ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ NGỌC
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn2iLỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng
tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công
trình nào khác.
Xác nhận
của Người hướng dẫn khoa học
TS. Nông Khánh Bằng
Tác giả luận văn
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt vii
Danh mục bảng biểu viii
A. MỞ ĐẦU 1
B. NỘI DUNG 4
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN CỦA GIÁO DỤC KĨ
NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
TỔ CHỨC TRÒ CHƠI 4
1.1. Lịch sử vấn đề 4
1.2.2 Kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định 7
1.2.3 Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo lớn 14
1.2.4 Giáo dục kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định cho trẻ mẫu
giáo lớn thông qua tổ chức hoạt động vui chơi 17
1.2.5 Biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định cho
2.2.2 Nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục kĩ năng giao tiếp, kĩ
năng ra quyết định cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hình thức tổ chức hoạt
động vui chơi trên địa bàn huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang 47
2.2.3 Kết quả đánh giá về kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định của
trẻ mẫu giáo trên địa bàn huyện Hiệp Hòa. 53
2.2.4 Các nguyên nhân dẫn tới kết quả giáo dục kĩ năng giao tiếp, kĩ
năng ra quyết định của trẻ mẫu giáo lớn. 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
Chương 3 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU
GIÁO LỚN THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG 59
3.1 Một số cơ sở có tính nguyên tắc trong việc xây dựng các biện pháp
giáo dục kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định cho trẻ mẫu giáo lớn
thông qua tổ chức hoạt động vui chơi ở các trường mầm non trên địa bàn
huyện Hiệp Hòa 59
3.1.1 Nghiên cứu xây dựng các biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp,
kĩ năng ra quyết định cho trẻ thông qua tổ chức hoạt động vui chơi
phải đảm bảo tính mục đích của quá trình giáo dục 59
3.1.2 Nghiên cứu xây dựng các biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp,
kĩ năng ra quyết định cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tổ chức hoạt
động vui chơi dựa trên quan điểm tiếp cận hoạt động và nhân cách
của trẻ 59
nói chung và kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định nói riêng cho trẻ
mẫu giáo lớn thông qua tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 63
3.2.2 Cụ thể hoá nội dung kĩ năng sống mà giáo viên cần dạy cho trẻ
mẫu giáo lớn thông qua tổ chức hoạt động vui chơi. 64
3.2.3 Phát triển kĩ năng sống qua việc tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng
sống với nội dung tổ chức trò chơi phong phú thu hút sự tham gia của trẻ 66
3.2.4 Đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng tăng cường giáo dục kĩ
năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tổ chức hoạt động vui chơi. 67
3.2.5 Phối hợp các lực lượng giáo dục trong việc giáo dục kĩ năng giao
tiếp, kĩ năng ra quyết định cho trẻ 70
3.2.6 Tạo môi trường thuận lợi để trẻ có cơ hội rèn luyện KNS 72
3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp giáo dục kỹ năng sống 74
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn7vi
3.3 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 75
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 75
3.3.2 Nội dung khảo nghiệm 75Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn9viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.2a Thái độ của trẻ trong việc tham gia trò chơi với những tình
huống giao tiếp (Đơn vị %) 41
Bảng 2.2b Mức độ tham giao tiếp và ra quyết định thông qua tổ chức
hoạt động vui chơi. (đơn vị %) 42
Bảng 2.2c: Thái độ tham gia ra rèn luyện kĩ năng giao tiếp và kĩ năng ra
quyết định của trẻ mẫu giáo lớn trong quá trình tổ chức trò
hoạt động vui chơi (Đơn vị %) 44
Bảng 2.2d. Mức độ tham gia ra quyết định của trẻ trong quá trình ra
quyết định khi tổ chức trò chơi (Đơn vị %) 45
Bảng 2.2e Những kĩ năng sống được giáo viên quan tâm giáo dục cho trẻ
trong quá trình tổ hoạt động vui chơi (Đơn vị %) 47
Bảng 2.2f Thực trạng sử dụng hình thức tích hợp nội dung giáo dục kĩ
năng ra quyết định và kĩ năng giao tiếp với nội dung tổ chức
hoạt động vui chơi (Đơn vị %) 50
Bảng 2.2g Hình thức được sử dụng trong giáo dục kĩ năng giao tiếp, kĩ
năng ra quyết định cho trẻ mẫu giáo thông qua tổ chức hoạt
động vui chơi (Đơn vị %). 51
Bảng 2.3a Nguyên nhân dẫn đến thực trạng rèn kĩ năng xử lý tình huống
và kĩ năng ra quyết định (Đơn vị %). 55
Bảng 2.3b Những khó khăn mà giáo viên gặp trong việc rèn kĩ năng giao
dẫn đến tình trạng này, trong đó việc thiếu kĩ năng sống là một trong những
nguyên nhân sâu xa nhất. Do vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ là rất
cần thiết và phải được quan tâm, chú trọng hàng đầu.
