áp dụng vào việc giảng dạy trực tiếp trên lớp mà chủ yếu áp
dụng vào việc bồi phụ học sinh ngoài giờ hoặc bồi dưỡng đội tuyển học
sinh giỏi.
- Đề tài chỉ đề cập một số phương phương pháp giải nhanh cơ bản.
CHƯƠNG II : NỘI DUNG
I. PHƯƠNG PHÁP TỰ CHỌN LƯỢNG CHẤT.
1- Cơ sở lí thuyết.
- Với các bài toán đề bài cho các lượng chất dưới dạng tổng quát ( dạng
tỉ lệ mol, tỉ lệ % theo thể tích, khối lượng , hoặc các lượng chất đề bài cho
đều có chứa chung một tham số : m (g), V(l), x(mol)…) thì các bài toán
này sẽ có kết quả không phụ thuộc vào lượng chất đã cho.
- Phương pháp tối ưu nhất là tự chọn một lượng chất cụ thể theo hướng
có lợi cho việc tính toán, biến bài toán từ phức tạp trở nên đơn giản. Sau
khi đã chọn lượng chất thích hợp thì bài toán trở thành một dạng rất cơ
bản, việc giải toán lúc này sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.
Chú ý: Nếu bài toán khảo sát về % m ( hoặc % V ) của hỗn hợp thì
nên coi hỗn hợp có khối lượng 100 gam ( Quy về 100 ). Trong các phản
ứng hoá học thì thường chọn số mol chất bằng hệ số trong PTHH.
2 – Ví dụ :
* Ví dụ 1 :
Cho m gam hỗn hợp Na và Fe tác dụng hết với axít HCl. Dung dịch thu
được cho tác dụng với Ba(OH)
2
dư rồi lọc lấy kết tủa tách ra , nung trong
không khí đến lượng không đổi thu được chất rắn nặng m gam. Tính %
lượng mỗi kim loại ban đầu ?
Gợi ý HS
GV giúp HS phát hiện đượcđây là dạng bài đề cho ở dạng tổng quát và
chú ý các dữ kiện : hỗn hợp tác dụng hết với axit HCl, dung dịch thu
+ BaCl
2
(3)
PTHH xảy ra khi nung kết tủa trong không khí :
4Fe(OH)
2
+ O
2
→
2Fe
2
O
3
+ 4H
2
O (4)
Gọi m = m
Fe +
m
Na
= 100gam
Theo đề bài
2 3 2 3
Fe O Fe O
100
m 100gam n 0,625mol
160
⇒ = ⇒ = =
- Theo PTHH (4):
hoặc giả sử
có 1 mol oxit đã tham gia phản ứng.
Giải :
Đặt công thức tổng quát của oxit là R
2
O
x
( x là hoá trị của R )
Giả sử hoà tan 1 mol R
2
O
x
R
2
O
x
+ xH
2
SO
4
→ R
2
(SO
4
)
x
+ xH
2
O
= 12x
Vì x là hoá trị của kim loại trong oxit bazơ nên : 1 ≤ x ≤ 4
Biện luận:
x 1 2 3 4
M
R
12 24 36 48
Vậy kim loại là Mg ; oxit kim loại là : MgO
* Ví dụ 3 :
Cho a gam dung dịch H
2
SO
4
loãng nồng độ C% tác dụng hoàn toàn với
hỗn hợp 2 kim loại K và Fe ( Lấy dư so với lượng phản ứng ). Sau phản
ứng, khối lượng khí sinh ra là 0,04694 a (g). Tìm giá trị C% ?
Gợi ý HS :
GV : gợi ý cho HS phát hiện ra vì kim loại lấy dư nên toàn bộ lượng axit
và nước trong dung dịch đều phản ứng. Các lượng chất đều cho dưới
dạng tổng quát ( chứa chung tham số a ), vì vậy bài toán sẽ không phụ
thuộc vào lượng a (gam ).
HS : Nêu cách chọn lượng chất : chọn a = 100 gam.
