Ảnh hưởng của đô thị hóa đến hướng sử dụng đất trong các hộ nông dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên - Pdf 20

1. Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nớc ta mà còn
đối với tất cả các nớc trên thế giới, nhất là các nớc ở châu á. Nền kinh tế
càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh.
Đất nớc ta đang phát triển trên đờng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Công nghiệp hóa và đô thị hóa là hai quá trình phát triển song song ở nớc ta
hiện nay. Đô thị hóa là hệ quả của sức mạnh công nghiệp và trở thành mục
tiêu của mọi nền văn minh trên thế giới, nó góp phần đẩy mạnh phát triển kinh
tế-xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân. Trong xu thế quốc tế hóa,
sản xuất ngày càng gia tăng, cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới diễn ra
nh vũ bão thì việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nớc ta trở thành vấn đề
cấp bách để đa đất nớc chuyển sang một thời kỳ phát triển với mục tiêu lâu
dài là cải biến nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật
hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, mức sống vật chất
và tinh thần cao, làm cho dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Một trong những chủ trơng quan trọng trong phát triển công nghiệp
của Đảng ta là ra sức phát triển đô thị cùng với việc công nghiệp hóa nông
nghiệp và kinh tế nông thôn; quan tâm đầu t phát triển công nghiệp, dịch vụ
và kết cấu hạ tầng, giải quyết việc làm, tăng nhanh sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc dân để các đô thị làm hạt nhân thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong vùng và trên cả nớc.
Quá trình đô thị hóa ở nớc ta đã bớc đầu đem lại những thành quả,
chẳng những làm cho bộ mặt và cuộc sống đô thị thay đổi khá hơn trớc mà
còn tác động tích cực đến sự đổi mới bộ mặt và cuộc sống nông thôn. Sự phát

1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu ảnh hởng của quá trình đô thị hóa đến hớng sử dụng đất
trong các hộ nông dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hng Yên nhằm bảo đảm cho
kinh tế nông hộ phát triển hiệu quả, đúng hớng và bền vững.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa.
- Đánh giá quá trình đô thị hóa ở Yên Mỹ-Hng Yên.
- Phân tích ảnh hởng của đô thị hóa đến hớng sử dụng đất đai của các
hộ nông dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hng Yên.
- Đa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm tối u hoá ảnh hởng của đô
thị hóa đến hớng sử dụng đất trong các hộ nông dân huyện Yên Mỹ, bảo đảm
kinh tế nông hộ phát triển bền vững.
1.3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tợng nghiên cứu
Việc sử dụng đất đai của các hộ nông dân huyện Yên Mỹ.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu ảnh hởng của đô thị hóa đến hớng sử
dụng đất thổ c và đất nông nghiệp trong các hộ nông dân huyện Yên Mỹ,
tỉnh Hng Yên.
- Phạm vi không gian: Huyện Yên Mỹ, tỉnh Hng Yên.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp đợc thu thập trong giai đoạn 2000-
2004. Số liệu sơ cấp đợc thu thập trong năm 2002 và năm 2004 để so sánh sự
thay đổi về hớng sử dụng đất trong hộ nông dân.

