PHÂN TÍCH NỀN KINH TẾ VÀ THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN
Trước khi tiến hành đầu tư vào bất kỳ chứng khoán nào cần phải xem xét việc đầu tư
đó trong mối quan hệ so sánh với các cơ hội đầu tư khác trong nền kinh tế và trên thị trường
quốc tế. Do đó cần phải tiến hành phân tích chứng khoán. Việc phân tích bao gồm: đánh giá
môi trường vĩ mô, tình hình thị trường chứng khoán; phân tích ngành nghề và phân tích công
ty của từng chứng khóan riêng lẻ nhằm xác định hiệu quả đầu tư có thể thu được tương ứng
với mức rủi ro dự kiến.
TTCK phản ánh những gì được kỳ vọng sẽ xảy ra trong nền kinh tế. Giá trị của một
khoản đầu tư phụ thuộc vào dòng tiền dự kiến và tỉ suất sinh lợi đòi hỏi. Cả hai nhân tố này
đều bị tác động bởi tổng hợp rất nhiều nhân tố của môi trường kinh tế vĩ mô. Vì thế, nếu bạn
muốn ước tính dòng tiền, lãi suất và phần bù rủi ro cho một chứng khoán bạn cần phải xem
xét các phân tích tổng thể của nền kinh tế
Phân tích chứng khoán được nhà đầu tư tiến hành nhằm trả lời các câu hỏi trước khi
đưa ra quyết định đầu tư bao gồm: khi nào là thời điểm thuận lợi để đầu tư; khi nào cần phải
rút ra khỏi thị trường; đầu tư vào loại chứng khoán nào để phù hợp mục tiêu đề ra và giá cả
thế nào?
Phân tích chứng khoán chúng ta cần phải xem xét đến yếu tố môi trường kinh tế - xã
hội trong quá trình phân tích. Ngoài yếu tố thứ hạng hay năng lực tiềm năng của một công ty
và sự quản lý của công ty đó, môi trường vĩ mô có một vai trò quan trọng đối với sự thành
công của một công ty và tỷ suất sinh lợi yêu cầu khi đầu tư vào công ty.
Ví dụ về cổ phiếu của một cty sản xuất đồ nội thất gia đình lớn và hoạt động có hiệu
quả nhất. Nếu bạn sở hữu những cổ phiếu này trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng mạnh, doanh
thu và lợi nhuận của công ty sẽ tăng và do đó tỷ suất sinh lợi mà bạn nhận được chắc chắn sẽ
rất cao. Ngược lại nếu bạn sở hữu những cổ phiếu này trong thời kỳ kinh tế suy thoái, khi đó
doanh thu và lợi nhuận của cty này có thể bị suy giảm và giá cổ phiếu của cty sẽ không tăng
thậm chí giảm đi. Do đó khi đánh giá giá trị tương lai của một chứng khoán thì việc phân tích
triển vọng của toàn bộ nền kinh tế, thị trường chứng khoán và của ngành mà cty đang hoạt
động là rất cần thiết.
Chúng ta có thể sử dụng phương pháp phân tích từ trên xuống (phương pháp top-
down, three- step approach), hay phân tích từ dưới lên (phương pháp bottom-up, stock
Đến thời điểm hiện nay, nhiều nền kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế lớn như Mỹ; EU
và Nhật Bản vẫn đang tiếp tục chịu tác động ảnh hưởng trực tiếp: tăng trưởng kinh tế âm;
sản xuất kinh doanh thu hẹp; đình trệ hoặc phá sản; tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Trong điều
kiện đó, thị trường tài chính; chứng khoán của các nước liên tục giảm điểm, tạo ra tâm lý
không tích cực đối thị trường, đối với nền kinh tế.
Ngược lại những triển vọng kinh tế và thị trường chứng khoán lạc quan của một quốc
gia, có thể những nhà đầu tư sẽ tăng sự phân bổ vốn tới quốc gia này.
Ở Việt Nam:
+ Dòng vốn đầu tư gián tiếp biến động mạnh. Trong thời gian qua, thị trường chứng
khoán trong nước liên tục điều chỉnh, với nhiều yếu tố tác động. Trong đó việc bán ròng
của các nhà đầu tư nước ngoài có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường, tạo hiệu ứng
mạnh đến tâm lý nhà đầu tư, và làm cho thị trường liên tục giảm điểm trong thời gian qua.