Giải :
Giả sử a = 100 g ⇒
2 4
2
2
( )
100 ( )
4,694( )
SO
4
→
FeSO
4
+ H
2
(2)
2K
(dư)
+ 2H
2
O
→
2KOH + H
2
(3)
Theo các ptpư (1),(2),(3) ta có :
2 2 4 2
1 100 4,694
( )
2 18 2
C 1
+
98 2
H H SO H O
c
n n n
thì lượng H
2
thoát ra bằng 1% lượng hỗn hợp đem thí nghiệm. Nếu khử a
gam hỗn hợp bằng H
2
nóng, dư thì thu được 1 lượng nước bằng 21,15%
lượng hỗn hợp đem thí nghiệm. Xác định % mỗi chất trong hỗn hợp.
Đáp án :
2 3
%Fe 28%
%FeO 35,8 %
%Fe O 36,2%
=
=
=
Bài 3.
Hỗn hợp gồm CaCO
3
lẫn Al
2
O
3
và Fe
2
O
II. PHƯƠNG PHÁP TĂNG GIẢM KHỐI LƯỢNG
1- Cơ sở lí thuyết.
Ngun tắc của phương pháp này là dựa vào sự tăng hoặc giảm khối
lượng trong q trình làm biến đổi chất này thành chất khác. Về bản chất
phương pháp này dựa trên cơ sở của định luật bảo tồn khối lượng, vì vậy
trong nhiều tài liệu dạy học hố học nhiều tác giả ví phương pháp này và
phương pháp bảo tồn khối lượng như “anh em sinh đơi”.
-Phương pháp chung:
+) Tìm độ tăng ( hoặc giảm ) khối lượng theo PTHH (
m∆
2
)
+) Tìm độ tăng ( hoặc giảm ) khối lượng theo đề (
m
∆
1
)
+) Suy luận để tìm số mol của các chất phản ứng và chất sản phẩm,
hoặc có thể tìm nhanh số mol của một chất A theo cơng thức sau :
A
độ tăng theo đề ( m )
n hệ số
độ tăng theo ptpư ( m )
∆
= ×
∆
1
2
Như vậy nếu biết độ tăng ( giảm ) khối lượng theo đề bài thì ta luôn
+ 2HCl
→
M
Cl
2
+ H
2
O + CO
2
1mol 1mol 1mol
⇔ (
M
+ 60)g (
M
+ 71)g
Theo ptpư : Cứ 1mol muối cacbonat chuyển thành 1mol muối clorua thì
khối lượng muối tăng lên : 71 - 60 = 11 gam
Vậy số mol CO
2
= số mol
M
CO
3
=
m , ,
,
,
−
= =
3
)
2
và Pb(NO
3
)
2
đã phản ứng hết.Suy ra số mol Pb(NO
3
)
2
ở 2 phản ứng
bằng nhau.
-Bài toán này vẫn có thể giải được bằng phương pháp đại số kết hợp
với ghép ẩn số.
Giải:
Đặt công thức muối nitrat ban đầu là R(NO
3
)
2
Các phương trình phản ứng:
R(NO
3
)
2
+ Pb
→
Pb(NO
3,02
207 56
= 0,2 (mol)
Pb NO
n
=
−
Suy ra ta có :
28,6
207
= 0,2 R = 64 ( Cu )
R
⇒
−
Vậy công thức phân tử của muối nitrat : Cu(NO
3
)
2
3.Bài
tập áp dụng.
Bài 1.
Hoà tan 20gam hỗn hợp hai muối cacbonat kim loại hoá trị 1 và 2 bằng
dung dịch HCl dư thu được dung dịch X và 4,48 lít khí (ở đktc) tính khối
lượng muối khan thu được ở dung dịch X.
Đáp số :
M
(Muối khan)
= 20 + 2,2 = 22,2 (gam)
Bài 2.
III. PHƯƠNG PHÁP ÁP DỤNG ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN
NGUYÊN TỐ , BẢO TOÀN KHỐI LƯỢNG
1- Cơ sở lí thuyết.
