MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Phương pháp luận của duy vật biện chứng đóng vai trò hết sức quan
trọng và cần thiết trong dạy học Toán, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay.
Phải kết hợp tư duy lôgic và tư duy biện chứng, cả tư duy hình tượng cũng
như tư duy khác và nhiều phẩm chất khác của con người, để đáp ứng nhu cầu
phát triển của xã hội. Nắm được phương pháp luận của phép duy vật biện
chứng, điều này giúp cho học sinh hiểu sâu được cội nguồn của Toán học, từ
đó vận dụng tri thức khoa học rèn luyện ý chí, năng lực sáng tạo, độc lập và
phát hiện vấn đề trong cuộc sống.
Trong thời đại khoa học phát triển như vũ bão hiện nay, người GV cần
phải ngày càng đổi mới trong cách dạy, HS cần đổi mới trong cách học mới
đáp ứng được xu thế đó. Phải biết vận dụng được những quy luật cũng như
các cặp phạm trù của phép duy vật biện chứng vào giảng dạy mới có thể đáp
ứng những nhu cầu cho học sinh trong thời đại ngày nay.
1.1. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII khẳng định: “ Phải đổi mới
phương pháp Giáo dục − Đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học, từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học ”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định lại: “ Tiếp
tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp
dạy và học ”.
Luật Giáo dục nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 1998)
quy định: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự
1
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn ”.
Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy
học Toán nói riêng, đặc biệt trong điều kiện hiện nay là hoàn toàn cần thiết,
đó là vấn đề mà Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục đặc biệt quan tâm, nhằm
việc vận dụng một số quan điểm biện chứng của tư duy toán học, đóng vai trò
hết sức quan trọng trong dạy học Toán. Việc vận dụng một số quan điểm biện
chứng trong quá trình dạy học cho HS là một quá trình lâu dài, kéo dài suốt cả
quá trình học tập, với nhiều hình thức phong phú và mức độ từ thấp đến cao,
từ đơn giản đến phức tạp bằng việc vận dụng các quy luật và các cặp phạm trù.
Nâng cao được chất lượng dạy học là vấn đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài của mình là:
"Bước đầu vận dụng một số quan điểm biện chứng của tư duy toán học
trong dạy học Toán ở trường THPT (thể hiện qua dạy học Hình học 10 THPT) "
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Nghiên cứu cơ sở lí luận về phép duy vật biện chứng, từ đó đưa ra một
số biện pháp để “Bước đầu vận dụng một số quan điểm biện chứng của tư duy
toán học trong dạy học” và vận dụng các biện pháp để phát triển tư duy cho
học sinh thông qua dạy học thể hiện qua dạy học Hình học 10 THPT nhằm
góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
3
3. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC.
Trong quá trình dạy học Toán, nếu chú ý “Vận dụng một số quan điểm
biện chứng của tư duy toán học ”, trên cơ sở tôn trọng nội dung chương trình
SGK Hình học 10 hiện hành, và nếu xây dựng được một hệ thống các biện
pháp sư phạm vận dụng các quy luật, các cặp phạm trù của phép duy vật biện
chứng thì:
- Có thể rèn luyện phép biện chứng của tư duy toán học cho HS.
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán ở trường THPT, rèn
luyện khả năng độc lập nghiên cứu, phát hiện và giải quyết vấn đề.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
Nhiệm vụ đặt ra cho luận văn là:
4.1. Làm rõ phương pháp luận duy vật biện chứng.
4.2.Các quy luật và các cặp phạm trù của phép duy vật biện chứng.
5
- Xác định được các biện pháp dạy học nhằm rèn luyện các tư duy cho học sinh.
.
6.2. Về mặt thực tiễn:
- Bước đầu xây dựng một số biện pháp vận dụng các quan điểm biện
chứng trong dạy học Toán cho học sinh thông qua dạy học Hình học 10.THPT.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên trường
THPT.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN.
Mở đầu
- Lý do chọn đề tài.
- Mục đích nghiên cứu.
- Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Giả thuyết khoa học.
- Phương pháp nghiên cứu.
- Đóng góp luận văn.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
1.1. Phương pháp luận duy vật biện chứng là gì?
1.2. Các quy luật cơ bản và các cặp phạm trù triết học.
1.3. Mối quan hệ giữa các quy luật, các cặp phạm trù.
1.4. Các cơ sở lý luận và thực tiễn để vận dụng một số quan điểm biện
chứng cho học sinh.
6
1.5. Thực trạng vận dụng một số quan điểm biện chứng của tư duy toán
học ở trường phổ thông hiện nay.