Kĩ năng sống được học tốt nhất thông qua các hoạt động tích cực của
trẻ. Đối với trẻ mẫu giáo, trẻ thường học các hành vi thông qua việc bắt
chước, nhập tâm, luyện tập hàng ngày lâu dần trở thành kĩ năng của trẻ. Để
giáo dục kĩ năng sống cho trẻ hiệu quả có rất nhiều các biện pháp khác nhau,
một trong số những biện pháp đó là biện pháp giáo dục thông qua tổ chức
hoạt động vui chơi bởi ở lứa tuổi của các em vui chơi là hoạt động chủ đạo,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn11
2
trẻ chơi mà học, học mà chơi. Do vậy, việc tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ
không chỉ giúp trẻ hình thành kĩ năng chơi đùa mà còn đặt nền tảng khá vững
chắc để phát triển những kĩ năng sống cho các em.
Trên thực tế, khi khảo sát vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo
lớn chúng tôi nhận thấy việc thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho các em còn
nhiều hạn chế. Thấy được tính cấp thiết của vấn đề tôi mạnh dạn lựa chọn đề
tài Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tổ chức hoạt động
vui chơi làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đề xuất các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ
mẫu giáo lớn thông qua tổ chức hoạt động vui chơi nhằm thực hiện mục tiêu
giáo dục toàn diện cho trẻ.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tổ
mẫu giáo trên địa bàn huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn13
4
B. NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN
CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC TRÒ CHƠI
1.1. Lịch sử vấn đề
Vấn đề giáo dục kĩ năng sống được coi là một trong những vấn đề
quan trọng trong giáo dục. Vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho con người đã
xuất hiện và được con người quan tâm từ xa xưa như học ăn, học nói, học gói,
học mở, học để làm người, học để đối nhân xử thế, Đó là những kĩ năng đơn
giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống và giai cấp của xã
hội thảo “Chất lượng giáo dục và kĩ năng sống” do UNICEF, Viện chiến lược
và chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23-25 tháng 10 năm 2003 tại Hà
Nội. Từ đó người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kĩ
năng sống.
Trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống
như: tác giả Mạc Văn Trang đã phân tích những vấn đề chung, kết quả nghiên
cứu về lối sống của sinh viên, phương hướng và biện pháp giáo dục lối sống
cho sinh viên; tác giả Nguyễn Thị Oanh nghiên cứu thực trạng về kĩ năng
sống và giáo dục kĩ năng sống cho vị tuổi thành niên và chỉ rõ các nguyên
nhân dẫn tới sự thiếu hụt kĩ năng sống của lứa tuổi này và đề xuất các biện
pháp khắc phục tình trạng đó; tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai đã đề cập tới
việc giáo dục kĩ năng sống trong trường phổ thông dưới góc độ khai thác
thông qua giáo dục đạo đức; tác giả Lê Hồng Sơn nghiên cứu về các kĩ năng
sống cho sinh viên khai thác dưới góc độ các kĩ năng hoạt động xã hội của
sinh viên trường đại học sư phạm; tác giả Nguyễn Thị Tính nghiên cứu giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua dạy học môn đạo đức tại
các tỉnh miền núi phía bắc. Tác giả Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu về thực
trạng kĩ năng sống cho trẻ và đề xuất một số giải pháp về giáo dục kĩ năng
sống cho trẻ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn15
6
Nhìn chung giáo dục KNS cho con người nói chung, cho trẻ nói riêng đã
được các nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm khai thác, nghiên cứu dưới
các góc độ khác nhau, nhưng với vấn đề giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo lớn
thông qua tổ chức hoạt động vui chơi thì ít có đề tài nào đi sâu nghiên cứu.
1.2 Khái niệm công cụ
+ Kĩ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định
nhằm đạt được mục đích đã đặt ra.
Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu kĩ năng một cách chung nhất: Kĩ
năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng
cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để
đạt được mục đích đề ra.