Trong các phản ứng hoá học, “ tổng số mol nguyên tử của một nguyên
tố hoặc nhóm nguyên tử trước phản ứng và sau phản ứng luôn bằng
nhau”
Ý nghĩa của phương pháp :
Phương pháp này giúp giải nhanh các bài toán có nhiều biến đổi hoá
học phức tạp hoặc các bài tập hỗn hợp phức tạp, chẳng hạn : các bài toán
xảy ra phản ứng giữa các hỗn hợp muối, axit, bazơ …
Ví dụ : Phản ứng trung hoà hỗn hợp axit với hỗn hợp bazơ được biểu
diễn tổng quát:
yR(OH)
x
+ xH
y
E
→
R
y
E
x
+ xyH
2
O
Theo PTPƯ ta có :
( (
2
OH H O
cuûa axit) = n cuûa bazô) = n
0,76 0,57
1000 1000
KOH
mol ; n mol
Ba OH
n
= = = =
Suy ra :
2
( ) ( )
2. 2.0,76 0,57 2,09
KOH
+ n mol
OH Ba OH
n n
−
= = + =
Các phương trình phản ứng:
KOH + HCl
→
KCl + H
2
O
2KOH + H
2
SO
4
→
( (
OH
cuûa axit) = n cuûa bazô) = 2,09 mol
H
n
(1)
Đặt V (l) là thể tích dung dịch Axit
⇒
(
2 4
H SO HCl
cuûa axit) = 2 n + n 2 1,1V+1,98V= 4,18V (mol)
H
n
× = ×
(2)
Từ (1),(2) ta có : 4,18 V = 2,09 ⇒ V = 0,5 lít
* Ví dụ 2 :
Có 1 lít dung dịch hỗn hợp Na
2
CO
3
0,1M và (NH
4
)
2
CO
3
0,25M. Cho
3
)
Giải:
Từ công thức Na
2
CO
3
và (NH
4
)
2
CO
3
⇒
3
( 0,1 0,25
goác 2muoái
ban ñaàu) = 0,35 mol
CO
n n
= = +
∑
Đặt RCl
2
là công thức đại diện cho hỗn hợp BaCl
2
và CaCl
2
. Ta có các
thì khối lượng giảm 71 –60 =11 g
Do đó :
3 2 3 4 2 3
( )
( 0,3
43-39,7
p.öùng) mol
11
CO Na CO NH CO
n n n= + = =
∑
< 0,35
Vậy lượng (CO
3
) còn dư nên hỗn hợp BaCl
2
và CaCl
2
đã phản ứng hết.
Gọi x, y là số mol của BaCO
3
và CaCO
3
trong kết tủa A, ta có:
197 100 39,7
0,3 0,2
x=0,1
A
x y
Ta có thể xác định sơ đồ phản ứng:
Fe
→
3
x y
HNO
Fe O
Fe(dö)
+
→
Fe(NO
3
)
3
+ NO + H
2
O
số mol Fe trong muối = số mol Fe ( ban đầu )
số mol HNO
3
( pư) = số mol NO + số mol N trong Fe(NO
3
)
3
Giải :
2Fe + O
2
→ 2FeO (1)
2
O (4)
3FeO + 10HNO
3
→ 3Fe(NO
3
)
3
+ NO + 5H
2
O (5)
3Fe
3
O
4
+ 28HNO
3
→ 9Fe(NO
3
)
3
+ NO + 14H
2
O (6)
Fe
2
O
3
+ 6HNO
3
Cho 7,8 gam hỗn hợp kim loại Al và Mg tác dụng với HCl thu được
8,96 lít H
2
(ở đktc). Hỏi khi cô cạn dung dịch thu được bao nhiêu gam
muối khan.
Đáp án :
m
muối khan
= 36,2 gam
Bài 2 :
Hoà tan hoàn toàn 3,22g hỗn hợp X gồm Fe, Mg và Zn bằng một lượng
vừa đủ dung dịch H
2
SO
4
loãng, thu được 1,344 lit hiđro (ở đktc) và dung
dịch chứa m gam muối. Tính m?
Đáp án :
m = 8,98 gam
Bài 3 :
Khử 3,48 g một oxit của kim loại M cần dùng 1,344 lít H
2
. Toàn bộ
lượng kim loại thu được cho tác dụng với HCL dư thu được 1,008 lít H
2
(đktc). Xác định kim loại M và oxit của nó ?