Việc các tổ chức tài chính –chi nhánh hoặc công ty con đang hoạt động ở Việt Nam, rút
vốn về nước nhằm cứu nguy hoặc đảm bảo an toàn cho các công ty mẹ. Bên cạnh đó khủng
hoảng tài chính cũng tạo tâm lý bảo toàn vốn; tâm lý nắm giữ tiền mặt hơn là cổ phiếu của
các Nhà đầu tư – Đây là 02 nguyên nhân cơ bản mà nhà đầu tư nước ngoài bán ròng trong
thời gian qua, có tác động ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán trong nước.
+ Các hoạt động đầu tư, liên kết góp vốn mua cổ phần của các nhà đầu tư chiến lược vào
hệ thống ngân hàng trong nước giảm và hạn chế hơn. Tác động mang tính gián tiếp này,
chủ yếu ảnh hưởng đến chiến lược tăng trưởng vốn điều lệ của một số NHTMCP ; hoặc
không đạt được theo kế hoạch kỳ vọng. Qua đó ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chiến
lược đổi mới công nghệ ; phát triển dịch vụ cũng như tiếp cận và học tập kinh nghiệm
quản trị, quản lý ngân hàng hiện đại của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Đây là
tác động tạm thời và mang tính ngắn hạn.
+ Đối với thị trường chứng khoán sức hấp dẫn kinh doanh trên TTCK đã giảm sút, sức
nóng của TTCK giảm dần, song hầu như chỉ nhận được các giá trị ảo "tiềm năng" các
cổ phiếu thưởng thay vì "tiền tươi" từ cổ tức hàng năm, quy luật lợi nhuận bình quân
trong kinh tế thị trường phát huy sức mạnh của nó, tỷ suất lợi nhuận trong các lĩnh vực
kinh doanh được san bằng, giá trị các chứng khoán phải trở về đúng với giá trị thực và mức
sinh lãi thực của chúng (phụ thuộc vào dao động xung quanh và mức lợi nhuận bình quân
tích Dales cho biết."Cơ hội tái đắc cử của ông Obama cũng như chỉ số S&P, đều được thúc
đẩy bởi sự phục hồi của kinh tế Mỹ. Dựa trên mối tương quan này, ông Obama được mong
đợi sẽ trở thành chủ nhân của chiếc ghế Nhà Trắng lần thứ 2, miễn là chỉ số S&P vẫn ở trên
1.200 điểm", ông Dales nói thêm.
Hoặc là thay đổi chính trị làm cho nhiều quy định và sự kiểm soát của chính phủ trong
một số ngành được thắc chặt và một số quy định trong các ngành khác lại được nới lỏng.
Chúng đều có tác động lớn tới kết quả kinh doanh của ngành, của mỗi công ty và không có gì
để đảm bảo rằng việc thắc chặt hay nới lỏng này sẽ tạo ra tác động tích cực hay tiêu cực cho
nền kinh tế.
+Môi trường pháp luật: cũng là yếu tố cơ bản gây tác động đến thị trường chứng khoán.
Các cơ quan chính phủ tác động đến TTCK bằng luật. Chẳng hạn những quy định về giá cả
dịch vụ sẽ gây tác động trực tiếp tới ngành dịch vụ công cộng. Luật chống độc quyền thường
làm giảm giá chứng khoán của các công ty mà nó điều chỉnh. Luật thâu tóm sáp nhập công ty
có thể gây tác động tiêu cực hoặc tích cực đến một nhóm các công ty. Do vậy môi trường
pháp lý cần được xem xét theo các góc độ như sau:
• Hệ thống hành lang pháp lý của TTCK được xây dựng như thế nào? Có đủ để bảo vệ
quyền lợi chính đáng của người đầu tư hay không?
• Các luật pháp khác liên quan có chồng chéo mâu thuẫn không?
• Khả năng thực thi luật pháp thế nào?
• Những mặt khuyến khích, ưu đãi và hạn chế được quy định trong hệ thống pháp luật.
• Sự ổn định của hệ thống pháp luật, khả năng sửa đổi và ảnh hưởng của chúng đến
TTCK.
1.2 Phân tích các ảnh hưởng kinh tế vĩ mô:
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng không những có mối quan hệ mạnh mẽ giữa giá cổ
phiếu và nền kinh tế mà còn cho thấy rằng giá chứng khoán thường thay đổi phù hợp trước
những gì nền kinh tế sẽ xảy ra. Có 2 lí do để giải thích tại sao giá chứng khoán có tính chất dự
báo đối với nền kinh tế.
