ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN AN HUỆ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHU CÔNG NGHIỆP – ĐÔ THỊ
THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thanh Minh
Thái Nguyên-2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ các phòng ban thuộc UBND tỉnh
Bắc Ninh, Ban quản lý các dự án tỉnh Bắc Ninh, UBND thị xã Từ Sơn, Ban quản lý
các dự án thị xã Từ Sơn, Trung tâm Phát triển quỹ đất thị xã Từ Sơn và toàn thể các
hộ gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của tất cả bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và
những người thân đã là điểm tựa tinh thần và vật chất cho tôi suốt thời gian học tập
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, ngày 14 tháng 8 năm 2012
Tác giả
Nguyễn An Huệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
Mục lục
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
v
Danh mục các bảng
vi
MỞ ĐẦU
2.1. Câu hỏi nghiên cứu………………………………………………
34
2.2. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………….
34
2.2.1. Chọn điểm nghiên cứu…………………………………………………
34
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu …………………………………………
35
2.2.3. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu…………………………………
36
2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu…………………………………
37
2.3.1. Các chỉ tiêu kinh tế………………………………………………………
37
2.3.2. Các chỉ tiêu xã hội………………………………………………………
40
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TẠI
KHU CÔNG NGHIỆP – ĐÔ THỊ THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
41
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu……………………………………
41
3.1.1. Điều kiện tự nhiên…………………………………………………………
41
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội…………………………………………………
43
3.2. Thực trạng công tác GPMB tại các khu công nghiệp trên địa bàn thị xã
Từ Sơn–Bắc Ninh
89
4.4.2. Đối với chính quyền địa phương
89
4.4.3. Đối với những người quản lý ở các khu công nghiệp
89
4.4.4. Đối với các hộ có đất bị thu hồi
89
KẾT LUẬN
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
92
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v Danh mục các chữ viết tắt
STT
Chữ viết tắt
Nguyên văn chữ viết tắt
1
CC
Cơ cấu
2
CN-TTCN
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
3
CP
Thông báo – Tài nguyên môi trường
14
TĐC
Tái định cư
15
TM
Thương mại
16
SL
Số lượng
17
SXKD
Sản xuất kinh doanh
18
UBND
Ủy ban nhân dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
Danh mục các bảng
Số
hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Tình hình sử dụng đất đai tại thị xã Từ Sơn
44
3.2
Nguồn thu nhập của các hộ dân cư
68
3.12
Biến động về thu nhập của các hộ dân cư trước và sau khi bị thu
hồi đất sản xuất
71
3.13
Đánh giá của các hộ dân cư đối với đơn giá đền bù so với giá thị trường
73
3.14
Ý kiến của các hộ dân cư đối với việc bồi thường, hỗ trợ của Nhà nước
75
3.15
Đánh giá của các hộ dân cư đối với các chính sách hỗ trợ khác
75
3.16
Thái độ của các hộ trong việc giao đất đúng tiến độ
76
3.17
Những khó khăn của các hộ sau khi bị thu hồi đất
77
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ Sơn đã nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống như: nghề mộc ở Phù
Khê, Hương Mạc, nghề rèn ở Đa Hội, Châu Khê, nhiều chợ nổi tiếng, sầm uất, hàng
hóa rất đa dạng, phong phú, người mua, người bán đông đúc. Trong hệ thống chợ
tiên quyết như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVIII đã đề ra.
Mục tiêu đó có thể thực hiện được hay không phụ thuộc khá lớn vào công tác giải
phóng mặt bằng, bởi trong điều kiện hiện nay ở các địa phương nói chung, Từ Sơn
nói riêng, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xác định là một trong những
nhiệm vụ quan trọng để góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại đất nước.
Tuy nhiên, công tác GPMB của Thị xã còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc,
chưa đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Từ Sơn. Thậm chí
có lúc, có nơi xảy ra vụ việc phức tạp, kéo dài, làm chậm tiến độ thực hiện dự án,
gây tổn hại về kinh tế và ảnh hưởng trật tự trị an xã hội, mất nhiều thời gian và công
sức giải quyết.