Đáp án :
Kim loại : Fe
Oxit : Fe
3
Có thể dùng phương pháp đại số ( đặt số mol muối tan và muối KT lần
lượt là x mol, 2x mol )
Ta có thể giải nhanh bài toán bằng cách nhập 2 phản ứng thành 1 phản
ứng theo tỉ lệ mol của muối là 2: 1
Giải:
0,03
2
0,672
Soá mol cuûa CO = mol
22,4
=
Các phương trình phản ứng xảy ra: :
CO
2
+ Ca(OH)
2
→
CaCO
3
↓ + H
2
O (1) × 2
2CO
2
+ Ca(OH)
2
→
Ca(HCO
2
0,015 M đã dùng là :
0,0225
1,5
0,015
M
n
V
C
= = =
lít
Chú ý : Nếu 0,672 lít khí là của hỗn hợp CO
2
và SO
2
thì đặt công
thức chung của 2 oxit là RO
2
và bài toán vẫn được giải nhanh chóng và
đơn giản.
Ví dụ 2:
Hoà tan hoàn toàn 10,8 gam kim loại Al vào trong dung dịch HNO
3
thì
sau phản ứng thu được một dung dịch X và hỗn hợp khí Y gồm 2 khí NO
và N
2
O có tỉ khối đối với khí Hiđro bằng 19,2. Tính thể tích của mỗi khí
trong hỗn hợp Y ( đktc).
30 5,6
38,4
Khí 2(N
2
O): n
2
44 8,4
Suy ra ta có :
1
2
5,6 2
8,4 3
n
n
= =
Các phương trình phản ứng :
Al + 4HNO
3
→
Al(NO
3
)
3
+ NO + 2H
2
O (1) × 2
8Al + 30HNO
3
→
8Al(NO
n n= × = × =
⇒ V
NO
= 0,08 × 22,4 = 1,792 lít ;
suy ra :
2
3
1,792 2,688
2
lít
N O
V
= × =
3- Bài tập áp dụng.
Bài 1:
Đốt cháy hoàn toàn 12 g Mg trong không khí được chất rắn A. Cho A
phản ứng hết với dung dịch HCl thu được m gam muối. Tìm m ?
Đáp số :
m = 59,5 gam
Bài 2 :
Trộn một dung dịch có hoà tan 0,2 mol CuCl
2
với một dung dịch có hoà
tan 20g NaOH. Lọc hỗn hợp các chất sau phản ứng, được kết tủa và nước
lọc. Nung kết tủa đến lượng không đổi.
a. Viết các PTHH.
b. Tính khối lượng chất rắn thu được sau khi nung.
Đáp số :
m
CuO
%
+ −
=
1 2
100
100
+) Giá trị của
M
nằm trong khoảng : M
1
<
M
< M
2
( giả sử M
1
< M
2
)
Đây là phương pháp cho phép giải nhanh chóng nhiều bài toán hoá
học phức tạp. Phương pháp này có thế mạnh khi giải các bài tập xác định
2 kim loại cùng một phân nhóm chính và thuộc 2 chu kỳ liên tiếp trong
bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học, hoặc xác định công thức phân tử
của các hợp chất hữu cơ đồng đẳng liên tiếp. Ngoài ra phương pháp này
cũng được sử dụng rất hiệu quả khi giải các bài toán xác định thành phần
% của một hỗn hợp.
Phương pháp chung :
+) Căn cứ các dữ kiện đề cho để tính
M
của hỗn hợp.
Hai kim loại có hoá trị và tính chất tương tự nên để đơn giản có thể
đặt một ký hiệu đại diện cho hỗn hợp 2 kim loại. Viết PTHH, Từ số
mol O
2
và khối lượng muối khan ta tính toán để tìm giá trị
M
hh
.