Một là, giá chứng khoán phản ánh kì vọng của thu nhập, cổ tức và lãi suất . Khi nhà
đầu tư nỗ lực ước tính những giá trị này trong tương lai, quyết định về giá chứng khoán của
họ phản ánh kì vọng của nền kinh tế trong tương lai.
là một trong những năm khó khăn nhất đối với nền kinh tế Việt Nam và thậm chí còn khó
khăn hơn năm 2008 khi thế giới đối mặt với khủng hoảng tài chính. Cũng theo ông Nghĩa, thị
trường chứng khoán từ đầu năm đến nay đã chịu ảnh hưởng và phản ánh những khó khăn, bất
ổn của kinh tế vĩ mô. Đồng thời nó cũng chịu những tác động trực tiếp của chính sách tiền tệ
thắt chặt, đặc biệt là chủ trương cắt giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng phi sản xuất trên tổng dư nợ của
ngành ngân hàng.Công nhận những khó khăn này đang tác động lên thị trường chứng khoán,
bà Vũ Thị Kim Liên, phó chủ tịch Ủy ban chứng khoán Nhà nước cho rằng, những bất ổn từ
bên ngoài ảnh hưởng rất lớn đến thị trường. Vì vậy, trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong
nước đang gặp khó khăn thì chứng khoán đã phản ánh khá xác thực tình hình
Khi phân tích một nền kinh tế nhất thiết phải xem xét lãi suất. Mặt khác yếu tố lạm
phát cũng đóng vai trò không kém vì nó dẫn đến sự khác nhau giữa lãi suất danh nghĩa và Lãi
suất thực, thay đổi hành vi tiêu dùng và tiết kiệm của dân cư và doanh nghiệp. Thêm vào đó,
sự thay đổi không mong đợi của tỷ lệ lạm phát sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc
lập kế hoạch, ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới của doanh nghiệp. Không những thế, tỷ lệ
lãi suất và tỷ lệ lạm phát khác nhau còn tác động đến khâu thanh toán giữa các nước và tỷ giá
hối đoái.
Có nhiều nhân tố vĩ mô cơ bản tác động trực tiếp tới các hoạt động đầu tư trên thị
trường chứng khoán như:
+ Tổng sản phần quốc dân (GDP): Là tổng giá trị SP hàng hóa dịch vụ cuối cùng của
nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng GDP nhanh thể hịên một nền kinh tế phát triển tạo nhiều cơ
hội cho công ty tăng doanh số bán hàng, phát triển kinh doanh. Đây là đầu ra của nền kinh tế
và là sản lượng sản xuất của nền kinh tế.
Ngoài ra còn phải xem xét các chỉ tiêu khác như : CPI, FDI, cán cân thương mại, thu
ngân sách…
GDP quý 1/2012 chỉ tăng khoảng 4%
Theo số liệu Tổng cục Thống kê công bố ngày 29.3, do hầu hết các ngành, lĩnh vực gặp
nhiều khó khăn nên tăng trưởng kinh tế trong quý 1/2012 đạt thấp, tổng sản phẩm
trong nước (GDP) chỉ tăng 4% so với cùng kỳ năm 2011, thấp hơn mức tăng 5,57%
của cùng kỳ năm trước. Một chỉ số hết sức quan trọng là sản xuất công nghiệp ngành chế
biến đang sụt giảm rất mạnh, nếu cùng kỳ năm 2010 tăng 10,6% và 2011 tăng 13,4% thì
thất nghiệp tăng cao.
Tại Hà Nội, trong quý 1/2012, số lao động đến đăng ký thất nghiệp là 4.667 người, tăng cao
hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước. Hai tuần đầu của tháng 4, số người đăng ký thất nghiệp
là hơn 1.000 người.
Ông Vũ Trung Chính, giám đốc trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội cho biết, trong bốn
tháng đầu năm nay số người hưởng thất nghiệp đã tăng gấp gần ba lần so với năm trước. Số
người hưởng thất nghiệp tăng 2,8 lần so với năm ngoái, trong đó có tới 30% có trình độ đại
học và cao đẳng.