Một trong những vấn đề quan trọng là người dân trong diện di dời phải thay
đổi nghề nghiệp, điều kiện sống, học tập, thay đổi tập quán và các vấn đề tâm lý, xã
hội khác. Cho nên bên cạnh đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng phục vụ đầu tư
xây dựng, thì tái tạo việc làm cho người dân trong diện di dời, tạo lập sự cân bằng
mới cho họ có được cuộc sống ổn định, cũng là yêu cầu hết sức cấp thiết hiện nay.
Chính vì những lý do đó, tôi chọn: “Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ
giải phóng mặt bằng khu công nghiệp-đô thị thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” làm
đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Tìm ra nguyên nhân làm chậm tiến độ công tác GPMB, từ đó đưa ra các biện
pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng trong dự án xây dựng khu công
nghiệp Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nhằm tạo lập và ổn định đời sống người dân trong
diện di dời, góp phần xây dựng thị xã Từ Sơn văn minh, giàu đẹp theo định hướng
và quy hoạch phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác giải phóng
4. Đóng góp mới của đề tài
Vai trò của công tác giải phóng mặt bằng là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng
trực tiếp đến sự thành công của các dự án nói chung và dự án khu công nghiệp – đô
thị (KCN – ĐT) Từ Sơn nói riêng. Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng công
tác GPMB tại KCN - ĐT Từ Sơn, đề tài đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy
nhanh công tác GPMB tại khu công nghiệp – đô thị trên địa bàn Từ Sơn.
Đối với Ban quản lý dự án và khu Công nghiệp, đề tài có thể giúp các Ban
quản lý thực hiện tốt các dự án đã được phê duyệt thông qua việc phân tích tổng
quát thực trạng công tác GPMB tại một số KCN – ĐT tại địa bàn Thị xã và tham
khảo một số giải pháp đẩy nhanh tiến độ GPMB mà tác giả đã đề ra.
Đối với chủ các dự án, đề tài tạo điều kiện cho các dự án có thể triển khai
đúng hạn thông qua việc đưa ra một số nguyên nhân chính gây ra tình trạng chậm
trễ trong công tác GPMB từ đó giảm thiểu được các khoản chi phí do trì trệ trong
công tác giải phóng mặt bằng gây ra, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, góp
phần nâng cao đời sống kinh tế - xã hội tại địa phương.
Đối với người dân, đề tài đưa ra cách nhìn tổng thể về công tác GPMB và bồi
thường GPMB. Các nghị quyết, quyết định được ban hành liên quan đến công tác và
bồi thường GPMB cũng được nêu lên để người dân hiểu và tuân thủ những quy định
của Nhà nước, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo đời sống ổn định cho nhân dân sau di dời.
Đề tài cũng là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những người có cùng lĩnh
vực nghiên cứu.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải phóng mặt bằng
Chương 2: Phương pháp và chỉ tiêu nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác GPMB tại KCN - ĐT Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Chương 4: Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng khu công
nghiệp – đô thị Từ Sơn, Bắc Ninh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
dụng đất để chuyển giao cho chủ dự án. Sau đó chủ dự án sẽ bồi thường cho việc di
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
dời các đối tượng như nhà ở, các công trình xây dựng trên đất, cây cối hoa màu…
trả lại mặt bằng để thi công công trình.
* Bản chất của giải phóng mặt bằng
Khi thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, công tác thu hồi đất
GPMB, Nhà nước phải tiến hành thu hồi đất của cá nhân, tổ chức, hộ gia đình. Mỗi
dự án có sử dụng đất được thực hiện tại những vùng, những khu vực nhất định với
đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau vì thế đối tượng GPMB rất đa dạng và
phức tạp. Việc thu hồi đất tại các khu trung tâm đông dân cư, khu đô thị, khu thuận
lợi cho công ăn việc làm là rất khó khăn. Bởi lẽ việc tìm một nơi ở mới của hộ gia
đình có ảnh hưởng rất nhiều tới đời sống, thu nhập cũng như phong tục tập quán
của họ (nơi ở mới xa trung tâm hơn, không thuận tiện giao thông, cơ sở hạ tầng thấp
kém hơn, đặc biệt là cơ hội việc làm của họ bị ảnh hưởng). Ngoài ra đơn giá bồi
thường giữa các dự án, giữa các mảnh đất có vị trí cũng như mục đích sử dụng khác
nhau là khác nhau dẫn đến khó khăn, phức tạp trong công tác bồi thường thiệt hại.
