Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm Dioxin do chiến tranh tại một số điểm tồn lưu ô nhiễm ở Việt Nam - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỮU PHÚC
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM DIOXIN
DO CHIẾN TRANH TẠI MỘT SỐ ĐIỂM TỒN LƢU Ô NHIỄM
Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Khoa học Môi trƣờng
Mã số: 60 44 03 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng
TS. Nguyễn Anh Tuấn Thái Nguyên, năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


ii
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa hề bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và thông tin trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Học viên
Nguyễn Hữu Phúc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC

3.3.2. Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro môi trường ban đầu do tồn lưu ô nhiễm dioxin
54
3.4. Một số giải pháp quản lý, khắc phục và giảm thiểu 57
3.4.1. Những hạn chế liên quan đến quản lý ô nhiễm dioxin do chiến tranh 57
3.4.2. Một số giải pháp để quản lý, khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm dioxin 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
DANH MỤC CÁC TỪ - CỤM TỪ VIẾT TẮT

AND : Acide deoxiribo nucleic
AhR : Aryl nuclear Translocator
ARN : Acide ribo nucleic
BVMT : Bảo vệ môi trường
BVTV : Bảo vệ thực vật
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CP : Chính phủ
EPA : Environment program of America
ER : Estrogen Receptor
FAO : Tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc
GEMS : Hệ thống chương trình giám sát đánh giá ô nhiễm thực phẩm toàn cầu
HxCDD : Hexa chloro dibenzo dioxin
HpCDD : Hepta chloro dibenzo dioxin
HPLC : High-performance liquid chromatography
HxCDF : Hexa chloro dibenzo furan
HpCDF : Hepta chloro dibenzo furan
IARC : Tổ chức quốc tế về nghiên cứu ung thư


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Hàm lượng TCDD và độ độc tương tương (ppt) trong máu người
Việt Nam (1991 - 1992) 13
Bảng 1.2. Danh mục các bệnh ở người liên quan đến phơi nhiễm dioxin 14
Bảng 1.3. Các giá trị TEF của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong đánh giá
rủi ro đối với con người 15
Bảng 1.4. Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong cá, giáp xác và thực phẩm Mỹ đã
nhập khẩu ở Việt Nam 20
Bảng 1.5. Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong sữa lấy tại Việt Nam và Mỹ 21
Bảng 2.1. Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Đà Nẵng 25
Bảng 2.2. Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Biên Hòa 26
Bảng 3.1. Lượng chất phát quang phun rải ở miền Nam Việt Nam 28
Bảng 3.2. Diện tích bị ảnh hưởng của chất khai quang 30
Bảng 3.3. Diện tích đất bị rải ảnh hưởng nặng nề bởi chất phát quang có chứa
dioxin theo địa phương 32
Bảng 3.4. Các điểm lưu giữ chính các chất phát quang/dioxin/chất da cam

Nam 1961 -1971 34
Hình 3.4. Biểu đồ mô tả tỉ lệ các loại chất có trong tổng lượng các chất phát
quang tại sân bay Đà Nẵng 35
Hình 3.5. Tỉ lệ % các loại chất phát quang được lưu giữ, trung chuyển qua
sân bay Biên Hòa trong chiến tranh Việt Nam 38
Hình 3.6. Biểu đồ thể hiện nồng độ ng TEQ (Min, Mean, Max) của PCDD,
PCDF, WHO - TEQ 41
Hình 3.7. Biểu đồ thể hiện so sánh sự thay đổi nồng độ TCDD và sự thay
đổi nồng độ TEQ trong các mẫu đất lấy tại sân bay Đà Nẵng 42
Hình 3.8. Mô phỏng các hoạt động của quá trình đánh giá rủi ro môi trường 53
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chiến tranh đã kết thúc gần 40 năm nhưng những hậu quả để lại cho đến hiện
nay vẫn rất nặng nề. Một trong những hậu quả đó là vấn đề ảnh hưởng của dioxin có
trong hóa chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh. Cuộc chiến tranh
hóa chất ở Việt Nam diễn ra từ năm 1961 đến năm 1972 đã, đang và tiếp tục gây tác
động đặc biệt nghiêm trọng đối với môi trường và con người ở Việt Nam.
Theo số liệu thống kê được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố năm 2007 [39], trong
khoảng thời gian tiến hành cuộc chiến tranh hóa chất ở Việt Nam từ năm 1961 đến
năm 1972, quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 80 triệu lít hóa chất diệt cỏ và thực hiện
khoảng 6000 chuyến bay để phun rải xuống các khu vực ở miền Nam Việt Nam.
Trong đó, những khu vực được xác định bị phun rải nhiều nhất gồm có: Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế, Bình Phước, Sài Gòn, Đồng Nai và Cà Mau. Bên cạnh những khu
vực này, tại một số sân bay mà Không quân Mỹ đã sử dụng làm căn cứ để tập kết,
lưu giữ và trung chuyển hóa chất diệt cỏ như: Sân bay Đà Nẵng, sân bay Phù Cát –
Bình Định và sân bay Biên Hòa – Đồng Nai thì nồng độ dioxin trong môi trường

được vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chí để quốc tế công nhận. Vì vậy, để đáp ứng
những yêu cầu của thực tiễn thì việc tiếp tục có những nghiên cứu về thực trạng ô
nhiễm, phân tích, đánh giá được nồng độ dioxin trong môi trường là cần thiết và
đóng vai trò vị trí, quan trọng cho việc đề xuất các giải pháp quản lý, khắc phục ô
nhiễm, giảm thiểu rủi ro sinh thái, rủi ro cho sức khỏe của con người cũng như giải
quyết các vấn đề xã hội khác liên quan đến tồn lưu ô nhiễm dioxin.
Xuất phát từ những vấn đề thực tế nêu trên, được sự nhất trí của Ban giám
hiệu, Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đồng thời được
sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng và TS. Nguyễn Anh Tuấn, tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm dioxin do chiến
tranh tại một số điểm tồn lưu ô nhiễm ở Việt Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng ô nhiễm và bước đầu đề xuất mô hình đánh giá rủi ro
và giải pháp giảm thiểu ô nhiễm đối với môi trường do dioxin có nguồn gốc từ
chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
3. Yêu cầu
- Thông tin, số liệu thu thập được phải đảm bảo tính trung thực, chính xác và
khách quan;
- Các phương pháp nghiên cứu áp dụng cho đề tài phải đảm bảo tính khoa học;
- Đánh giá đầy đủ, chính xác nồng độ dioxin tồn lưu đất trầm tích;
- Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro ban đầu đối với môi trường do tồn lưu ô
nhiễm dioxin có nguồn gốc từ chiến tranh;
- Giải pháp và kiến nghị đề xuất phải có tính thực tế, khả thi.
4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
+ Cung cấp các căn cứ khoa học để tiếp tục có những định hướng cho việc
nghiên cứu tồn lưu ô nhiễm dioxin ở Việt Nam

- Tồn lưu ô nhiễm môi trường:
Theo định nghĩa của Bộ Môi trường New Zealand: “Điểm ô nhiễm
(contaminated site) là một vị trí/khu vực mà tại đó chất nguy hại xuất hiện ở nồng
độ cho phép và các đánh giá chỉ ra rằng nó gây ra, hoặc có tiềm năng gây ra rủi ro
trung hạn hoặc dài hạn cho sức khỏe cộng đồng và môi trường”
Theo nhóm Quản lý tồn lưu ô nhiễm của Canada thì “Điểm ô nhiễm tồn lưu là
vị trí/khu vực mà chất ô nhiễm xuất hiện ở nồng độ cao hơn nồng độ thông thường
và gây ra, hoặc có thể gây ra, hoặc có thể gây ra các tác động nguy hại trung hạn
hoặc dài hạn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, hoặc vượt quá tiêu chuẩn cho
phép trong luật”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
Theo các Bộ: Mơi trường, Giao thơng vận tải, Năng lượng và Truyền thơng
Thụy Sỹ thì “Điểm ơ nhiễm tồn lưu là những điểm bị ơ nhiễm mà dẫn tới những tác
hại hoặc tổn thất, hoặc tiềm tàng nguy cơ gia tăng tác hại”.
Luật Bảo vệ Mơi trường năm 1990 của Anh định nghĩa: “Điểm ơ nhiễm là mọi
khu vực có chứa các loại chất được xác định gây ra những tổn thương nghiêm trọng
hoặc có tiềm năng gây ra các tổn thương, hoặc gây ra ơ nhiễm hoặc có thể gây ra ơ
nhiễm cho các nguồn nước được kiểm sốt”
Ở Việt Nam, theo Đặng Kim Chi “Điểm ơ nhiễm tồn lưu là khu vực đã và
đang tồn tại những chất ơ nhiễm, có khả năng hoặc tiềm ẩn khả năng gây nhiễm độc
mơi trường khí, nước, đất và sinh vật cũng như tới sức khỏe con người” (Hội thảo
xử lý ơ nhiễm tồn lưu Việt- Đức năm 2007).
- Rủi ro mơi trường: “Rủi ro" là "sự kết hợp các xác suất, hoặc tần suất xẩy
ra của một mối nguy hiểm (hazard) xác đònh và mức độ hậu quả xẩy ra [31].
Do vậy, có thể hiểu rủi ro mơi trường là xác suất tác động có thể có của các
yếu tố nguy hại tồn tại hoặc tiềm ẩn trong mơi trường (chất ơ nhiễm…) và mức độ
tác động của các yếu tố nguy hại đó.
"Rủi ro" = "Nguy hại" + "Tiếp xúc" [31].