Báo cáo của UBND thành phố Hồ Chí Minh, quý 1/2012 có 5.012 doanh nghiệp gửi thông
báo ngưng hoạt động đến cục Thuế thành phố, tăng 4,6 lần cùng kỳ 2011.
Lãnh đạo của Trung tâm giới thiệu việc làm tại TP.HCM cho biết, số lao động đăng ký thất
nghiệp từ sau Tết tăng mạnh. Bình quân mỗi ngày có khoảng 400 lượt người đến đăng ký.
Từ giữa năm ngoái, lượng người nộp hồ sơ đã tăng mạnh, có lúc hơn 13.000 hồ sơ.
Kinh tế khó khăn, hàng loạt doanh nghiệp ở các ngành nghề phải cơ cấu lại nhân sự quản lý
và người lao động để tiết giảm chi phí. Chính vì vậy, không chỉ người có thu nhập thấp mà cả
những lao động có thu nhập cao từng làm việc trong các ngành “hot” trước đây như bất động
sản, chứng khoán, xây dựng,…đã đến nộp hồ sơ trợ cấp thất nghiệp, đối tượng này xuất hiện
nhiều hơn so với thời điểm cách đây 3 năm.
Hệ lụy và giải pháp
Thất nghiệp đang là một nỗi lo lớn, tình trạng thất nghiệp gây nhiều hệ lụy và trở thành gánh
nặng cho xã hội. Tác động của thất nghiệp vô cùng nguy hiểm cho an sinh xã hội và sự phát
triển bền vững của một nền kinh tế.
Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn
lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ.
Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm. Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu dùng, cơ
hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm. Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp
cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó mà cơ hội đầu tư cũng ít
hơn.
về ngoại tệ không cao do yếu tố mùa vụ, và do nhu cầu nhập khẩu hàng hóa tăng không
mạnh trong thời gian vừa qua. Trong khi đó, cung ngoại tệ khá dồi dào khi kim ngạch xuất
khẩu khá cao, lượng kiều hối tăng mạnh trong dịp Têt nguyên đán, dòng vốn đầu tư gián
tiếp nước ngoài cũng tăng mạnh khi một số quỹ ETF chính thức tham gia vào thị trường,
và thông điệp duy trì biên độ tỷ giá 2-3% trong năm 2012 đã khiến cho tình trạng đầu cơ
ngoại tệ giảm, niềm tin vào sự ổn định tỷ giá lớn dần lên. Do đó, thanh khoản ngoại tệ của
hệ thống ngân hàng cũng khá dồi dào, lãi suất USD liên ngân hàng ít có biến động. Thị
trường ngoại hối ổn định cũng đã giúp NHNN mua thêm được hơn 6 tỷ USD trong quý I và
đưa mức dự trữ ngoại hối lên khoảng 19 tỷ USD. Mức dự trữ ngoại hối tăng cùng với
cán cân thương mại
được cải thiện đã giúp cho cán cân thanh toán tổng thể trong 3 tháng
đầu năm thặng dư khoảng 2 tỷ USD.
+Thâm hụt ngân sách: Bất kỳ sự thâm hụt ngân sách nào đều phải được bù đắp bằng
các khoảng vay chính phủ. Giá trị của các khoảng vay của chính phủ càng lớn sẽ càng có tác
động để làm tăng lãi suất chuẩn. Các khoản vay của CP quá lớn sẽ cản trở việc vay nợ và đầu
tư cá nhân do tăng lãi suất và bóp nghẹt việc đầu tư kinh doanh.
+Thái độ: Sự lạc quan hay bi quan đối với nền kinh tế của người tiêu dùng và nhà sản
xuất là yếu tố quyết định đến nền kinh tế.