1.2.2 Kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định.
1.2.2.1 Kĩ năng sống
Tổ chức quốc tế đã định nghĩa khái niệm kĩ năng sống như sau:
Tổ chức y tế thế giới (WTO) cho rằng, kĩ năng sống là những kĩ năng
thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn khoẻ mạnh. Đó là những
kĩ năng mang tính tâm lý xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong
những tình huống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác
và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống trong cuộc sống
hàng ngày. Theo chương trình giáo dục kĩ năng sống của Quỹ nhi đồng Liên
hiệp quốc (UNICEF, 1996), kĩ năng sống bao gồm những kĩ năng cốt lõi như:
Kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra
quyết định, kĩ năng kiên định và kĩ năng đạt mục tiêu.
Các nhà khoa học Ấn Độ hiểu kĩ năng sống là những khả năng tăng
cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người, gồm có: Kĩ năng
giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng
đàm phán, kĩ năng đối phó với tình trạng căng thẳng, kĩ năng từ chối, kĩ năng
kiên định, hài hoà và kĩ năng ra quyết định. Các nhà khoa học Philipine cho
rằng kĩ năng sống là những năng lực thích ứng và tính cực của hành vi giúp
cho cá nhân có thể đối phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những
thay đổi, những trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày, gồm 11
kĩ năng sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn17
giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn18
9
Từ những quan niệm trên có thể thấy các quốc gia đều dựa trên quan
niệm về kĩ năng sống của các tổ chức quốc tế (WHO, UNESCO, UNICEF)
nhưng có tính khác biệt do điều kiện chính trị, kinh tế văn hoá của từng quốc
gia. Nội dung giáo dục kĩ năng sống vừa đáp ứng những cái chung có tính
chất toàn cầu vừa có tính đặc thù quốc gia. Một số quốc gia coi trọng một số
kĩ năng như: kĩ năng tư duy, kĩ năng thích ứng, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp
tác và cạnh tranh, kĩ năng luân chuyển công việc. Một số nước khác lại chú
trọng đến kĩ năng xoá đói giảm nghèo, kĩ năng phòng chống HIV/AIDS.
Dưới góc độ giáo dục, chúng tôi coi kĩ năng sống là tất cả những kĩ
năng cần thiết trực tiếp giúp cá nhân sống an toàn, thành công và hiệu quả,
trong đó tích hợp nhưng khả năng, phẩm chất, hành vi tâm lí, xã hội và văn
hoá phù hợp và đương đầu được với những tác động của môi trường sống.
Những kĩ năng sống cốt lõi cần nhấn mạnh là kĩ năng tư duy, kĩ năng thích
ứng cao, kĩ năng làm chủ bản thân, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng đương đầu
với xúc cảm, kĩ năng kiên định, kĩ năng tự bảo vệ,…Tóm lại, kĩ năng sống là
khả năng tâm lý xã hội của con người, giúp họ tương tác với người khác và
giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề do cuộc sống đặt ra.
* Phân loại kĩ năng sống:
+ Các nhóm kĩ năng sống từ góc độ xã hội
- Kĩ năng nhận thức bao gồm các kĩ năng cụ thể như tư duy phê phán,
tư duy sáng tạo, kĩ năng giải quyết vấn đề, ra quyết định, xác định mục tiêu,
định hướng giá trị.
- Kĩ năng đương đầu với cảm xúc, bao gồm: ý thức trách nhiệm, cam
- Kĩ năng giao tiếp liên nhân cách như: giao tiếp bằng lời nói, giao tiếp
không lời, kĩ năng biểu hiện cảm xúc, kĩ năng lắng nghe và kĩ năng xin lỗi.
- Kĩ năng thương lượng và từ chối bao gồm: Kĩ năng thương lượng và
kiềm chế xung đột, kĩ năng từ chối, kĩ năng hợp tác và làm việc theo nhóm …
- Kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề gồm: kĩ năng thu nhập
thông tin, kĩ năng phân tích, kĩ năng thực hành để đạt được kết quả.
- Các kĩ năng tư duy tích cực: kĩ năng nhận biết thông tin và lĩnh hội
nguồn thông tin thích ứng.
- Các kĩ năng phát triển và kiểm soát nội tâm gồm: kĩ năng xây dựng
tự tin và lòng tự trọng, các kĩ năng tự nhận thức bản thân bao gồm: nhận thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn20
11
về quyền lợi, nghĩa vụ, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, các kĩ năng ấn
định mục tiêu.
