Ảnh hưởng của đô thị hóa đến tình hình quản lý sử dụng đất phường Đại Yên, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN ANH TUẤN ẢNH HƢỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN TÌNH HÌNH QUẢN LÝ
SỬ DỤNG ĐẤT PHƢỜNG ĐẠI YÊN, THÀNH PHỐ HẠ LONG,
TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60 85 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Trần Viết Khanh

Thái Nguyên, năm 2012

thầy, cô giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình, những ý kiến đóng góp quý báu của
nhiều cá nhân và tập thể để tôi hoàn thành bản luận văn này.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS. TS: Trần Viết Khanh
ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo bộ
môn Quy hoạch đất đai; Khoa Tài nguyên và Môi trƣờng; Phòng quản lý Đào
tạo Sau đại học - Trƣờng Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Quảng
Ninh, Phòng Tài nguyên và Môi trƣờng thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
và bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập
thông tin, tài liệu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Tuấn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC

MỞ ĐẦ U 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 2
4.  NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2

2.4.5. Phƣơng pháp ứng dụng công nghệ GIS 26
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
CHƢƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ CẢNH
QUAN MÔI TRƢỜNG THÀNH PHỐ HẠ LONG 27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2 . Các nguồn tài nguyên 29
3.1.3. Thực trạng môi trƣờng 36
3.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI. 37
3.2.1. Tăng trƣởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 37
3.2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 38
3.2.3. Dân số, lao động và việc làm 43
3.2.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 43
3.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN L, SỬ DỤNG VÀ BIẾN
ĐỘNG ĐẤT ĐAI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở PHƢỜNG
ĐẠI YÊN 48
3.3.1. Quá trình đô thị hóa ở phƣờng Đại Yên 48
3.3.2. Thực trạng công tác quản lý đất đai 51
3.3.3. Hiện trạng sử dụng và biến động đất đai trong quá trình đô thị
hóa ở phƣờng Đại Yên 56
3.3.4. Phân tích, đánh giá biến động các loại đất 61
3.3.5. Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, tính hợp lý của việc sử dụng
đất, những tồn tại trong việc sử dụng đất. 65
3.3.6. Nhận xét chung về công tác quản lý và sử dụng đất đai 69
3.4. ẢNH HƢỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN QUẢN L
VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI 71

Hiện đại hóa
Hội đồng nhân dân
KCN
Khu công nghiệp
KT-XH
Kinh tế xã hội
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
MNCD
Mặt nƣớc chuyên dùng
QH
Quy hoạch
QHSDĐ
Quy hoạch sử dụng đất
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TT
Thị trấn
TTCN
Trung tâm công nghiệp
UBND
Uỷ ban nhân dân
ĐTH
Đô thị hóa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

hội,… Kết quả chính của quá trình này tạo nên sự thay đổi đời sống xa hội
theo hƣớng tốt hơn, thuận tiện hơn. Nhƣng quá trình đô thị hóa cũng sẽ có
những tác động không nhỏ tới tập quán sinh hoạt, quan hệ xã hội, môi
trƣờng, cảnh quan, thu hẹp không gian sinh hoạt của con ngƣời.
Quá trình đô thị hóa tất yếu gắn liền với công nghiệp hóa, hiện đại hóa
để hình thành các cơ sở, các khu công nghiệp, các khu thƣơng mại, dịch vụ và
các khu dân cƣ mới. Nhƣ vậy sự hình thành các khu đô thị mới và mở rộng
các đô thị đã có bắt nguồn từ sự tác động của quá trình công nghiệp hoá và
diễn ra song song với quá trình công nghiệp hoá. Nói cách khác, quá trình đô
thị hoá là một quá trình bắt nguồn từ quá trình công nghiệp hoá và gắn liền
với quá trình công nghiệp hoá. Do vậy, có thể khẳng định rằng đô thị hoá là
một quá trình tất yếu và phổ biến của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển.
Nƣớc ta đang bƣớc vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nƣớc theo đƣờng lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta, sự hình
thành các đô thị mới và mở rộng các đô thị hiện có là một xu hƣớng tất yếu.
Thành phố Hạ Long đƣợc thành lập năm 1993, theo Nghị định số 102/NĐ
– CP của Chính phủ. Từ khi thành lập, thành phố Hạ Long luôn phát triển và mở
rộng, đến nay Hạ Long đã trở thành một đô thị quan trọng ở vùng đông bắc của
tổ quốc. Năm 2001, theo Nghị định số 51/2001/ NĐ-CP của chính phủ, thành
phố Hạ Long sáp nhập thêm 2 xã Việt Hƣng và Đại Yên của huyện Hoành Bồ.
Việc sáp nhập, mở rộng diện tích đã tạo thêm nguồn lực đô thị hóa và tạo nên
một số đô thị mới. Sự hình thành các khu đô thị mới, các tuyến giao thông mới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
những năm qua tại thành phố Hạ Long và sự hình thành các phƣờng xã mới là
xu thế tất yếu để hoà nhập với sự phát triển của đất nƣớc. Đồng thời với đô thị
hoá thì biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa cũng là một vấn đề quan

CHƢƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.1. Khái niệm, phân loại và chức năng của đô thị
1.1.1.1. Khái niệm
Đô thị hóa (urbanization) là quá trình tập trung dân số hình thành
nhanh chóng các điểm dân cƣ đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất đời
sống. Theo khái niệm này có thể hiểu đô thị hóa là quá trình mở rộng các đô
thị hiện có và sự hình thành các đô thị mới. Đô thị hóa đƣợc diễn ra trên cơ sở
phát triển đời sống sản xuất và đời sống. Có thể nói đô thị hóa là bạn đồng
hành của công nghiệp hóa, bởi vì trong tiến trình phát triển đô thị hóa và công
nghiệp hóa luôn tác động với nhau, hỗ trợ nhau. Trong quá trình đô thị hóa,
diễn ra sự biến đổi sâu sắc về một số vấn đề sau:
+ Cơ sở sản xuất: Nếu nhƣ trƣớc khi đô thị hóa diễn ra nền kinh tế chủ
yếu là tự cung tự cấp thì sau đó sẽ là nền kinh tế hoạt động đa dạng hơn.
+ Cơ cấu nghề nghiệp: Cơ cấu nghề nghiệp sẽ có sự thay đổi mạnh theo
hƣóng giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ lệ lao động phi nông ngiệp.
+ Cơ cấu tổ chức hoạt động xã hội: Sau đô thị hóa sẽ có những thay đổi về
cơ cấu tổ chức hoạt động xã hội, mà điều đầu tiên chúng ta nhìn thấy đó là việc
chuyển đổi từ “thôn”, “xóm”, “bản”, thành “phố”, “phƣờng”, “quận”…
+ Cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc và hình thái xây dựng từ dạng
nông thôn sang thành thị, Không gian kiến trúc sẽ trở nên gọn, đẹp, hiện đại
hơn với hệ thống các công trình phúc lợi công cộng, hệ thống giao thông…tạo
ra sự thuận tiện cho sinh hoạt ngƣời dân.
Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ: Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị tính
theo tỷ lệ phần trăm dân số đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện
tích một vùng hay khu vực. Nó cũng có thể đƣợc tính tỷ lệ gia tăng của hai yếu
tố theo thời gian. Nếu tính theo cách đầu thì nó đƣợc gọi là mức đô thị hóa; còn
tính theo cách thứ hai thì đƣợc gọi là tốc độ đô thị hóa.

thành phố hoặc dựa trên quan điểm về các vừng có mật độ dân cƣ đông.
Nghiên cứu thực tế nƣớc Nhật, ông cho rằng đô thị hóa không đơn thuần là
một hiện tƣợng xảy ra sau chiến tranh ở Nhật Bản mà là một quá trình diến
ra từ đầu thế kỷ XX. Sau năm 1945, quá trình đô thị hóa diễn ra ở Nhật
Bản khá rõ do yêu cầu của việc tái thiết nhanh chóng và tăng trƣởng kinh tế
đã đẩy nhanh quá trình phát triển xã hội. Sự di chuyển của một lƣợng lớn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
dân số trẻ từ nông thôn ra thành thị, chủ yếu là những ngƣời tản cƣ về. Quá
trình diễn ra đặc biệt nhanh chóng từ cuối thập kỷ 50, đầu thập ký 60 do
ngƣời nhập cƣ mong muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Theo Jung Duk (Hàn Quốc) : đô thị hóa là sự gia tăng dân số chủ yếu từ
nông thôn ra thành thị mà trƣớc đây, thế hệ trẻ rời bỏ nông thôn với mục đích
tìm kiếm việc làm, cơ hội giáo dục và những thú vui, tiện nghi nơi đô thị,
trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa (1967-1975).
Nhƣ vậy, đô thị hoá là quá trình chuyển đổi một khu vực, một vùng nào
đó từ chƣa "đô thị" thành "đô thị". Những vùng, khu vực có thể là vùng ven
đô thị hay ngoại thành, có thể thị trấn, thị tứ khi có cơ hội đô thị hoá, từ đô
thị mở rộng không gian và diện tích cũng nhƣ thu hút luồng di cƣ của dân
không nhất thiết từ đô thị trung tâm mà cả những vùng khác nhất là nông thôn
trong cả nƣớc. Đô thị hoá biểu hiện dễ thấy là sự mở rộng không gian đô thị,
không gian kiến trúc và sự tăng lên của dân nhập cƣ từ nhiều luồng khác nhau
tạo nên sự tập trung dân cƣ lớn trong một thời gian nhất định. Do đó, về mặt
dân cƣ có thể xem đô thị hoá là một quá trình phức tạp bố trí lại dân cƣ, sắp
xếp lại lao động. Đô thị hoá nhanh chóng làm cho đô thị ổn định nhanh lại
phải tiếp tục mở rộng không gian ra vùng ven. Đó là một quá trình liên tục.
Quá trình này chỉ kết thúc khi đô thị đã đi vào ổn định.