- Căn cứ Quyết định 184/2006/QĐ - TTg về việc thực hiện Công ước
Stockholm tại Việt Nam về quản lý các hợp chất POPs;
- Căn cứ Kế hoạch số 70 - KH/TU ngày 28 tháng 04 năm 2005, thực hiện
Nghị quyết số 41 - NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IX) về bảo vệ môi trường trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước.
1.3. Cơ sở lí luận
* Giới thiệu chung về dioxin
Dioxin là tên gọi chung của một nhóm hàng trăm các hợp chất hóa học tồn tại
bền vững trong môi trường cũng như trong cơ thể con người và các sinh vật khác.
Tùy theo số nguyên tử Cl và vị trí không gian của những nguyên tử này, dioxine có
75 đồng phân PCDD (poly-chloro-dibenzo-dioxines) và 135 đồng phân PCDF (poly
- chloro -dibenzo - furanes) với độc tính khác nhau. Theo Công ước Stockhoml năm
1972, dioxine còn bao gồm nhóm các PCBs (polyclobiphenyles), là các chất tương tự
dioxine, bao gồm 419 chất hóa học trong đó có 29 chất đặc biệt nguy hiểm. Trong số
các hợp chất dioxin, TCDD là nhóm độc nhất. TCDD và các dioxin khác được hình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
thành như một phụ phẩm của các quá trình hoá học, từ những hiện tượng tự nhiên
như núi lửa phun, cháy rừng đến các quá trình nhân tạo như sản xuất hoá chất, thuốc
trừ sâu, thép, sơn, giấy, quá trình thiêu và toả khói Dioxin là sản phẩm phụ của
nhiều quá trình sản xuất chất hóa học công nghiệp liên quan đến clo như các hệ thống
đốt chất thải, sản xuất hóa chất và thuốc trừ sâu và dây truyền tẩy trắng trong sản xuất
giấy [20]. Trong những năm chiến tranh, quân đội Mỹ đã sử dụng hơn 20 loại chất
diệt cỏ có chứa hàm lượng dioxin cao để phun rải xuống nhiều vùng thuộc miền
Trung và Nam nước ta [34].


(dung môi ko phân cực hoặc ít phân cực) và tan mạnh trong các dung môi hữu cơ
như dầu hỏa, diezen Chúng gắn với các chất hữu cơ và được hấp thụ vào mô mỡ
của tế bào sinh vật. Khi đã vào cơ thể con người dioxin nhanh chóng gắn với những
phân tử protein trong màng tế bào. Sau khi kết hợp với các thụ thể này dioxin nhanh
chóng được di chuyển và bào tương và nhân tế bào. Theo các quá trình sinh lý, hóa
sinh xảy ra trong cơ thể sinh vật thì dioxin tích lũy và tồn lưu trong thời gian dài.
Dioxin có áp suất bay hơi rất thấp, chỉ bằng 1,7.10
-6
mmHg ở 25
o
C, dioxin có điểm
nóng chảy cao khoảng 305
o
C và khả năng tan trong nước khoảng 0,2 µg/l. Về mặt ổn
định nhiệt thì hợp chất này ổn định nhiệt đến khoảng 750
o
C. Ngưỡng nhiệt độ để
phân hủy hoàn toàn dioxin khoảng 1000 - 1300
o
C.
* Nguồn phát thải dioxin
Đầu thế kỷ 20, khi công ty Dow Chemical Midland ở Mỹ thành công trong
việc nghiên cứu và tách chiết khí clo từ dung dịch muối ăn. Từ thời điểm đó clo đã
được sử dụng để tổng hợp nên các loại hóa chất như: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ,
các hợp chất dẻo-polyvinyl. Việc tổng hợp thành công và đưa vào sử dụng những
hợp chất này được xem như là một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tại thời điểm
đó. Trong các hợp chất là thuốc diệt cỏ thì dioxin được tìm thấy nhiều nhất, ước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9