3 2. cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa


- Những đô thị là trung tâm chuyên ngành khi chúng có vai trò chức
năng chủ yếu về một mặt nào đó nh công nghiệp cảng, du lịch, nghỉ ngơi,
đầu mối giao thông
Trong thực tế, một đô thị là trung tâm tổng hợp của một hệ thống đô thị
vùng tỉnh nhng cũng có thể chỉ là trung tâm chuyên ngành của một hệ thống
đô thị một vùng liên tỉnh hoặc của cả nớc.
Việc xác định trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành còn phải căn cứ
vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định. Vùng lãnh thổ của
đô thị bao gồm nội thành hay nội thị (gọi chung là nội thị) và ngoại ô hay
ngoại thị. Các đơn vị hành chính của của nội thị bao gồm quận và phờng, còn
các đơn vị hành chính ngoại ô bao gồm huyện và xã.
Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nớc phụ thuộc vào cấp
quản lý của đô thị và phạm vi ảnh hởng của đô thị nh đô thị-trung tâm quốc
gia; đô thị-trung tâm cấp vùng (liên tỉnh); đô thị-trung tâm cấp tỉnh; đô thị-
trung tâm cấp huyện và đô thị-trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện) [6].
a/. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động
Lao động phi nông nghiệp của một đô thị là lao động trong khu vực nội
thành phố, nội thị xã, thị trấn thuộc các ngành kinh tế quốc dân nh công
nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bu điện, thơng nghiệp, cung ứng vật
t, dịch vụ công cộng không thuộc ngành sản xuất nông, lâm, thủy sản [2].
b/. Kết cấu hạ tầng đô thị
Kết cấu hạ tầng đô thị đợc đánh giá là không đồng bộ khi tất cả các
loại công trình kết cấu hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị đều đợc xây dựng,
nhng mỗi loại phải đạt đợc tiêu chuẩn tối thiểu từ 70% trở lên so với quy
định của Quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị [3]. 5
6 trở lên; Có cơ sở hạ tầng xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh; Quy mô
dân số từ 1,5 triệu ngời trở lên; Mật độ dân số bình quân từ 15.000
ngời/km
2
trở lên [6].
b/. Đô thị loại I
Là đô thị rất lớn, là trung tâm trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa
học-kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lu trong nớc và
quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một vùng lãnh thổ
liên tỉnh hoặc cả nớc.
Dân số đô thị có trên 50 vạn ngời, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp
85% tổng số lao động của thành phố. Mật độ dân c bình quân từ 12.000
ngời/km
2
trở lên. Loại đô thị này có tỷ suất hàng hóa cao, cơ sở hạ tầng kỹ
thuật và mạng lới công trình công cộng đợc xây dựng nhiều mặt đồng bộ và
hoàn chỉnh [6].
c/. Đô thị loại II
Là đô thị lớn, là trung tâm trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa
học-kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lu vùng trong tỉnh,
vùng liên tỉnh hoặc cả nớc, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội
của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nớc.
Dân số đô thị có từ 25 vạn đến dới 1 triệu ngời, tỷ lệ lao động phi
nông nghiệp 80% tổng số lao động, mật độ dân c bình quân từ 10.000
ngời/km
2
trở lên, sản xuất hàng hóa phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và

g/. Đô thị loại V
Là những đô thị loại nhỏ, là trung tâm tổng hợp về chính trị, kinh tế,
văn hoá và dịch vụ hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công
nghiệp có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một huyện hoặc
một cụm xã.
Dân số có từ 4.000 ngời trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp 65%
trong tổng số lao động. Mật độ dân số bình quân 2.000 ngời/km
2
trở lên, đang
bắt đầu xây dựng một số công trình công cộng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật [6].
Việc xác định quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô

8 thị chỉ tiến hành trong phạm vi địa giới nội thị. Riêng miền núi, quy mô dân
số đô thị loại III có thể quy định tối thiểu từ 8 vạn ngời, đô thị loại IV từ 2
vạn ngời và đô thị loại V là 2.000 ngời [4].
2.1.1.3 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội
Đô thị tợng trng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia, là
sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và
văn hóa.
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế-xã hội của cả nớc, có khả năng tiếp nhận các thành tựu
khoa học kỹ thuật của khu vực và trên thế giới.
2.1.2 Đô thị hóa
2.1.2.1 Khái niệm về đô thị hóa
Một trong những vấn đề nổi bật của sự phát triển thế giới ngày nay là sự
gia tăng nhanh chóng số lợng và quy mô các đô thị, trong đó tập trung các
hoạt động chủ yếu của con ngời, nơi diễn ra cuộc sống vật chất, văn hóa và

đô thị theo hớng bền vững.
Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế-xã hội của đô thị
và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng,
dịch vụ Do vậy, đô thị hóa gắn liền với sự phát triển kinh tế-xã hội.
Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lợng sản
xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân c, hình thành phát triển các hình
thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo
chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số.
Khi đánh giá về đô thị hoá ngời ta thờng sử dụng 2 tiêu chí, đó là
mức độ đô thị hoá và tốc độ đô thị hoá [9]:
Mức độ đô thị hoá = Dân số đô thị/Tổng dân số (%)