.
- Đô thị loại 4: là đô thị trung bình nhỏ, dân số từ 3 vạn đến 10 vạn
ngƣời (vùng núi có thể thấp hơn), mật độ 8000 ngƣời/km
2
.
- Đô thị loại 5: là đô thị loại nhỏ, là trung tâm tổng hợp kinh tế - xã hội,
hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp có vai trò thúc
đẩy sự phát triển của một huyện. Dân số từ 4 nghìn đến 3 vạn (vùng núi có thể
thấp hơn).
1.1.1.3. Chức năng của đô thị
Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng
khác nhau, nhìn chung đô thị có mấy chức năng chủ yếu sau:
* Chức năng kinh tế: Đây là chức năng chủ yếu của đô thị. Sự phát
triển kinh tế thị trƣờng đã đƣa đến xu hƣớng tập trung sản xuất có lợi hơn là
phân tán. Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp
thành khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tƣơng ứng, tạo ra thị trƣờng ngày
càng mở rộng và đa dạng hoá. Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cƣ,
trƣớc hết là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cƣ
đô thị.
* Chức năng xã hội: Chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng
với tăng quy mô dân cƣ đô thị. Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại là những
vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trƣờng. Chức năng xã hội
ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những
nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại thay đổi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
* Chức năng văn hoá: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải

8
điều kiện thuận lợi phân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các
không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn. Đô thị có vai trò to lớn
trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cả nƣớc.
Đô thị luôn phải giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng
đồng nông thôn đi trên con đƣờng tiến bộ và văn minh.
1.1.2. Đô thị hoá
1.1.2.1. Khái niệm đô thị hoá
Các nhà khoa học đã nghiên cứu quá trình đô thị hóa (ĐTH) và đƣa
ra một số định nghĩa về đô thị hóa cùng với những quy định về quy mô,
tầm quan trọng và dự báo tƣơng lai của quá trình này.
“Đô thị hoá” đƣợc hiểu theo nghĩa rộng là sự phát triển của thành phố với
những dấu hiệu đặc trƣng về diện tích, dân số, mật độ dân số đô thị. Theo khái
niệm này thì quá trình ĐTH chính là sự di cƣ từ nông thôn vào thành thị. Đó
cũng là quá trình gia tăng tỷ lệ dân cƣ đô thị trong tổng số dân của một quốc gia.
Tuy nhiên, nếu chỉ hạn chế trong cách tiếp cận nhân khẩu học nhƣ trên
thì sẽ không thể nào giải thích đƣợc toàn bộ tầm quan trọng và vai trò của
ĐTH cũng nhƣ ảnh hƣởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện đại. Các
nhà khoa học ngày càng ngả sang cách hiểu ĐTH nhƣ một phạm trù kinh tế -
xã hội, phản ánh quá trình chuyển hoá và chuyển dịch chủ yếu sang phƣơng
thức sản xuất và tiêu dùng, lối sống và sinh hoạt mới - phƣơng thức đô thị.
Đây là một quá trình song song với sự phát triển công nghiệp hóa (CNH) và
cách mạng khoa học công nghệ (CM KHCN)
.