1.6. Kết luận chương 1.
Chương 2: Các biện pháp nhằm bước đầu vận dụng một số quan
điểm biện chứng của tư duy toán học cho học sinh qua dạy học Hình học
10 THPT.
2.1. Đặc điểm xây dựng chương trình Hình học 10 THPT hiện hành.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
1.1. Phương pháp luận duy vật biện chứng là gì?
“Thuật ngữ “phương pháp” được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là
Methodos, theo nghĩa thông thường là dùng để chỉ những cách thức, thủ pháp
nhất định được chủ thể hành động sử dụng để thực hiện mục đích đặt ra. Còn
theo định nghĩa một cách khoa học thì phương pháp là hệ thống những
nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh
hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định” [43,
tr.29]. Vậy “Phương pháp luận là lí luận về phương pháp, là khoa học về
phương pháp. Phương pháp luận giải quyết những vấn đề như: phương pháp
là gì? bản chất nội dung, hình thức của phương pháp như thế nào? Phân loại
phương pháp ra sao? Vai trò của phương pháp trong hoạt động nhận thức và
hoạt động thực tiễn của con người như thế nào? Do đó, có thể nói cách
khác cụ thể hơn, phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những
nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng
như việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng một cách hợp lí, có hiệu quả tối
đa”[43, tr 32]. Do vậy, phương pháp luận Toán học có nhiệm vụ nêu ra
những quan điểm, nguyên tắc chung chỉ đạo quá trình xác định và áp dụng
các phương pháp Toán cụ thể như phương pháp tiên đề, phương pháp giả
thiết –diễn dịch Do đó phương pháp luận triết học duy vật biện chứng là
phương pháp luận chung nhất. Nó khái quát những quan điểm, nguyên tắc
chung nhất làm xuất phát điểm cho việc xác định các phương pháp luận khoa
9
học chung, phương pháp luận bộ môn và các phương pháp hoạt động cụ thể
của nhận thức và thực tiễn trong mối quan hệ biện chứng khăng khít nhau.
Theo Ănghen thì phép biện chứng có hai loại là biện chứng khách quan và
biện chứng chủ quan, “biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn
bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan thì chỉ là sự phản ánh sự chi
phối, trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối
lập, tức là những mặt, thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự
động và lời nói, là hoạt động chỉ tiêu biểu cho xã hội loài người. Cho nên tư
duy của con người được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ nhất với lời nói,
và những kết quả của tư duy được ghi nhận trong ngôn ngữ. Tiêu biểu cho tư
duy là những quá trình như trừu tượng hoá, phân tích và tổng hợp, việc nêu lên
những vấn đề nhất định và tìm cách giải quyết chúng, việc đề xuất những giả
thiết, những ý niệm Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ
nào đó. Khả năng phản ánh thực tại một cách khái quát của tư duy được biểu
hiện ở khả năng của con người có thể xây dựng những khái niệm chung, gắn
liền với sự trình bày những quy luật tương ứng. Khả năng phản ánh thực tại
một cách gián tiếp của tư duy được biểu hiện ở khả năng suy lý, kết luận lôgíc,
chứng minh của con người. Khả năng này hết sức mở rộng khả năng nhận thức.
Xuất phát từ chỗ phân tích những sự kiện có thể tri giác được một cách trực
tiếp, cho phép nhận thức được những gì không thể tri giác được nhờ các giác
quan. Những khái niệm và những hệ thống khái niệm (những lí luận khoa học)
ghi lại (khái quát hoá) kinh nghiệm của loài người và là điểm xuất phát để tiếp
11
tục nhận thức thực tại. Tư duy con người được nghiên cứu trong những lĩnh
vực khoa học khác nhau và bằng những phương pháp khác nhau” [37, tr. 4].
Từ những điều đó, ta thấy rằng nhận thức cảm tính có vai trò quan trọng
trong đời sống tâm lí của con nguời, nó cung cấp vật liệu cho các hoạt động
tâm lí cao hơn. Tuy nhiên trong thực tế biến đổi thì cuộc sống xã hội luôn đặt
ra những vấn đề cấp bách và biến đổi khôn lường. Do đó con người không thể
giải quyết được nhiều vấn đề phức tạp đặt ra trong Toán học. Muốn giải quyết
các vấn đề như vậy con người cần phải có nhận thức cao hơn, đó là nhận thức
lí tính mà ta còn gọi đó là “tư duy”.