trúc carbon lớn sang các hợp chất vòng (aromatic) [26].
- Các quá trình công nghiệp khác: Một số ngành công nghiệp khác có khả
năng phát thải ra dioxin là các ngành công nghiệp ximăng - tận dụng các nguyên
liệu đốt như dầu cặn, dầu thải, vỏ lốp xe ; dệt nhuộm và may mặc - do sử dụng các
hóa chất nhuộm đa số có chứa các nhóm chức hữu cơ và các công đoạn tẩy trắng
thường sử dụng hóa chất tẩy có chứa clo; ngành công nghiệp sản xuất giấy - quy
trình sản xuất giấy sử dụng hợp chất chlorophenols, hợp chất này được coi là chất
tiền dioxin.
* Sự tồn tại, phân bố và lan truyền của dioxin trong môi trường
Các hợp chất POPs nói chung và dioxin nói riêng, khi tồn tại trong môi
trường, chúng dễ dàng luân chuyển giữa không khí, đất và nước.
Trong môi trường không khí, dioxin tồn tại ở cả 2 trạng thái: hơi (pha khí) và
hấp phụ vào các hạt rắn (pha rắn) lơ lửng trong không khí. Trong môi trường nước,
dioxin được gắn vào các hạt rắn lơ lửng và các hạt trầm tích. Sự phân bố dioxin
giữa các môi trường không khí, đất và nước không ổn định. Như vậy, có thể thấy do
khả năng hòa tan trong nước thấp (khoảng 0,2 microgram/lít) cho nên trong môi
trường dioxin chủ yếu tồn tại ở pha rắn và pha khí.
Các hợp chất dioxin di chuyển vào không khí do sự phát thải trực tiếp hoặc do
sự phát tán bụi từ mặt đất. Sau một thời gian dioxin sẽ được đưa trở lại đất và nước
bởi sự lắng đọng qua bụi, mưa và tuyết. Trong nước, dioxin có thể được di chuyển
bởi dòng nước, tích lũy ở trầm tích hoặc đáy các thủy vực hoặc gắn với các phần tử
lơ lửng trong nước, một phần bay hơi vào không khí.
Do có tính tương thích cao với các chất hữu cơ nên dioxin sẽ tập trung chủ
yếu ở các khu vực có hàm lượng hữu cơ cao. Hàm lượng clo trong phân tử càng
cao thì càng dễ phân bố vào trong đất, trầm tích và chất hữu cơ. Tính tương thích
với các hợp chất hữu cơ của dioxin tăng lên khi số lượng nguyên tử clo trong
phân tử dioxin tăng lên.
Trong môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng, thì thông qua
chuỗi thức ăn lượng dioxin sẽ được khuyếch đại sinh học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

trường không khí, tạo nên đám mây hóa chất độc hại với thành phần chủ yếu là 2,3,7,8-
Tetrachlorodibenzo-p-dioxin, gây ô nhiễm một diện tích khoảng 15 km
2
, ảnh hưởng
đến 37000 người [17]. Đây được xem là thảm họa môi trường nghiêm trọng nhất trong
lịch sử nước Ý.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
* Ảnh hưởng của dioxin đến con người và động vật
Dioxin có khả năng di chuyển và tích lũy trong thực phẩm, quá trình đó còn
làm gia tăng các hiệu ứng sinh học của dioxin trong chuỗi thức ăn. Thông qua chuỗi
thức ăn, dioxin sẽ được tích lũy với khả năng khuyếch đại theo cấp số nhân ở các
bậc dinh dưỡng cao hơn trong chuỗi thức ăn. Đối với cơ thể động vật và con người,
dioxin có thể xâm nhập qua đường tiêu hóa, qua đường hô hấp, qua da, nhau thai và
sữa mẹ [24]. Tuy nhiên, đối với thực vật thì rất hiếm khi phát hiện thấy sự có mặt của
dioxin trong thực vật do đặc tính ít hòa tan trong nước và vì thế không thể hút lên bởi
hệ rễ ở thực vật.
Trong cơ thể động vật và con người, khi xâm nhập vào cơ thể do đặc tính
tương thích với các hợp chất hữu cơ cho nên dioxin chủ yếu tồn tại ở dạng tích lũy
tại các mô mỡ [37]. Tiếp xúc với dioxin ở nồng độ cao có thể gây tổn thương da và
thay đổi chức năng gan ở người. Tiếp xúc trong thời gian dài gây nên các thay đổi
đối với hệ thống miễn dịch, hệ thần kinh, các hệ thống của tuyến nội tiết và ảnh
hưởng tới hệ thống cũng như chức năng sinh sản. Do tính chất dễ tan trong các mô
mỡ cho nên khi xâm nhập vào cơ thể bằng con đường tiêu hóa, hô hấp dioxin dễ
dàng thấm qua màng ruột và phổi vào hệ tuần hoàn; tuy nhiên thời gian tồn lưu của
dioxin trong máu tương đối ngắn do máu sẽ trực tiếp đưa dioxin đến các mô mỡ của
các cơ quan trong cơ thể. Quá trình chuyển hóa dioxin trong cơ thể diễn ra dưới tác
động oxi hóa của men gan, cơ chế oxi hóa này sẽ cắt vòng của phân tử dioxin tại vị