Ví dụ nếu người tiêu dùng biết mức độ thu nhập của mình trong tương lai thì họ sẽ sẵn sàng
chi tiêu cho các khỏan tiêu dùng có giá trị lớn. Cũng tương tự như vậy, các doanh nghiệp sẽ
tăng sản lượng và mức độ hàng tồn kho nếu họ đoán được sẽ có một nhu cầu rất lớn về sản
phẩm của mình
Hiệu ứng tâm lý bầy đàn có tác động mạnh đến thị trường: qua diễn biến của tình
hình thị trường chứng khoán trong thời gian qua, cho thấy sức mạnh của đám đông và hiệu
ứng tâm lý bầy đàn trong kinh doanh. Việc đồng loạt "gia nhập" hay "rút lui" khỏi thị
trường chứng khoán, cũng như việc cùng mua, cùng bán các chứng khoán theo phong trào
của đa số các nhà đầu tư "không chuyên" cả về kiến thức tâm lý và năng lực tài chính,
cũng như mục tiêu đầu tư, đã tạo sức mạnh khôn lường làm biến dạng thị trường với các
quy luật vốn có của nó, từ đó tạo ra các tình huống khó đoán trước đối với các nhà đầu tư
dài hạn và cả các nhà quản lý. Đây cũng là vấn đề cần quan tâm giải quyết, nhằm hạn
hại cho người nắm giữ nó. Như vậy lãi suất biến động ảnh hưởng đến giá chứng khoán và
đây là yếu tố mà các nhà đầu tư phải xem xét khi thực hiện quyết sách đầu tư của mình.
Ví dụ như: Năm 2010 do áp lực lạm phát và lãi suất tăng cao, tỷ lệ nhập siêu cao, trong
khi đó tăng trưởng tín dụng, cung tiền lại giảm so với năm 2009 nên chỉ số VN-Index giảm
đáng kể đạt đáy vào ngày 27/08/2010 với 423,1 điểm, và 22/11/2010 tại mức 422,71 điểm, và
so với mức đỉnh điểm 548,75 điểm ngày 05/05/2010 thì nó giảm gần 23%.
Bước sang năm 2012, nền kinh tế vĩ mô trong nước tuy chưa hoàn toàn hết khó khăn
nhưng cũng đã cho thấy những dấu hiệu chuyển biến tích cực, đặc biệt là việc kiềm chế và
ổn định lạm phát. Thị trường cổ phiếu vì vậy cũng đã lập tức phản ánh những kỳ vọng lạc
quan kể trên qua hoạt động giao dịch. Nếu như năm 2011 là giai đoạn lao dốc của thị
trường thì quý I/2012 lại có thể xem như một quý thăng hoa với đà phục hồi dài và
mạnh mẽ của các chỉ số chứng khoán. Đóng cửa ngày 30/03/2012, VN-Index và HNX-
Index lần lượt tăng thêm 25,45% và 22,91% so với thời điểm cuối năm ngoái. Với kỳ vọng
nền kinh tế vĩ mô trong nước năm 2012 sẽ tiếp tục được duy trì đảm bảo ổn định, từng
bước đẩy lùi khó khăn thì thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2012 được dự báo
sẽ có một kịch bản lạc quan hơn so với năm 2011.
Rủi ro lạm phát: Theo Fisher thì Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + tỉ lệ lạm phát
Nếu nhà đầu tư dự đoán lạm phát trong tương lai tăng thì lã suất danh nghĩa đòi hỏi cũng
phải tăng lên.
Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu: Là mối quan hệ trực tiếp và ngược chiều
nhau vì theo công thức tính giá trái phiếu, lãi suất thị trường là nhân tố chiết khấu, do
vậy nếu nhân tố này càng cao thì các dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn,
trong khi giá trị tương lai của các dòng tiền này là cố định, do vậy dẫn đến giá trái
phiếu càng nhỏ. Vì vậy khi lãi suất cao, giá trái phiếu thấp có thể là một cơ hội tốt để
đầu tư vào trái phiếu.
Mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu: Là mối quan hệ không trực tiếp và không
hoàn toàn diễn ra theo một chiều. Lý do ở chỗ dòng tiền thu nhập của CP không cố
định như của TP mà ngược lại, chúng có thể thay đổi cùng với lã suất và mức thay đổi
này có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn thay đổi của lãi suất. Có thể xảy ra một số trường hợp
sau:
• Xem xét các bước ngoặt chu kỳ kinh doanh tốt sẽ đưa ra được lời khuyên hữu ích trước
khi chúng xảy ra.
• Lợi nhuận của chứng khoán có thể âm (dương) khi chu kỳ kinh doanh lên đỉnh (xuống
đáy)
• Nếu nhà đầu tư có thể nhận ra mức đáy của nền kinh tế trước khi nó xảy ra, một thị trường
gia tăng có thể dự đoán được.
• Chuyển đổi sang cổ phiếu, hết tiền mặt
• Khi nền kinh tế phục hồi, giá chứng khoán có thể xuống cấp độ hoặc thậm chí suy giảm
• Dựa vào quá khứ, Tỷ lệ P/E thị trường thường tăng trước khi kết thúc sự suy thoái.