Tư duy được rất nhiều nhà tâm lí học nghiên cứu, một trong những
nghiên cứu đầy đủ nhất về tư duy đã được trình bày trong công trình của
X. L. Rubinstêin. Theo ông thì “Tư duy- đó là sự khôi phục trong ý nghĩ của
chủ thể với khách thể với mức độ đầy đủ hơn, toàn diện hơn so với các tư liệu
cảm tính xuất hiện do tác động của khách thể” [38, tr. 8].
người. Do đó, tư duy thuộc nấc thang nhận thức cao nhất, đó là nhận thức lý
tính. Vì vậy tư duy có những đặc điểm mới về chất so với cảm giác và tri
giác. Có thể thấy sự khác biệt đó qua những đặc điểm cơ bản sau:
Tư duy chỉ nảy sinh khi con người đứng trước những hoàn cảnh có
vấn đề: không phải bất cứ tác động nào của hoàn cảnh cũng đều gây ra tư
duy. Trên thực tế tư duy chỉ nảy sinh khi gặp những hoàn cảnh có vấn đề mà
bằng vốn hiểu biết cũ ta không thể giải quyết đựơc nó. Để nhận thức con
13
người phải vượt qua khỏi phạm vi những hiểu biết tri thức cũ và đi tìm cái
mới đạt mục đích mới. Những hoàn cảnh như thế gọi là hoàn cảnh có vấn đề.
Theo thuật ngữ lí thuyết tình huống thì đó là sự mất cân bằng. Hoàn cảnh có
vấn đề sẽ kích thích con người tư duy. Muốn vậy con người phải nhận thức
được, ý thức được hoàn cảnh có vấn đề, nhận thức được mâu thuẫn chứa đựng
trong vấn đề, chủ thể phải có nhu cầu, nhu cầu nhận thức và đương nhiên phải
có những tri thức cần thiết có liên quan vấn đề, chỉ trên cơ sở đó thì tư duy
mới nảy sinh và diễn biến. Một trong những người có công trình nghiên cứu
nhiều nhất về tư duy là X. L. Rubinstein. Ông đã nhấn mạnh rằng “tư duy
sáng tạo luôn được bắt đầu từ một hoàn cảnh có vấn đề”.
Tư duy có tính khái quát: khác với nhận thức cảm tính, tư duy có khả
năng đi sâu vào sự vật, hiện tượng nhằm vạch ra những thuộc tính chung
những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật giữa chúng. Vì thế tư duy có tính
khái quát.
V. I. Lênin đã vạch rõ “cảm giác vạch ra cái hiện thực, tư duy và từ vạch ra
cái chung”(Bút kí triết học).
Nhờ phản ánh khái quát, các quy luật mà tư duy giúp con người không chỉ
nhận thức thế giới mà còn có khả năng cải tạo thế giới.
Tư duy có tính gián tiếp: ở mức độ nhận thức cảm tính, con người phản
ánh trực tiếp sự vật, hiện tượng bằng giác quan của mình trên cơ sở đó cho ta
hình ảnh cảm tính về sự vật và hiện tượng đến tư duy, con người không nhận
thức thế giới một cách trực tiếp mà có khả năng nhận thức thế giới một cách
15
trình tư duy luôn là một hoạt động của trí tụê và diễn ra bằng cách chủ thể tiến
hành qua những thao tác nhất định và các thao tác đó tham gia vào một quá
trình cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh,
Như vậy, qua vấn đề nêu trên ta nhận thấy tư duy có tác dụng hết sức to
lớn trong đời sống xã hội của con người. Chúng ta dựa vào tư duy để hiểu,
nhận thức các quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội và lợi dụng nó để
phát triển xã hội. Nói như thế có nghĩa là nhờ có tư duy mà xã hội loài người
phát triển ngày một cao. Có những hiện tượng trước đây con người không thể
giải thích được khi tư duy chưa phát triển, cho đến bây giờ tư duy càng phát
triển sự giải thích ấy càng ngày, càng được sáng tỏ.
Nhà Toán học Liên xô cũ K. K. Plantônôv đã nêu lên các giai đoạn của
tư duy bằng sơ đồ sau đây.
16
Nhận thức vấn đề
Xuất hiện các liên tưởng
Sàng lọc liên tưởng và hình thành giả thuyết
Kiểm tra giả thuyết
Khẳng định
Chính xác hóa Phủ định
Giải quyết vấn đề
Hoạt động tư duy mới
(dẫn theo [38,tr.10])
1.1.3. Sự phân loại tư duy
Có nhiều cách phân loại tư duy.