Trong các dự án có sử dụng đất cần thực hiện việc GPMB thì các dự án đầu
tư cho cơ sở hạ tầng, giao thông đô thị hoặc có sự kết hợp giữa mục đích chính của
dự án với việc đầu tư cơ sở hạ tầng sẽ làm cho giá đất đai ở các khu vực xung
quanh tăng lên khá cao. Ngẫu nhiên mang lại lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân, hộ gia
đình trước kia có đất ở sâu trong phố nay trở thành đất mặt đường và được hưởng
lợi. Việc thu lại khoản giá trị chênh lệch này rất khó, là vấn đề nan giải mà các nhà
chức trách vẫn chưa tìm ra giải pháp thích hợp. Trong các dự án mở đường giao
thông, một số hộ không bị thu hồi hết đất mà vẫn còn một phần nhỏ diện tích đất
phía trong. Sau khi GPMB, phần diện tích đất này được hộ gia đình tận dụng để xây
nhà, dựng ki ốt hoặc xây cửa hàng kinh doanh. Tuy nhiên, những kiến trúc này
không đủ tiêu chuẩn, ảnh hưởng tới mỹ quan, kiến trúc của đường phố, đô thị.
Công tác GPMB gắn liền với bồi thường cho người có đất bị thu hồi. Người
đến hoa mầu chưa được thu hoạch trên diện tích thu hồi. Mức đền bù đối với cây
hàng năm và vật nuôi trên đất có mặt nước tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch
một vụ tính theo mức thu hoạch bình quân của ba vụ trước đó theo giá nông sản,
thủy sản thực tế ở thị trường địa phương tại thời điểm đền bù.
- Tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
- Tiền hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất.
Các khoản hỗ trợ này nhằm mục đích giúp đỡ phần nào cho người dân sau
khi mất đất chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống và ổn định sản xuất, giảm
bớt gánh nặng kinh tế. Không nhằm mục đích giải quyết toàn bộ kinh phí chuyển
đổi nghề nghiệp và ổn định sản xuất cho nông hộ, vì các khoản hỗ trợ này không
nhiều và chỉ mang tính hỗ trợ.
Bồi thường GPMB là công việc hết sức cần thiết do đó cần có sự chỉ đạo kịp
thời của Chính phủ và sự phối hợp của các sở, ban, ngành có liên quan để tạo tiền
đề giúp cho công việc này tiến hành thuận lợi, giao mặt bằng kịp thời cho các chủ
dự án và đảm bảo lợi ích của các bên có liên quan.
* Đặc điểm quá trình bồi thường
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình mang tính đa
dạng và phức tạp.
a- Tính đa dạng thể hiện: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác
nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau. Khu vực nội thành,
mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực
ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động
sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ;
khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông
nghiệp. Do đó mỗi khu vực bồi thường GPMB có những đặc trưng riêng và được
tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu
vực và từng dự án cụ thể.
thao; các cơ sở sản xuất lớn và nhỏ: khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế; mở
rộng đô thị, sắp xếp lại hệ thống dân cư…là quy luật tất yếu của sự phát triển. Nhìn
vào sự phát triển kinh tế xã hội của các nước trên thế giới ta thấy nông nghiệp
chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu nhập quốc dân, trong khi đó công nghiệp và
dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều (các nước phát triển có tỷ trọng nông nghiệp
chỉ chiếm 2%-3% tổng thu nhập quốc dân còn công nghiệp chiếm 25%-30%, dịch
vụ gần 70% trong tổng thu nhập quốc dân). Tỷ lệ dân số đô thị cũng cao, đặc biệt ở
các nước phát triển (những nước này dân số đô thị chiếm khoảng 70% dân số cả
nước, Singapo phát triển đô thị 100% ). Như vậy xu hướng đô thị hoá diễn ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
mạnh mẽ, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, quy hoạch các khu dân cư, khu
kinh tế… sẽ đáp ứng cho nhu cầu phát triển quốc gia.