10 Tốc độ đô thị hoá = (Dân số đô thị cuối kỳ - Dân số đô thị đầu
kỳ)/(NxDân số đô thị đầu kỳ) (%/năm)
Trong đó: N là số năm giữa 2 thời kỳ
2.1.2.2 Đặc trng của đô thị hóa
Đô thị hóa là hiện tợng mang tính toàn cầu và có những đặc trng chủ
yếu sau đây [12], [14]:
Một là, số lợng các thành phố, kể cả các thành phố lớn tăng nhanh, đặc
biệt là thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng lớn, số
lợng thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều.
Ba là, việc hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa
lý, liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các vùng đô
thị. Thông thờng vùng đô thị bao gồm một vài thành phố lớn và xung quanh
chúng là các thành phố nhỏ vệ tinh.
Bốn là, dân số thành thị có xu hớng tăng nhanh do quá trình di dân

động khu vực I sang khu vực II, III, cơ cấu lao động chuyển từ lao động nông
nghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ.
- Đô thị hóa gắn liền với việc hình thành và phát triển các khu công
nghiệp, làm thay đổi cục diện sản xuất, phơng thức sản xuất. Do công nghiệp
phát triển đã đa đến những thay đổi và phát triển sau:
Làm tăng nhanh thu nhập quốc dân, đối với các nớc phát triển tỷ trọng
công nghiệp trong thu nhập quốc dân thờng chiểm tỷ lệ từ 60-70% trở lên.
Các nớc phát triển ở trình độ càng cao thì tỷ trọng công nghiệp càng lớn.

12 Làm tăng hoạt động khoa học-kỹ thuật và công nghệ. Do hoạt động sản
xuất công nghiệp gắn liền với khoa học-kỹ thuật, công nghệ cho nên trình độ
khoa học-kỹ thuật ở mỗi quốc gia là thớc đo sự phát triển của đất nớc.
- Đô thị hóa tạo ra hệ thống không gian đô thị. Cùng với sự phát triển
các trung tâm đô thị, các khu dân c với nhiều loại quy mô đã tạo thành các
vành đai đô thị, các chùm đô thị và các vành đai, các chùm đô thị này đều
phát triển.
- Đô thị hóa góp phần phát triển trình độ văn minh của quốc gia nói
chung và văn minh đô thị nói riêng. Đô thị hóa phát triển cơ sở hạ tầng, phát
triển các cơ sở văn hóa, giáo dục, phát triển sự giao lu trong nớc và nớc
ngoài. Đô thị là điều kiện để tiếp nhận nền văn minh thì từ bên ngoài và phát
triển nền văn minh trong nớc.
2.1.2.4 Các yếu tố ảnh hởng đến quá trình đô thị hóa
Yếu tố tự nhiên: Trong thời kỳ kinh tế cha phát triển mạnh mẽ thì đô
thị hóa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Những vùng có khí hậu,
thời tiết tốt, có nhiều khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác
sẽ thu hút dân c mạnh hơn và do đó sẽ đợc đô thị hóa sớm hơn, quy mô lớn
hơn. Ngợc lại, những vùng khác sẽ đô thị hóa chậm hơn, quy mô nhỏ hơn. Từ

khu đô thị mới, các quận, phờng mới là hình thức phổ biến với các đô thị của
Việt Nam trong điều kiện còn nhiều hạn chế. Việc hình thành các khu đô thị
mới, các quận, phờng mới đợc xem là hình thức đô thị hóa theo chiều rộng
và là sự mở đờng của quan hệ sản xuất cho lực lợng sản xuất phát triển. Với
hình thức này dân số và diện tích đô thị tăng nhanh chóng. Sự hình thành các
đô thị mới để phát triển đồng đều các khu vực, các đô thị mới đợc xây dựng
trên cơ sở xây dựng các khu công nghiệp và các trung tâm kinh tế là xu hớng
tất yếu của sự phát triển.