Theo Phạm Minh Hạc, Sácđacôp M. N có 3 loại tư duy sau đây:
a/ Tư duy trực quan hành động: đó là loại tư duy bằng các thao tác cụ thể tay
chân hướng vào việc giải quyết một vấn đề cụ thể, trực quan.
b/Tư duy trực quan hình tượng: là loại tư duy phát triển ở múc độ cao hơn, ra
đời muộn hơn so với tư duy trực quan hành động, chỉ có ở người, đó là loại tư
lý tính là phản ánh gián tiếp, mang tính trừu tượng khái quát. Nhận
thức cảm tính đem lại những hình ảnh bề ngoài, chưa thật sâu sắc về
sự vật, còn nhận thức lý tính phản ánh được mối quan hệ bên trong,
bản chất, phổ biến, tất yếu của sự vật. Do đó nhận thức lý tính phản
ánh sự vật sâu sắc hơn đầy đủ hơn.
Tuy nhiên, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính lại thống nhất
biện chứng với nhau, liên hệ, tác động lẫn nhau, bổ sung, hỗ trợ cho
nhau, không tách rời nhau. Chúng đều cùng phản ánh thế giới vật chất,
có cùng một cơ sở sinh lý duy nhất là hệ thần kinh của con người và
đều cùng chịu sự chi phối của thực tiễn lịch sử - xã hội. Nhận thức cảm
tính là cơ sở của nhận thức lý tính, không có nhận thức cảm tính thì
không có nhận thức lý tính. Trái lại, nhận thức cảm tính mà không có
nhận thức lý tính thì không thể nắm bắt được bản chất và quy luật của
sự vật, hiện tượng. Trên thực tế, chúng thường diễn ra đan xen vào
18
nhau trong mỗi quá trình nhận thức.
Phép biện chứng khách quan của thế
giới xung quanh ta được phản ánh vào phép biện chứng chủ quan đây là vấn
đề có tính chất nền tảng.
1.1.4. Tư duy toán học
Cụm từ “tư duy toán học” đã được sử dụng một cách rất phổ biến,
trong dạy học, trong đánh giá kết quả học tập Tuy nhiên nhiều giáo viên
chưa hiểu tường minh khái niệm về tư duy toán học mặc dầu đã ngầm quan
tâm nhiều khía cạnh của nó trong dạy học Toán. Dường như mọi người cũng
chỉ dựa khả năng toán học, sức học toán để rồi đánh giá về tư duy toán học.
Đành rằng một học sinh yếu về Toán thì không thể là tốt về tư duy toán học
nhưng một học sinh có kĩ năng giải Toán tốt chưa hẳn đã là có tư duy toán
học tốt. “Tư duy toán học không chỉ là thành phần quan trọng trong quá trình
hoạt động toán học của học sinh, nó còn là thành phần mà, nếu thiếu sự phát
triển một cách có phương hướng thì không thể đạt được hiệu quả trong việc
cho con người trong một tương lai không xa. Để giáo dục được con người lao
động sáng tạo có năng lực trí tuệ cao cần phải vận dụng những phương pháp
dạy học tích cực nhằm phát triển những năng lực tư duy một cách biện chứng,
năng lực xem xét các đối tượng và hiện tượng trong mối quan hệ qua lại,
trong quá trình vận động biến đổi, mâu thuẫn và phát triển của chúng.” [1, tr
65].
20
Tuy không đưa ra định nghĩa rõ ràng nhưng một số tác giả cũng đã có
một sự thống nhất nào đó về một số thành phần của tư duy biện chứng; Để
đưa ra một khái niệm về tư duy biện chứng thật cụ thể và được mọi người
thừa nhận là điều hết sức khó khăn. Do vậy, nên tập trung vào những thành tố
mà người ta đã tương đối thống nhất. Mặt khác dành sự quan tâm cho những
thành tố có dịp thể hiện nhiều trong Toán học. Nói một cách khác có thể
không nêu hết được mọi thành tố nhưng cố gắng xem xét những thành tố phổ
biến và việc bồi dưỡng những thành tố đó cũng chính là góp phần bồi dưỡng
Tư duy biện chứng; Việc nghiên cứu một loại hình tư duy chỉ thực sự có ý
nghĩa nếu như nó có những ứng dụng trong giảng dạy Toán, chứ không phải
là chỉ đưa ra một cách hình thức; Hai chữ “biện chứng” đã nói lên được rằng
Tư duy biện chứng có tên gọi xuất phát từ duy vật biện chứng. Nói cách khác
những nguyên lí, quy luật và phạm trù của duy vật biện chứng đều có liên
quan đến tư duy biện chứng. Từ đó ta có thể hiểu tư duy biện chứng như sau:
- Theo cách hiểu thứ nhất, Tư duy biện chứng là phương thức tư duy thể
hiện ý thức và khả năng vận dụng các nguyên lí, các quy luật, các cặp phạm
trù của phép biện chứng duy vật vào quá trình xem xét và giải quyết các vấn
đề Toán học.