Giải:
Xác định kim loại A,B
Đặt
M
là kim loại đại diện cho hỗn hợp hai kim loại kiềm A,B
Gọi a là số mol của hỗn hợp ở mỗi phần
Phương trình hoá học:
2
M
+ 2HCl
→
2
M
Cl + H
2
(1)
a a
4
M
+ O
2
→
Hai kim loại kiềm liên tiếp có
M
= 32,14 thoã mãn là Na (23) và K(39)
Xác định % khối lượng của hỗn hợp X
gọi x là số mol của K
⇒
số mol Na là ( 0,35 – x ) mol
Áp dụng công thức tính khối lượng mol trung bình ta có:
39 (0,35 ).23
32,14 0,2
0,35
x x
x
+ −
= ⇒ =
Vậy n
K
= 0,2 mol và n
Na
= 0,35 - 0,2 = 0,15 mol
0,2 39
% 100% 69,33% 30,67%
0,2 39 0,15 23
Na
Suy ra: %m
K
m
×
= × = =
, 3x mol H
2
và (1- 4x)
mol NH
3
Theo đề bài ta có :
M
hh
= 28x + 2.3x + 17 ( 1 – 4x ) = 32.0,425 = 13,6 (1)
Giải phương trình (1) được : x = 0,1 mol
Thành phần % theo thể tích của hỗn hợp khí A là:
2
0,1
% 100 10%
1
N
V
= × =
Vì tỉ lệ thể tích của các khí bằng tỉ lệ sô mol của chúng, nên :
2
% 3.10 30%
H
V
= =
⇒
3
% 100% (10% 30%) 60%
NH
V
= − + =
H
2
SO
4
0,45M(loãng) thì phản ứng vừa đủ, thu được dung dịch B.
a/ Tính khối lượng mỗi oxit có trong hỗn hợp A.
b/ Để tác dụng vừa đủ với 2 muối trong dung dịch B cần dùng V(lit) dung
dịch NaOH 0,2M, thu được kết tủa gồm 2 hiđrôxit kim loại. Lọc lấy kết
tủa, đem nung trong không khí đến khối lượng không đổi thu được m
gam chất rắn khan(phản ứng hoàn toàn). Tính V và m.
Đáp số:
a/ m
MgO
= 2g và m
FeO
= 2,88g
b/ V
dd NaOH 0,2M
= 0,9 lit và m
rắn
= 5,2g
Bài 2:
Để hoà tan 9,6g một hỗn hợp đồng mol (cùng số mol) của 2 oxit kim
loại có hoá trị II cần 14,6g axit HCl. Xác định công thức của 2 oxit trên.
Biết kim loại hoá trị II có thể là Be, Mg, Ca, Fe, Zn, Ba.
Đáp số: MgO và CaO
Bài 3:
Khử 9,6g một hỗn hợp gồm Fe
2
O
rất hứng thú. Qua bài kiểm tra khảo sát của lớp 9A và lớp 9B trong năm
học 2009 – 2010 cho thấy :
Kết quả kiểm tra đợt 1:( Chưa áp dụng đề tài )
Lớp Sĩ số
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
SL % SL % SL % SL %
9A 38 3 7,89 9 23,69 22 57,89 4 10,53
9B 39 2 5,13 12 30,77 21 53,85 4 10,25
Kết quả kiểm tra đợt 2: (Đã áp dụng đề tài vào lớp 9A )
Lớp Sĩ số Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
SL % SL % SL % SL %
9A 38 14 36,85 19 50 5 13,15 0 0
9B 39 3 7,69 10 25,65 23 58,97 3 7,69
Ở đợt 2 lớp 9A có được kết quả nâng lên rõ rệt là do học sinh đã hiểu
thấu đáo vấn đề ở những góc độ khác nhau của phương pháp giải nhanh
bài tập hóa học. Đặc biệt là ở học sinh đã hình thành được kỹ năng giải
bài tập, biết phân tích bài toán. Tuy nhiên việc áp dụng từng nội dung của
đề tài tuỳ thuộc vào đối tựơng học sinh. Đối với các lớp đại trà tôi chỉ rèn
luyện cho các em phương pháp làm nhanh các bài đơn giản. Đối với đội
tuyển học sinh giỏi thì phải khắc sâu giúp học sinh hiểu được bản chất
của phản ứng, thường là đi từ bài tập tổng quát sau đó mới đưa ra các
dạng bài tập từ dễ đến khó giúp học sinh hình thành kỹ năng một cách dễ
dàng.
* ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG.
-Để áp dụng được đề tài này vào công việc giảng dạy Giáo viên
phải thường xuyên trau rồi kiến thức nâng cao kỹ năng giải toán đặc biệt
phải nắm chắc bản chất của phản ứng hóa học và hiểu sâu sắc các
phương pháp tính toán hóa học.
- Hệ thống hoá kiến thức. Hệ thống bài tập phải từ dễ đến khó, từ
đơn giản đến phức tạp.