14 Hiện đại hóa và nâng cao trình độ các đô thị hiện có là quá trình thờng
xuyên và tất yếu của quá trình tăng trởng và phát triển. Các nhà quản lý đô
thị và các thành phần kinh tế trên địa bàn đô thị thờng xuyên vận động nhằm
làm giàu thêm cho đô thị của mình. Quá trình đó đòi hỏi họ phải biết điều tiết,
tận dụng tối đa những tiềm năng sẵn có và hoạt động có hiệu quả cao trên cơ
sở hiện đại hóa trong mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội ở đô thị.
2.1.2.6 Sự phát triển của đô thị hoá
Quá trình đô thị hoá diễn ra song song với động thái phát triển không
gian kinh tế-xã hội. Trình độ đô thị hoá phản ánh trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất, của nền văn hoá và phơng thức tổ chức cuộc sống xã hội.
Quá trình đô thị hoá cũng là một quá trình phát triển về kinh tế-xã hội,
văn hoá và không gian kiến trúc. Nó gắn liền với tiến bộ của khoa học kỹ
thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới. Quá trình đô thị hoá có thể
đợc chia thành 3 thời kỳ [2]:
a/. Thời kỳ tiền công nghiệp (trớc thế kỷ XVIII)
Đô thị hoá phát triển mang đặc trng của nền văn minh nông nghiệp.
Các đô thị phân tán, quy mô nhỏ phát triển theo dạng tập trung, cơ cấu đơn
giản. Tính chất đô thị lúc đó chủ yếu là hành chính, thơng nghiệp, tiểu thủ

xuất và hoạt động thơng mại, dịch vụ sẽ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh
tế-xã hội, quy mô dân số của vùng để bảo đảm tính hoạt động có hiệu quả. Đồng
thời các trung tâm này còn là điểm nối hay sự chuyển tiếp giữa các đô thị lớn
làm cho tính hiệu quả của hệ thống đô thị đợc nâng cao. Trong quá trình đô thị
hóa, các trung tâm này sẽ trở thành những đô thị vệ tinh của các đô thị lớn.
c/. Mở rộng các đô thị hiện có
Việc mở rộngcác đô thị hiện có theo mô hình làn sóng là xu thế tất yếu
khi nhu cầu về đất xây dựng đô thị tăng và khả năng mở có thể thực hiện

16 tơng đối dễ. Xu hớng này tạo sự ổn định tơng đối và giải quyết các vấn đề
quá tải cho đô thị hiện có.
d/. Chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị
Đây là xu hớng hiện đại đợc thực hiện trong điều kiện có sự đầu t
lớn của Nhà nớc. Vấn đề cơ bản là tạo nguồn tài chính để cải tạo đất, xây
dựng kết cấu hạ tầng hiện đại.
2.1.2.8 Sự hình thành các khu đô thị mới
Khu đô thị mới là khu đô thị đang đợc phát triển tập trung theo dự án
đầu t xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ các công trình kết cấu hạ tầng, các công
trình sản xuất, công trình phúc lợi và nhà ở.
Trong khu đô thị mới có ba thành phần chính: kết cấu hạ tầng, công
trình sản xuất, công trình phúc lợi và nhà ở.
Quy mô một khu đô thị mới có thể từ 5-10 ha trở lên đợc sử dụng vào
mục đích kinh doanh hoặc không kinh doanh [18].
Các khu đô thị mới thờng đợc gắn với một đô thị hiện có hoặc với
một đô thị mới đang hình thành.
Trên phơng diện pháp lý, khu đô thị mới phải có một ranh giới và chức
năng xác định, phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị đợc cơ quan nhà nớc

tới là phát huy vai trò của các trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá trên
từng vùng và địa phơng, đi nhanh trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, đi đầu trong việc phát triển kinh
tế tri thức. Tạo vành đai nông nghiệp hiện đại ở các thành phố lớn [11].