- Theo cách hiểu thứ hai, tư duy biện chứng là những hoạt động trí tuệ
nhằm vận dụng các nguyên lí, các quy luật, các cặp phạm trù của phép biện
chứng vào việc nghiên cứu giải quyết các vấn đề Toán học.
- Theo cách hiểu thứ ba, Tư duy biện chứng được đặc trưng bởi sự thâu
tóm tính thay đổi, tính hai chiều, tính mâu thuẫn, tính thống nhất; Bởi mối
một quá trình biện chứng. Nó giúp ta hiểu được một cách đúng đắn và sâu sắc
qua việc nhận thức kiến thức toán học. Tư duy toán học không chỉ là thành
phần quan trọng trong quá trình hoạt động toán học của học sinh, nó còn là
thành phần mà thiếu nó thì không thể đạt được hiệu quả trong việc truyền thụ
kiến thức toán học cho học sinh.
1.1.6. Một số quan điểm biện chứng của tư duy toán học.
Theo tác giả Nguyễn Bá Kim, Triết học duy vật biện chứng thể hiện
các quy luật chung nhất của sự phát triển tự nhiên, xã hội và tư duy của con
người. Nó là cơ sở phương pháp luận của mọi khoa học. Và cũng theo Ông,
thì nó giúp ta hiểu được đối tượng và phương pháp của khoa học toán học
một cách đúng đắn và sâu sắc giúp hình thành thế quan duy vật biện chứng
của thế hệ trẻ. Nó cung cấp cho ta phương pháp nghiên cứu đúng đắn: xem
xét những hiện tượng giáo dục trong quá trình phát triển và trong mối liên hệ
phụ thuộc lẫn nhau, trong sự mâu thuẫn và thống nhất, phát hiện những sự
biến đổi số lượng dẫn tới những biến đổi về chất lượng
Từ đó cho ta thấy phương pháp luận duy vật biện chứng đóng vai trò
hết sức quan trọng trong Toán học. Để đi đến cái mới trong Toán học phải
kết hợp được tư duy lôgic và tư duy biện chứng, cả tư duy hình tượng cũng
như tư duy khác và nhiều phẩm chất khác của con người.
Ta thấy rằng tư duy là một vấn đề không thể không nhắc tới khi nói
đến Toán học. Vậy thì từ tư duy ở đây có vai trò chủ đạo như thế nào? Chính
vì vậy mà V . I . Lênin nói: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và
từ đó trở về thực tiễn - đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí,
nhận thức hiện thực khách quan ” đã được đặc biệt trích dẫn trong nhiều công
23
trình nghiên cứu về tâm lí học sư phạm và lí luận dạy học. Còn theo các tác
giả Phạm Văn Hoàn, Nguyễn Gia Cốc, Trần Thúc Trình thì đối tượng và sự
kiện Toán học với tư cách là tư duy có tính hiện thực sâu vừa có tính trừu
tượng cao. Hai mặt “hiện thực” và “trừu tượng” của chúng đối lập nhau
nhưng lại tồn tại trong mối quan hệ biện chứng lẫn nhau phụ thuộc và tồn tại
xem thế giới như là một chỉnh thể thống nhất các sự vật, các hiện tượng, và
các quy luật cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau vừa có mối quan hệ qua
lại thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau.
1.Từ việc nghiên cứu nguyên lí về mối liên hệ phổ biến của các sự vật
và hiện tượng chúng ta cần rút ra quan điểm toàn diện trong việc nhận thức
cũng như trong hoạt động thực tiễn. Với tư cách là một nguyên tắc, phương
pháp luận trong sự nhận thức các sự vật và hiện tượng quan điểm toàn diện
đòi hỏi chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận,
các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó, mặt khác là trong
mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác.
Lênin viết: “muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và
nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của các
sự vật đó”.
Tuy nhiên trong khi nêu yêu cầu để nhận thức được sự vật cần phải nghiên
cứu tất cả các mối liên hệ thì V. I. Lênin cũng chỉ ra rằng: “chúng ta không thể
25