1.3 Dự đoán tình hình kinh tế và xu hướng thị trường:
Như đã nêu trên, môi trường kinh tế vĩ mô quyết định xu thế chung của thị trường
chứng khoán. Thông thường khi nền kinh tế phát triển tốt, thị trường chứng khoán đi lên và
ngược lại khi kinh tế vĩ mô sa sút, rõ nét nhất là trong khủng hỏang kinh tế thì thị trường đi
xuống.
TTCK và cuộc khủng hoảng:
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, giá trị tất cả cổ phiếu trên các TTCK
trong vùng đã đột ngột rớt xuống một cách thê thảm. Lấy giá cổ phần của một công ty bất
động sản làm thí dụ thì từ 15 SGD chẳng hạn, nó tụt xuống chỉ còn 3,5 SGD vào giữa tháng
8/1998. Cứ thế mà suy ra thì một số lượng giá trị tài sản khổng lồ của cả nền kinh tế
Singapore, cũng như của cả vùng châu Á trong thoáng chốc đã vụt biến mất. Và việc phải đến
đã đến, các ngân hàng bắt đầu làm cái công việc mà họ không mấy thích là "xiết nợ". Người
đi vay buộc phải nộp thêm thế chấp, nếu không thì ngân hàng sẽ mang bán các cổ phiếu cầm
chứng ấy để giảm bớt số tiền cho vay. Càng cố gắng tống các cổ phiếu ấy đi nhiều chừng nào
thì giá các cổ phiếu ấy càng sụt đi nhanh chừng ấy. Người có tiền trong tay thì không dám
mua trong khi người muốn bán ngày càng nhiều. Cứ như thế mà giá cổ phiếu trên TTCK sụp
đổ nhanh chóng khiến trị giá thế chấp cho nhiều món nợ sụt hẳn đi, đưa các công ty đến tình
trạng phá sản.
Tình hình ở Malaysia tệ đến nỗi ngày 19/8/1998, thủ tướng Mahathir lại một lần nữa
lên tiếng báo động rằng các thế lực bên ngoài đang lợi dụng cơn khủng hoảng kinh tế để mua
cổ phần hầu nắm chủ quyền các công ty Malaysia, và ông đe dọa rằng lần này chính phủ
biến động trước khi có biến động tình hình kinh tế từ 2 đến 11 tháng. Như vậy có nghĩa là các
dự báo kinh tế trong tương lai đã đưa đến những thay đổi về giá chứng khoán trước khi các
thay đỗi của các điều kiện kin tế cơ bản thật sự diễn ra.
Khủng hoảng nợ công châu Âu tác động tới thị trường chứng khoán châu Á
Đài Ôxtrâylia ngày 13/9 phát sóng bài phân tích về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ công tại
châu Âu đối với nền kinh tế của châu Á.
Bài phân tích nhận định nền tài chính ở châu Âu hiện trong tình trạng "rối ren", các quốc gia ngày
càng lún sâu vào vũng lầy nợ nần, song dường như các quốc gia ở châu lục này lại không đề ra được
một kế hoạch rõ ràng nhằm cứu nguy kinh tế. Hơn nữa, mặc dù Liên minh châu Âu (EU) đã chi ra
nhiều tỉ USD để cứu nền kinh tế Hy Lạp, song các chuyên gia tài chính và kinh tế Đức vẫn nhận định
Hy Lạp có nguy cơ bị phá sản; trong khi đó, kinh tế Italia tiếp tục "u ám" vì điểm tín dụng của nước
này bị hạ thấp
Tình trạng trên đã tác động mạnh đến nền kinh tế châu Á. Vào ngày 12/9, giá chứng khoán tại tất cả
các thị trường đều giảm 2-3%; riêng tại thị trường chứng khoán Ôxtrâylia bị giảm tới gần 4%, tương
đương 45 tỷ đôla Ôxtrâylia (AD), trong khi giá trị đồng AD cũng giảm đáng kể. Các ngân hàng cũng
như công ty xuất khẩu nguyên vật liệu như BHP Billiton bị thiệt hại hết sức nặng nề.
Trong khi đó, giá chứng khoán tại thị trường chứng khoán Tôkiô (Nhật Bản) sụt giảm nhiều nhất kể
từ 2 năm vừa qua. Đồng yên của Nhật Bản tăng giá so với đồng ơrô. Cùng lúc đó, giá chứng khoán
cũng sụt giảm tại các thị trường chứng khoán Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan, đồng thời giá dầu
mỏ trên thị trường châu Á cũng giảm.