18 2.1.3. Những vấn đề có tính quy luật thờng phát sinh trong quá trình đô
thị hóa ở Việt Nam
2.1.3.1 Mở rộng diện tích đất đô thị và thu hẹp diện tích đất nông nghiệp
Cả hai hình thức đô thị hóa đều dẫn đến sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng
đất. Hình thức phát triển theo chiều rộng đa đến tình trạng thu hẹp đất canh
tác nông nghiệp nhanh chóng vì một phần đất do Nhà nớc thu hồi để xây
dựng các công trình, một phần đất dân c bán cho những ngời nơi khác đến
ở, hoặc kinh doanh. Trong quá trình đô thị hóa Nhà nớc nắm thế chủ động
chuyển đổi mục đích sử dụng đất tạo đà mạnh mẽ cho sự phát triển đô thị.
Trong điều kiện kinh tế nớc ta, đô thị hóa dẫn đến tình trạng thu hẹp
đất canh tác nông nghiệp. Thực chất quá trình đó là thay đổi mục đích sử dụng
đất: từ đất nông nghiệp chuyển sang sản xuất công nghiệp, thơng mại, dịch
vụ, đất ở Quá trình này góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng đất nói chung
nhng cũng gây ra không ít các vấn đề xã hội.
2.1.3.2 Vấn đề dân số, lao động và việc làm đối với nông dân trong quá trình
đô thị hóa
Dân số và lao động ở đô thị gia tăng với tốc độ nhanh do nhiều nguyên
nhân, trong đó có sự dôi d về lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị
hóa là một nguyên nhân cần quan tâm giải quyết.
Trong quá trình đô thị hóa nói chung và đô thị hóa theo chiều rộng nói
riêng, cơ cấu dân c theo tuổi, giới, theo tầng lớp xã hội, theo nghề nghiệp
biến đổi nhanh chóng. Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét. Thu nhập

góc độ dân số và lao động, đô thị hóa là quá trình chuyển đổi cơ cấu dân số từ
khu vực I sang khu vực II và khu vực III của nền kinh tế. Những ngời nông
dân trớc đây gắn bó với ruộng vờn, sau khi trở thành dân c đô thị, họ bị mất
phần lớn ruộng đất canh tác. Với số tiền đợc Nhà nớc đền bù, họ dùng để tạo
nghề mới, xây dựng nơi c trú mới và nhiều vấn đề khác cũng thay đổi.

20 Trong quá trình đô thị hóa, cơ cấu ngành kinh tế trong vùng và cả nền
kinh tế cũng thay đổi theo hớng giảm tỷ trọng trong khu vực I, tăng tỷ trọng
khu vực II và III. Khi đô thị mở rộng ra vùng ngoại vi nhằm giải quyết vấn đề
quá tải dân số, hình thành các khu dân c đô thị ở các vùng ngoại vi thì các
hoạt động thơng mại, dịch vụ phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hớng tăng khu vực III. Ngoại thành là nơi có sự thay đổi mạnh mẽ về các
hoạt động thơng mại, dịch vụ.
b/. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực đô thị mới
Trong quá trình đô thị hóa, kinh tế ở các khu đô thị mới tăng trởng
nhanh chóng nhờ có sự tập trung lực lợng sản xuất, tạo ra năng suất lao động
cao, cách tổ chức lao động hiện đại.
Thực chất quá trình tăng trởng kinh tế là quá trình tăng việc làm ở đô
thị. Quá trình đó vừa làm tăng tổng việc làm vừa làm chuyển đổi cơ cấu kinh
tế trong kinh tế đô thị. Ngợc lại, việc chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế đô
thị làm tăng trởng kinh tế đô thị theo chiều sâu, tăng năng suất lao động xã
hội, tăng GDP bình quân đầu ngời ở đô thị.
c/. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực giáp ranh
Khu vực giáp ranh giữa đô thị và nông thôn luôn chịu ảnh hởng của cả
những ngoại ứng tích cực và tiêu cực. Mật độ dân c ở khu vực này sẽ tăng
dần, đất đai thay đổi nhanh về mục đích sử dụng. Một phần những ngời dân
nội thành mua làm nhà nghỉ, một phần sẽ trở thành nơi cung cấp dịch vụ giải

Thay đổi tập quán sinh hoạt, lối sống, phơng thức kiếm sống là kết quả
tất yếu của quá trình đô thị hóa. Ngời dân của đô thị sẽ nhanh chóng làm
biến đổi tập quán của những ngời mới đến thông qua các hoạt động xã hội,
quan hệ, sinh hoạt, làm việc hàng ngày. Những ngời mới đến, về mặt tâm lý
họ cần phải nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng mới. Nhu cầu của họ tăng