1.1.2.1. Giải phóng mặt bằng là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới
Cùng với quá trình đô thị hoá, dân số ngày một gia tăng do hai nguyên nhân
chính là sự tăng tự nhiên và tăng cơ học. Trong việc gia tăng dân số cơ học thì việc
gia tãng dân số ðô thị là rất lớn do có sự di dân từ nông thôn ra thành thị (luồng di
dân ðặc trýng ở Việt Nam). Ngoài ra có sự chia tách hộ từ ðại gia ðình thành nhiều
hộ nhỏ và cuộc sống của con người ngày càng nâng cao từ đó phát sinh nhu cầu cần
có nhà ở rộng rãi, tiện nghi hơn là điều tất yếu. Điều đó đòi hỏi một lượng nhu cầu
tương đối lớn về nhà ở cũng như nhu cầu khác để đảm bảo cho cuộc sống như khu
vui chơi giải trí, bệnh viện, công viên, trường học Đáp ứng nhu cầu này cần
GPMB nhằm tạo ra quỹ đất để xây dựng các công trình đó. Hệ thống giao thông
cũng cần được đầu tư mở rộng và xây dựng mới đáp ứng nhu cầu đi lại, lưu thông
hàng hoá…
Quỹ đất ngày càng hạn hẹp và các yêu cầu về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội, môi trường… tăng, không phải khi nào cũng có mặt bằng để xây dựng, không
phải khi nào cũng sử dụng đến quỹ đất chưa sử dụng hay xây dựng các công trình ở
nơi hoàn toàn vắng vẻ không có con người. Nhất là đối với nhu cầu mở rộng, cải
hiện quy hoạch sử dụng đất đã đề ra. Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
hợp lý là việc chuyển đổi những mảnh đất, những khu đất sử dụng kém hiệu quả
sang mục đích sử dụng có hiệu quả kinh tế cao hơn; đồng thời có sự tập trung đất
đai để không những mang lại hiệu quả kinh tế mà cả hiệu quả về môi trường, xã
hội. Ví dụ cho việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là việc chuyển đổi mục đích
sử dụng đất từ đất sản xuất nông nghiệp sang đất có mục đích sử dụng trong lĩnh
vực công nghiệp, dịch vụ, thương mại. Hay đất đang sử dụng vào mục đích nông
nghiệp, nhà ở, buôn bán sản xuất nhỏ lẻ sang xây dựng khu kinh tế, khu chế xuất,
khu công nghệ cao. Hay quy hoạch sử dụng đất cho mục đích sản xuất công nghiệp
hoá chất tại những vùng xa dân cư, cần di dời dân cư để tránh cho việc ô nhiễm
môi trường sống, nguồn nước sinh hoạt cũng như nguồn đất sản xuất. ở nước ta,
một số diện tích đất nông nghiệp tại trung tâm thành phố, trong khu đô thị hoá hay
gần các trục đường giao thông lớn đang dần bị thu hẹp. Thay vào đó là các khu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất hoặc để mở rộng các nút đường giao
thông… Đây là việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả, chuyển
mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp với hiệu quả kinh tế cao
hơn gấp nhiều lần và góp phần cho đô thị hoá, phát triển đô thị.
Việc sử dụng đất đai tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả là rất cần thiết bởi đất đai là
tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt của con
người và là thành phần quan trọng của môi trường sống đối với tất cả các sinh vật
trên trái đất. Việc phát triển đất đai như ngày nay đã phải trải qua một thời kỳ
tương đối dài trong lịch sử phát triển của nó. Thực tế các khu dân cư, khu công
nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp hình thành và phát triển tự nhiên nên manh mún,
nhỏ lẻ và thiếu đồng bộ dẫn tới một lượng đất đai bị sử dụng lãng phí, kém hiệu
quả. Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nhà nước đã tiến hành bố trí, sắp
xếp lại quy mô cũng như cơ cấu sử dụng đất trong cả nước nhằm sử dụng hiệu quả
nhất nguồn lực đất đai. Có sử dụng hiệu quả, hợp lý nguồn lực này sẽ tạo điều kiện
đai 2003 đã ra đời ngày 26 tháng 11 năm 2003 kèm theo các văn bản hướng dẫn chi
tiết việc thực hiện luật đất đai. Nghị định số 182/2004/NĐ - CP ngày 29 tháng 10
năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
(trong đó có vi phạm liên quan đến thu hồi đất, GPMB: cố ý gây cản trở cho việc
thu hồi đất, chậm bồi thường thiệt hại…). Nghị định số 188/2004/NĐ - CP ngày 16
tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá
các loại đất. Nghị định số 197/NĐ - CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (thay thế Nghị định số 22). Nghị
định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình
tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết
khiếu nại đất đai. Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 quy
định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư.