Tóm lại, ĐTH là quá trình biến đổi và phân bố các lực lƣợng sản xuất
trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cƣ, hình thành, phát triển các hình thức

- ĐTH phân tán (ĐTH “ly tâm”): là xu hƣớng dịch chuyển đầu tƣ và hoạt
động sản xuất công nghiệp từ các lĩnh vực trung tâm ra các vùng ngoại vi, tạo
nên hiệu ứng lan toả, thúc đẩy sự ra đời và hình thành các trung tâm vệ tinh
công nghiệp. Điều này dẫn đến tiến trình „công nghiệ hóa lan tỏa (CNH lan
toả)”, các hoạt động công nghiệp ở đô thị trung tâm có xu hƣớng dịch chuyển
ra ngoại vi để chuyển sang các hoạt động công nghiệp mức cao hơn, hay
chuyên môn hoá các lĩnh vực kinh doanh, thƣơng mại, dịch vụ. Xu hƣớng này
sẽ đảm bảo cân bằng sinh thái, tạo điều kiện việc làm, sinh hoạt và nghỉ ngơi
tốt cho dân đô thị và nông thôn.
1.1.2.2. Tính tất yếu của đô thị hoá
Bất cứ một quốc gia nào, dù là phát triển hay đang phát triển, khi
chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp bằng con
đƣờng CNH thì đều gắn liền với ĐTH.
Trong lịch sử cận đại, ĐTH trƣớc hết là hệ quả trực tiếp của quá trình
công nghiệp hoá tƣ bản chủ nghĩa (TBCN) và sau này là kết quả của quá
trình cơ cấu lại các nền kinh tế theo hƣớng hiện đại hoá: tăng tỷ trọng của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong
cơ cấu và khối lƣợng GDP. Nhìn chung, từ góc độ kinh tế, ĐTH là một xu hƣớng
tất yếu của sự phát triển.
Nhƣ vậy, ĐTH là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm tình hình
chung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử, toàn cầu và
không thể đảo ngƣợc của sự phát triển xã hội. ĐTH là hệ quả của sức mạnh
công nghiệp và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới.
1.1.2.3. Quan điểm về đô thị hoá
Công nghiệp hoá và cùng với nó là ĐTH trở thành xu thế chung của mọi

hóa trƣớc hết là hệ quả trực tiếp của quá trình công nghiệp hóa và sau này là
hệ quả của quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hƣớng hiện đại hóa: tăng tỷ
trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông
nghiệp trong cơ cấu và khối lƣợng GDP.
Đồng thời, trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nƣớc, đô thị hóa giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển
kinh tế, xã hội, văn hoá, đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trƣờng.
ĐTH xúc tiến tối đa công nghiệp hóa.
- Hiện đại hóa đất nƣớc. Sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa muốn
thực hiện thành công cần phải chuyển đổi căn bản cơ cấu kinh tế từ sản xuất
nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp với kỹ thuật cao, thay đổi cơ cấu lao
động. Trƣớc hết có sự tập trung cao các điểm dân cƣ, kết hợp với xây dựng
đồng bộ và khoa học các cơ quan và các xí nghiệp trung tâm Quá trình
này là bƣớc chuẩn bị lực lƣợng ban đầu cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nƣớc. Khi đó máy móc hiện đại đƣợc đƣa vào sản xuất nhiều hơn kéo
theo việc nâng cao trình độ tay nghề công nhân, đồng thời nâng cao năng lực
cho cán bộ quản lý. Đô thị hóa sẽ đánh dấu giai đoạn phát triển mới của tiến
trình công nghiệp hóa, trong đó, công nghiệp và dịch vụ trở thành lĩnh vực
chủ đạo của nền kinh tế, không chỉ xét về phƣơng diện đóng góp tỷ trọng
trong GDP mà còn cả về phƣơng diện phân bố nguồn lao động xã hội.
Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng
khác nhau, nhìn chung có mấy chức năng chủ yếu sau.
* Chức năng kinh tế: đây là chức năng chủ yếu của đô thị. Sự phát triển
kinh tế thị trƣờng đã đƣa đến xu hƣớng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân
tán. Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu
công nghiệp và cơ sở hạ tầng tƣơng ứng, tạo ra thị trƣờng ngày càng mở rộng
và đa dạng hoá. Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cƣ, trƣớc hết là thợ
thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cƣ đô thị.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