22 nhanh và họ cũng muốn đợc mọi ngời tôn trọng. Những tục lệ ma chay,
cới xin sẽ theo kiểu đô thị để kết hợp với xã hội đô thị. Tập quán sinh hoạt
hoàn toàn thay đổi, mục tiêu nâng cao đời sống và học hành cho con cái đợc
đặt lên hàng đầu.
2.1.3.7 Thay đổi hình thái kiến trúc
Hình thái kiến trúc đô thị đợc biểu hiện tập trung ở các kiểu nhà ở.
Kiểu nhà ở phản ánh trình độ văn hóa, mức sống, đặc điểm xã hội mỗi thời kỳ.
Tại các thành phố chúng ta có thể phân biệt những tòa nhà cổ, những tòa nhà
xây dựng thời bao cấp, những tòa nhà xây dựng thời kỳ đổi mới. Tại các vùng
nông thôn, các ngôi nhà kiểu thành thị đang dần thay thế cho nhà mái ngói.
2.1.3.8 Những vấn đề quản lý hành chính
Đô thị hóa theo chiều rộng bằng việc mở rộng quy mô đô thị dới hình
thức xây dựng các phờng, quận mới dẫn đến biến động ranh giới các đơn vị
hành chính cũng nh diện tích và dân số của đô thị và của các quận, các phờng.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của đô thị không còn phù hợp khi quy
mô đô thị tăng. Đồng thời với sự tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý nhà
nớc về địa giới hành chính, quá trình đô thị hóa làm xuất hiện mâu thuẫn
giữa cơ cấu kinh tế-xã hội hiện thực với thể chế quản lý hành chính nhà nớc.
Quá trình đô thị hóa dẫn đến sự cần thiết tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nớc
trên địa bàn. Về nguyên tắc, đô thị hóa đến đâu cần tổ chức lại bộ máy quản
lý nhà nớc trên địa bàn đến đó.

số 12 triệu ngời. Cấu trúc Tokyo gồm đô thị với các chức năng hành chính
kinh tế trung tâm, vùng Tama với chức năng nhà ở và phục vụ công cộng (27
thành phố, 3 thị trấn và 7 làng) và 2 đảo Lzu và Ogasawara. Vùng siêu đô thị
Tokyo gồm 3 tỉnh liền kề trong bán kính 50 km có tổng dân số 32,58 triệu
ngời, mật độ dân số là 10.440 ngời/km
2
. Tuy có ranh giới hành chính riêng
nhng thực chất hàng ngày có 3,16 triệu ngời ở 3 tỉnh đến làm việc trong bán
kính lên đến 70 km [15].
Tokyo và 7 tỉnh xung quanh (Saitama, Kanagawa, Chiba, Gumma,
Tochigi, Ibaraki và Yamanashi) đợc quy hoạch thành thủ đô quốc gia nhằm
giảm bớt áp lực dân số và chức năng tập trung theo hớng đa cực, lập vành đai
xanh hạn chế phát triển Tokyo. Ngoài u việt tập trung cao, giao thông phát

24 triển (ít phơng tiện cá nhân giảm ô nhiễm), Tokyo tập trung cao dẫn đến mất
cân đối các vùng, nhà đất khan hiếm và chất lợng thấp, tiện nghi thời gian
sống thiếu, sự lệ thuộc cơ giới, sự thiếu quy hoạch đầu t và gánh nặng hạ
tầng cao ốc.
2.2.1.3 Bangkok
Do vị trí địa lý cửa ngõ thuận lợi cho kinh tế và thơng mại nên thành
phố này đã nhanh chóng đợc Hoàng gia Thái Lan chọn đóng đô hơn hai thế kỷ
trớc. Sự phát triển ồ ạt nhanh chóng của nó phải kể đến khi Thái Lan tiến hành
công nghiệp hoá trong những năm 70-80. Thập niên cuối thế kỷ XX chứng kiến
sự phát triển vợt bậc của nó trở thành đô thị cực lớn duy nhất của nớc này.
Vùng đô thành Bangkok có dân số lên đến gần 7 triệu ngời (hơn một nửa dân
số đô thị cả nớc), với ranh giới trên 2.400 km
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status