Căn cứ pháp lý cho công tác GPMB được áp dụng trên địa bàn thị xã Từ
Sơn là hệ thống văn bản của Tỉnh hướng dẫn về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất bắt đầu áp dụng từ tháng 8 năm 2011, bao gồm: Thông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
báo số 92/TB – TNMT ngày 01/04/2011 của thị xã Từ Sơn về mức bồi thường, hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp áp dụng trong công tác bồi thường,
GPMB trên địa bàn Thị xã; Quyết định 171/2009/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc
Ninh ngày 18/12/2009 về việc ban hành Quy định một số nội dung thực hiện các
Nghị định của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định vư khi Nhà nước thu hồi
đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; Quyết định số 322/QĐ-UBND của UBND
tỉnh Bắc Ninh ngày 21/03/2011 về việc phê duyệt giá đất ở trung bình và hỗ trợ đất
nông nghiệp thuộc địa giới hành chính các phường trên địa bàn thị xã Từ Sơn và
các bảng giá đất nông nghiệp, giá đất đô thị (kèm theo quyết định số 162/2010/QĐ-
UBND ngày 23/12/2010 của UBND tỉnh Bắc Ninh, và còn rất nhiều các văn bản
trực thuộc tỉnh.
Tổ chức phát triển quỹ đất.
* Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
+ Người bị thu hồi đất nếu chưa đồng ý về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
thì được khiếu nại theo quy định của pháp luật. Trách nhiệm giải quyết khiếu nại,
thời hiệu giải quyết khiếu nại thực hiện theo quy định tại Điều 138 của Luật đất đai
năm 2003 và Điều 162, 163, 164 Nghị định số 181/2004/ NĐ- CP ngày 29 tháng 10
năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai.
+ Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, người bị thu hồi đất vẫn phải chấp
hành quyết định thu hồi đất, giao đất đúng kế hoạch và thời gian đã được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền ra quyết định.
Như vậy thẩm quyền thực hiện công tác GPMB có sự tham gia của UBND
các cấp (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã), các sở, ban, ngành (sở, ban, ngành cấp tỉnh:
Sở Tài chính, Sở Xây dựng, quy hoạch & kiến trúc, Sở Tài nguyên & môi trường),
trách nhiệm của các bộ (Bộ tài chính, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài
nguyên & Môi trường), chủ đầu tư. Ngoài ra còn có đại diện của những hộ bị thu
hồi đất. Việc tham gia đầy đủ của các bên trong công tác GPMB đảm bảo cho lợi
ích của Nhà nước, chủ đầu tư cũng như lợi ích của người bị thu hồi đất, của cộng
đồng và xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
1.1.3.3. Các quy định về bồi thường giải phóng mặt bằng
Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số
197/2004/NĐ- CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định việc bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 84/2007/NĐ-
CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại đất đai; Nghị số
69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng
thời điểm quyết định thu hồi đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào
giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất
cụ thể cho phù hợp và không bị giới hạn bởi quy định về khung giá đất các loại đất.
Không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng.
- Các trường hợp thực hiện bồi thường chậm thì việc xác định giá đất để tính
bồi thường cụ thể theo quy định.
- Các giá đất bồi thường cũng được quy định khác nhau đối với các loại đất
nông nghiệp, phi nông nghiệp theo phạm vi điều chỉnh của khung chính sách về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
* Bồi thường về tài sản
Nguyên tắc bồi thường về tài sản
Khi Nhà nước thu hồi đất mà tài sản gắn liền với đất bị thiệt hại thì được bồi
thường theo các nguyên tắc sau:
- Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà bị thiệt hại
thì được bồi thường.
- Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà đất đó
thuộc đối tượng không được bồi thường thì tuỳ từng trường hợp cụ thể được bồi
thường hoặc hỗ trợ tài sản.
- Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau khi quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất công bố mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
cho phép xây dựng thì không được bồi thường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
- Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau ngày 07 tháng 7
năm 2004 mà tại thời điểm xây dựng đã trái với mục đích sử dụng đất đã được xác
định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã xét duyệt thì không được bồi thường.
- Tài sản gắn liền với đất được tạo lập sau khi có quyết định thu hồi đất được
công bố thì không được bồi thường.