- Các kĩ năng kiềm chế cảm xúc: Sự kiềm chế tức giận, xử lý trạng thái
bồn chồn, kĩ năng xử lý với trạng thái mệt mỏi, các kĩ năng kiềm chế trạng thái
căng thẳng như: tư duy tích cực, lạc quan và các phương pháp thư giãn.
Việc phân loại kĩ năng sống chỉ mang tính tương đối, tuỳ thuộc vào
khía cạnh xem xét và đặc thù của từng quốc gia. Qua một số cách phân loại
trên thấy rằng cách phân loại của tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc
(UNICEF) dễ hiểu hơn cả, phù hợp với việc tổ chức giáo dục kĩ năng sống.
1.2.2.2 Kĩ năng giao tiếp
Giao tiếp là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp về nhiều mặt và nhiều
cấp độ khác nhau, là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó
trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác
động qua lại với nhau. Để giao tiếp có hiệu quả đòi hỏi mỗi người phải có kĩ
phải lên kế hoạch cho những lựa chọn và quyết định này.
Như vậy có thể hiểu: Kĩ năng ra quyết định là quá trình vận dụng
những tri thức, kinh nghiệm của bản thân để đưa ra các kết luận và hành động
nhằm giải quyết vấn đề đảm bảo đạt được một kết quả nào đó theo mong
muốn của chủ thể.
* Phân loại kĩ năng ra quyết định
- Quyết định theo chuẩn:
Quyết định theo chuẩn bao gồm những quyết định hàng ngày theo lệ
thường và có tính chất lặp đi lặp lại. Giải pháp cho những quyết định loại này
thường là những thủ tục, luật lệ và chính sách đã được quy định sẵn. Quyết
định loại này tương đối đơn giản do đặc tính lặp đi lặp lại của chúng. Con
người có khuynh hướng ra những quyết định này bằng cách suy luận logic và
tham khảo các quy định có sẵn. Vấn đề có thể phát sinh nếu con người không
thực hiện theo đúng các quy tắc sẵn có.
Tuy nhiên, có những quyết định theo chuẩn không được trực tiếp giải
quyết bằng những quy trình của tổ chức. Nhưng mỗi người vẫn có khuynh
hướng ra những quyết định loại này gần như một cách tự động. Vấn đề
thường chỉ nảy sinh nếu bản thân người đó không nhạy cảm và không biết tác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn22
13
động đúng lúc. Một lời cảnh giác cho mỗi người: không nên để những quyết
định theo chuẩn trở thành những chứng cứ biện hộ cho những quyết định cẩu
thả hoặc tránh né.
- Quyết định tức thời: là những quyết định đòi hỏi tác động nhanh,
chính xác và cần phải được thực hiện gần như ngay thời điểm đó.
Đây là loại quyết định thường nảy sinh bất ngờ không được báo trước và đòi
- Đánh giá quyết định.
1.2.3 Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo lớn
1.2.3.1 Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo lớn
Hoạt động vui chơi là một trong các loại hình hoạt động của trẻ ở
trường mẫu giáo, là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo được người lớn tổ
chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ thoả mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức,
đồng thời nhằm giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ ở lứa tuổi này.
Hoạt động vui chơi của trẻ là dạng hoạt động phản ánh sáng tạo, độc lập hiện
thực tác động qua lại giữa trẻ với môi trường xung quanh nhằm thoả mãn nhu
cầu vui chơi, nhu cầu nhận thức của trẻ. Lần đầu tiên trong hoạt động vui
chơi, trẻ thực sự là một chủ thể hoạt động tích cực, trẻ trò chuyện, giao tiếp,
vận dụng các ấn tượng, kinh nghiệm đã có… để thực hiện ý đồ chơi, nhờ thế
mà nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển.
1.2.3.2 Hoạt động vui chơi
Hoạt động vui chơi là loại trò chơi trong đó trẻ đóng một vai chơi cụ
thể để tái tạo lại những ấn tượng, những xúc cảm mà trẻ thu nhận được từ một
môi trường xã hội của người lớn nhờ sự tham gia tích cực của trí tưởng tượng.
Các trò chơi được tổ chức trong chương trình giáo dục mầm non bao gồm:
+ Trò chơi đóng vai
+ Trò chơi ghép hình, lắp ghép, xây dựng.
+ Trò chơi đóng kịch.
+ Trò chơi học tập.
+ Trò chơi vận động.
+ Trò chơi dân gian và một số trò chơi với công nghệ phương tiện hiện đại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn24
15