Về kinh tế Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ nhất châu Á và lớn thứ hai thế giới, hầu hết các nhà phân
tích cho rằng Trung Quốc vẫn có khả năng thoát khỏi tình trạng rối loạn hiện nay. Theo các số liệu
vừa được công bố vào tháng 8 vừa qua, thặng dư thương mại bị giảm gần 50%, song không phải là vì
kim ngạch xuất khẩu giảm mà vì nhập khẩu tăng tới 30%. Thực tế, kim ngạch xuất khẩu của Trung
Quốc không giảm mà đã tăng tới 25%. Kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới nay, gần như mọi
yếu tố thúc đẩy kinh tế Trung Quốc phát triển đều do mức cung cầu và sức mua trong nước tạo ra.
Các hoạt động đầu tư tại nước này cũng tốt đẹp và cán cân thương mại cũng như chi tiêu của khu vực
công đều tốt. Dựa trên các yếu tố này, mức tăng trưởng kinh tế trong năm nay của Trung Quốc được
dự đoán sẽ là 9%./.
2. Phân tích thị trường chứng khoán:
lên ngôi trong suốt 5 tháng đầu năm 2010. Từ đó đã xuất hiện những CP có kết quả kinh
doanh lỗ hoặc kém hiệu quả mà giá vẫn tăng (MTG, PVA, SRA, SRB…). Thay vì được dẫn
dắt bởi các tổ chức chính quy, thị trường đã bị dẫn dắt bởi các đội lái, hùa theo đó là các NĐT
nhỏ lẻ. Từ tháng 5/2010, cùng với xu hướng giảm của thị trường, nhóm CP nhỏ lao dốc
không phanh, gây mất niềm tin, sự chán nản tột độ của NĐT nhỏ.
HNX-Index phản ánh trung thực diễn biến của thị trường hơn chỉ số VN-Index.
Trong nhiều giai đoạn của năm 2010, chỉ số VN-Index đã không còn phản ánh chính xác tình
hình chung trên sàn HOSE khi chỉ cần một vài bluechip tăng điểm là giữ được màu xanh của
chỉ số. Trong bối cảnh đó, NĐT đã quan tâm đến chỉ số HNX-Index nhiều hơn, bởi diễn biến
trên sàn Hà Nội phản ánh cung cầu thật của thị trường. Giá CP cũng thường biến động cùng
chiều với biến động của chỉ số chính.
Năm 2010 là năm niêm yết ồ ạt của các CTCK với con số từ 4 công ty niêm yết trong
năm 2009, đã tăng lên 25 CTCK niêm yết trong năm 2010 với động cơ chủ yếu là tạo thanh
khoản và uy tín, tuy nhiên hiệu quả hoạt động không cao
Khối các NĐT nước ngoài mua ròng các mã bluechips khi TTCK sụt giảm, đồng thời
bán ra cơ cấu lại trong các phiên tăng điểm. Năm 2010, khối này mua ròng trên HSX tới
14.400 tỷ đồng về giá trị và 244 triệu đơn vị về khối lượng. Đây là khối lượng mua ròng kỷ
lục trong 10 năm hoạt động của khối các NĐT nước ngoài trên TTCK Việt Nam.
Dòng tiền mạnh vào cuối năm 2010 đã giúp TTCKVN thoát khỏi xu hướng giảm trung
hạn. Dòng tiền mạnh được xác định trước tiên từ các tài khoản lớn trong nước, bên cạnh đó là
dòng vốn chốt lời từ các thị trường vàng/ngoại tệ, dòng vốn nóng từ các thị trường như Thái
Lan, Malaysia, Indonesia… đã quay trở lại thị trường Việt Nam.
Nhìn chung trong giai đoạn 2008-2010: số tài khoản của NĐT , số công ty niêm yết đều
gia tăng, mức vốn hóa và tỉ lệ trong GDP suy giảm trong năm 2008 nhưng đã khôi phục và
gia tăng tốt trong 2 năm 2009 và 2010.
Năm 2011
10 sự kiện chứng khoán tiêu biểu năm 2011
1. TTCK với những kỷ lục buồn
!"#$%&'()*+,-*.
/0 123 4(*13 560*78(9:*;(<*<=!%&>