HĐH. Trong quá trình ĐTH, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hƣớng giảm
tỷ trọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỷ trọng của khu vực
công nghiệp và dịch vụ. Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng, ĐTH góp
phần làm thay đổi về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản xuất.
Các loại cây có giá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang có xu hƣớng
giảm dần diện tích. Các loại cây cần ít lao động hơn và cho giá trị kinh tế cao
hơn đang đƣợc tăng dần diện tích canh tác. Trong tổng giá trị sản xuất của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
ngành nông nghiệp thì xu hƣớng chung là giảm dần tỷ trọng của ngành trồng
trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi.
Ba là, ĐTH cải tạo kết cấu hạ tầng. Xu hƣớng ĐTH tạo ra sự tập
trung sản xuất công nghiệp và thƣơng mại, đòi hỏi phải tập trung dân cƣ,
khoa học, văn hóa và thông tin. Những điều kiện đáp ứng nhu cầu đó là sự
phát triển kết cấu hạ tầng, nhà ở, các dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời
sống dân cƣ. Do đó mà hệ thống giao thông vận tải, năng lƣợng, bƣu
chính viễn thông và cấp thoát nƣớc cũng sẽ đƣợc cải tiến về quy mô và chất
lƣợng. Ở nông thôn, việc cải tạo kết cấu hạ tầng đang đƣợc thực hiện với
chủ trƣơng “điện, đƣờng, trƣờng, trạm” tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp và nâng cao đời sống của ngƣời nông dân.
Bốn là, ĐTH nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ. Các đô
thị ngày càng áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và kỹ năng quản lý tổ chức sản
xuất hiện đại, làm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lƣợng sản phẩm.
Trong sản xuất nông nghiệp, quá trình ĐTH cung cấp những cơ sở kỹ
thuật cần thiết cho ngƣời nông dân nhƣ thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới
hóa, sinh học hóa để làm tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng
hoá có chất lƣợng tốt, đảm bảo an toàn lƣơng thực, đáp ứng nhu cầu của công

Thứ hai, ĐTH khoét sâu hố phân cách giàu nghèo. Quá trình ĐTH
nhanh đã làm cho hố phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cƣ trong
đô thị, giữa nông thôn và thành thị trở nên trầm trọng hơn.
Thứ ba, ĐTH gia tăng tình trạng di dân. Chính sự chênh lệch về mức
sống, điều kiện sống, khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội tăng thu nhập
đã và đang đƣợc coi là những nguyên nhân kinh tế quan trọng nhất thúc đẩy
một bộ phận lớn ngƣời dân rời khỏi khu vực nông thôn để di dân tới thành
thị. Lực lƣợng lao động ở nông thôn chỉ còn lại những ngƣời già yếu và trẻ
nhỏ, không đáp ứng đƣợc những công việc nhà nông vất vả. Cơ cấu lao động
ở nông thôn hoàn toàn bị thay đổi theo hƣớng suy kiệt nguồn lực lao động.
Đồng thời thị trƣờng lao động ở thành thị lại bị ứ đọng.
Thứ tƣ, ĐTH môi trƣờng bị ô nhiễm. Chất lƣợng môi trƣờng đô thị bị
suy thoái khá nặng nề do mật độ dân số tập trung cao, sản xuất công nghiệp
phát triển mạnh làm phát sinh một lƣợng chất thải, trong đó chất thải gây
hại ngày càng gia tăng; bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trƣờng
và tiếng
ồn.
Thứ năm, ĐTH phát sinh các tệ nạn xã hội. Đây chính là mặt trái của
đời sống đô thị hay của cả quá trình ĐTH. Trong khi nhiều khía cạnh tốt đẹp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
của văn hóa truyền thống bị mai một, thì lối sống lai căng, không lành mạnh
lại đang ngự trị trong lối sống đô thị hiện nay. Những tệ nạn xã hội phổ biến
nhất hiện nay đều đƣợc phát sinh và phát triển tại các trung tâm đô thị lớn.
Tóm lại, trong công cuộc CNH, HĐH đất nƣớc thì quá trình ĐTH ngày
càng gia tăng Vậy chúng ta phải làm thế nào để quá trình ĐTH phát triển
lành mạnh và bền vững. Tăng trƣởng kinh tế do quá trình này đem lại phải