23 - 118
Miền Nam Việt Nam
2062
1,0 - 33
8,7 - 105
(Nguồn: Văn phòng 33, 2010)
Đối với hệ thống di truyền ở cơ thể động vật nói chung thì một thí nghiệm trên
chuột cho thấy: dioxin làm tăng nồng độ các gốc ion tự do trong tế bào, đây chính là
nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại cấu trúc tế bào, hủy hoại các protein quan trọng
và có thể gây nên đột biến gen trên phân tử ADN. Đối với hoocmon sinh dục nữ thì
dioxin liên kết với các thụ thể ER là thụ thể hoocmon sinh dục nữ làm rối lọan chức
năng sinh sản, tăng khả năng ung thư buồng trứng, ung thư tử cung, ung thư vú và
gây biến đổi giới tính đối với các thế hệ tiếp theo [25].

Hình 1.3. Cấu trúc của phức hợp dioxin receptor Hình 1.4. Cơ chế gây độc của TCDD trong tế bào
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Năm 1996, tổng thống Mĩ đương nhiệm lúc đó là Bill Clinton đã chính thức
thừa nhận chất độc da cam gần như là nguyên nhân của 13 chứng bệnh nan y ở
người là: Ung thư tuyến tiền liệt, ung thư máu, ung thư thận, ung thư não, ung thư

Bệnh đa u tủy xương ác tính
Kahler’s disease
10
Bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính
và bán cấp tính
Acute and subacute peripheral neuropathy
11
Tật gai sống chẻ đôi
Spina Bifida
12
Bệnh trứng cá do clo
Chloracne
13
Bệnh đái tháo đường type 2
Type 2 Diabetes
14
Bệnh Porphyrin xuất hiện chậm
Porphyria cutanea tarda
15
Các bất thường sinh sản
Unusual births
16
Các dị dạng, dị tật bẩm sinh (đối với con của người bị nhiễm chất độc hóa
học/dioxin)
17
Rối loạn tâm thần
Mental disorders
(Nguồn: Bộ Y tế, 2008)
Các báo cáo của EPA đã công nhận dioxin là một chất gây ung thư cho con
người. Năm 1997, Tổ chức quốc tế về nghiên cứu ung thư (IARC) thuộc WHO đã

PCB 77
0,0001
1,2,3,6,7,8-HxCDD
0,1

PCB 81
0,0001
1,2,3,7,8,9-HxCDD
0,1

PCB 126
0,1
1,2,3,4,6,7,8-HpCDD
0,01 OCDD
0,0001
PCB 169
0,01
Dibenzofurans (PCDFs)

Mono-ortho PCBs
PCB 157
0,0005
1,2,3,4,6,7,8-HpCDF
0,01

PCB 167
0,00001
1,2,3,4,7,8,9-HpCDF
0,01 OCDF
0,0001
PCB 189
0,0001
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Trong một nghiên cứu kiểm định năm 2003, các nhà khoa học cũng khẳng
định không có một liều lượng nào là an toàn hoặc ngưỡng dioxin mà dưới nó thì
không gây ung thư. Điều này có thể hiểu là nếu một người phơi nhiễm dioxin dù
lượng nhỏ nhất thì đã mang trong mình hiểm họa ung thư. Ở Việt Nam, Bộ Y tế đã
ban hành danh mục các bệnh có liên quan đến dioxin nhằm phục vụ công tác giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status