Những đề tài nghiên cứu này đã cấp những cơ sở khoa học cho các cơ
quan liên quan đến việc hoạch định cuộc sống, kế hoạch và quá trình phát
triển đô thị nói trên và cuộc sống, quan hệ phát triển KT-XH nói chung.
Tháng 11/2004, Bộ xây dựng đã tổ chức các hội nghị nhằm trao đổi
chiến lƣợc phát triển đô thị gắn với xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam. đây là
một chiến lƣợc quan trọng mà Việt Nam đang tích cực triển khai thực hiện.
1.2.2. Tình hình đô thị hoá trên thế giới
1.2.2.1. Thời kỳ cổ đại và trung đại
Quá trình đô thị hóa trên thế giới đã diễn ra rất sớm. Từ thời kỳ cổ đại đã
bắt đầu xuất hiện các đô thị lớn nhƣ: Đô thị cổ Ai Cập, Hy Lạp cổ đại, La Mã
cổ đại, văn minh Lƣỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ.
Vào thời kỳ trung đại, các đô thị phát triển mạnh hơn tuy nhiên quy mô
của các thành phố vẫn rất nhỏ, chỉ khoảng 5000 - 10000 ngƣời. Ở châu Á với
chế độ phong kiến kéo dài ảnh hƣởng đên tính chất các đô thị phong kiến.
Tiêu biểu là Trung Quốc, thành phố có quy mô lớn trở thành chỗ ở và thể hiện
uy quyền của các vua chúa phong kiến, là trung tâm văn hóa chính trị văn hóa
của giai cấp thống trị. Thế kỷ XII, các đô thị phát triển do sự xuất hiện của
tiểu thủ công nghiệp, xuất hiện nhiều đô thị cảng và đô thị nằm trên đầu mối
giao thông. Thế kỷ XV, XVI nền văn hóa Phục Hƣng phát triển mạnh kéo
theo sự phát triển của các đô thị ở châu Âu, đặc biệt là Pháp, 
Nói chung đô thị thời kỳ này phát triển chậm, bố cục thành phố lộn xộn,
phát triển tự phát, thiếu quy hoạch và môi trƣờng đô thị không hợp lý.
1.2.2.2. Thời kỳ cận đại
Giữa thế kỷ XVII công nghiệp phát triển thu hút nguồn nhân lực lớn, các
khu nhà mọc lên nhanh chóng bên cạnh các khu vực sản xuất. Các nƣớc công
nghiệp phát triển nhƣ Anh, Pháp, Đức, Mỹ dân số đô thị tƣng lên nhanh chóng.
Thời kỳ này các thành phố phát triển và phân bố không đều do ảnh
hƣởng của phát triển kinh tế. Các thành phố lớn có dân số tập trung cao bao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


ở đô thị, đến năm 2007 đã tăng lên tới 88%. Ở các nƣớc này dƣờng nhƣ đô thị
hóa đã đạt đến mức bão hòa, tốc độ đô thị hóa tại đây đã bắt đầu giảm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Những nƣớc đang phát triển là những nƣớc có tốc độ đô thị hóa cao nhất.
Điều này thể hiện rõ nhất ở các nƣớc Nam bán cầu, và các nƣớc đang phát
triển ở châu Á. Ở các nƣớc này đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nƣớc, tốc độ phát triển kinh tế ở mức cao. Sự tập trung phát triển
các đô thị làm chênh lệch mức sống giữa đô thị và nông thôn, đô thị trở thành
một nơi hấp dẫn đối với những ngƣời nghèo ở nông thôn, từ đó hình thành
một luồng di dân từ nông thôn ra thành thị làm cho thành thị ngày càng phình
to ra. Mặt khác tốc độ phát triển kinh tế cao cũng làm hình thành các đô thị
một cách nhanh chóng.
Tốc độ đô thị hóa ở khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng diễn ra mạnh mẽ
nhất trong vòng hai thập kỷ qua. Năm 1990 có 31% dân số sống ở đô thị, đến
năm 2005 tăng lên 41%. Tốc độ đô thị hóa cao biểu hiện rõ nhất là: Ấn Độ,
Trung Quốc, Singapo. Ấn Độ là nƣớc có tốc độ đô thị hóa cao nhất hiện nay,
dự tính đến năm 2050 sẽ có 900 triệu ngƣời sống ở các đô thị chiếm khoảng
55% dân số cả nƣớc (hiện nay là 300 triệu người chiếm 30%)
Mức độ đô thị hóa và tốc độ đô thị hóa ở các nƣớc kém phát triển là rất
thấp. Điều này thể hiện rõ nhất ở các nƣớc châu Phi, khi mà kinh tế còn chậm
phát triển, công cuộc CNH, HĐH còn diễn ra chậm chạp thì việc hình thành
các đô thị mới là vấn đề khó khăn. Đô thị hóa diễn ra ở các nƣớc này chủ yếu
là hiện tƣợng ngƣời dân nông thôn di cƣ ra các đô thị làm cho dân cƣ đô thị
tăng lên. Hiện nay ở châu Phi chỉ mới có một trung tâm đô thị lớn đó là
Cairo.Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH-
HĐH. Song sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status