Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
QUÁCH THỊ THANH THUỶ ĐẶC SẮC THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CHUYÊN NGHÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Văn Sỹ
Thái Nguyên - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo - PGS.TS. Vũ Văn Sỹ,
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành
cuốn luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ, động viên
và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 9
Chƣơng 1. MỘT CẢM HỨNG THI CA GIÀU CHẤT SỬ THI CỦA
TUỔI TRẺ KHÁT VỌNG VÀ HÀNH ĐỘNG 9
1.1. Quan niệm nghệ thuật thi ca của Nguyễn Khoa Điềm 9
1.2. Cảm hứng của tuổi trẻ trên Mặt đường khát vọng 14
1.2.1. Cảm hứng chung của thơ tuổi trẻ miền Nam chống Mỹ 14
1.2.2. Cảm hứng nhận đường và xuống đường của tuổi trẻ miền Nam
trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 16
1.3. Cảm hứng công dân về Đất nước và Nhân dân 24
1.3.1.Tư tưởng Đất nước của Nhân dân 24
1.3.2. Hình ảnh Con đường và Ngọn lửa 31
Chƣơng 2. MỘT HỒN THƠ THẤM ĐƢỢM TRẦM TÍCH HUẾ 38
2.1. Nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm từ góc độ văn hoá và văn
hoá Huế 38
2.2.Thiên nhiên, cuộc sống và con người xứ Huế trong thơ Nguyễn
Khoa Điềm. 48
2.2.1.Thiên nhiên miền sông Hương núi Ngự 49
2.2.2. Cuộc sống, con người xứ Huế 55
2.3. Những tâm sự, những trải nghiệm thế sự và nhân tình mang màu
sắc truyền thống và văn hóa Huế. 60
kháng chiến và được đào tạo, trưởng thành, khẳng định trong cuộc chiến tranh
chống Mỹ. Đây là lớp nhà thơ làm nên sức sống mới cho giai đoạn văn học
này với nhiều tài năng và phong cách sáng tạo: Phạm Tiến Duật, Bằng Việt,
Xuân Quỳnh, Dương Hương Ly, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận
Cầm, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa Điềm….
1.2. Trong số các nhà thơ trẻ của nền thơ chống Mỹ, Nguyễn Khoa
Điềm là gương mặt tiêu biểu. Ông không những là một nhà thơ chiến sỹ, mà
còn là nhà hoạt động xã hội – văn hóa tích cực, từng đảm nhiệm nhiều chức
vụ quan trọng của Nhà nước.
Sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Khoa Điềm được đánh giá và đánh dấu
bằng 3 tập thơ đặc sắc: Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (trường ca,
1974) và Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986) được Giải thưởng Nhà nước về
Văn học – Nghệ thuật. Tập thơ Cõi Lặng (2007) gần đây là những lời tự bạch
và chiêm nghiệm về nhân sinh, nhân thế giầu triết lý trữ tình trong sự nghiệp
văn chương của ông .
1.3. Sáng tạo văn học của Nguyễn Khoa Điềm không chỉ đơn thuần
mang mục đích văn chương mà còn là một khát vọng hành động mang tính
công dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Nghiên cứu chân dung sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm, ta có nhận ra
những đặc điểm phong cách trong từng thời kỳ sáng tác, những ấn tượng thẩm
mĩ đặc sắc vừa ổn định, vừa biến đổi nhưng cũng nhất quán trong tư duy nghệ
thuật của thơ ông.
2. Lịch sử vấn đề.
Trong phần này, chúng tôi tập hợp những bài viết, những công trình
nghiên cứu, đánh giá về thơ Nguyễn Khoa Điềm trên hai mặt nội dung và
hình thức.
vặt lo âu, đau thương mất mát không có… Có lẽ đã đến lúc phải thay đổi cách
nhìn về chiến tranh, về văn học chiến tranh”.
- Vũ Tuấn Anh trong Mặt đường khát vọng đến Ngôi nhà có ngọn lửa
ấm đã chỉ ra tiến trình vận động thơ Nguyễn Khoa Điềm từ thời chiến sang
thời bình và kết luận: Ngôi nhà có ngọn lửa ấm vừa nối tiếp vừa chuyển đổi
cảm xúc nên giọng thơ “ điềm đạm và sâu lắng, tách các lớp vỏ của sự vật để
tìm cái cốt lõi bên trong khơi gợi từ đấy những triết lý đạo đức và nhân sinh”.
Và thực sự, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm đã đạt tới những cảm xúc dồn nén
trong vùng sâu thẳm của tâm hồn và giàu tính thuyết phục hơn khi chắt lọc
chất thơ từ những điều rất đỗi đời thường đơn sơ bình dị.
- Võ Văn Trực trong bài Gương mặt quê hương, gương mặt nhà thơ
(1988) thì chú tâm đi tìm và phân tích chất văn hoá Huế trong thơ Nguyễn
Khoa Điềm và khẳng định chính chất Huế làm nên phong cách và bản lĩnh thơ
Nguyễn Khoa Điềm. Theo Võ Văn Trực, “ Hầu hết đề tài trong thơ anh đều
được rút ra từ mảnh đất Huế, ngoại ô Huế và của chiến trường Bình Trị
Thiên” và “ Lịch sử Huế, nền văn hoá Huế, hơi thở hàng ngày của cuộc sống
cố đô thấm vào máu thịt và cảm xúc về Huế chan chứa trong thơ anh”. Thơ
Nguyễn Khoa Điềm không “ ngổn ngang” tên đất tên người xứ Huế, không “
bề bộn” phong tục tập quán Huế nhưng “ tâm hồn Huế vẫn dịu dàng ở phía
sau mỗi dòng thơ”.
Đối tượng thẩm mĩ trung tâm của thơ Nguyễn Khoa Điềm trước năm
1975 là hiện thực cuộc sống chiến đấu của nhân dân của đất nước. Sau năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
1975, đặc biệt sau năm 1987, Nguyễn khoa Điềm trở về Ngôi nhà có ngọn
lửa ấm với những vui buồn của cuộc sống đời thường.
- Vũ Quần Phương trong Ngôi nhà có ngọn lửa ấm - Nguyễn Khoa
Điềm đã bộc lộ thái độ trân trọng trước quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm “
trong thơ Nguyễn Khoa Điềm (về đất nước, con người trong và sau chiến
tranh) đã tập trung phân tích những hình ảnh thơ, ngôn ngữ thơ và màu sắc văn
hoá dân gian trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.
- Nguyễn Văn Long trong bài viết Nguyễn Khoa Điềm với Mặt đường
khát vọng (1974) đã nhấn mạnh đến lối thơ thời sự, chính luận và cách trữ
tình khác biệt của Nguyễn Khoa Điềm. Về nhược điểm: “ Cũng dễ thấy là đọc
thơ ông, có ấn tượng hơi căng thẳng, có khi nặng nề nữa”. Cuối cùng, tác giả
khẳng định: “ Nguyễn Khoa Điềm có những đóng góp nhất định và đáng kể
vào bước phát triển của thơ ca cách mạng miền nam”.
- Trong Nguyễn khoa Điềm, nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng (1976),
Tôn Phương Lan đề cập đến sự thể nghiệm mới và thành công của Nguyễn
Khoa Điềm từ thơ chuyển sang sáng tác trường ca: Trường ca Mặt đường khát
vọng “ là một thể nghiệm mới trong vấn đề tìm tòi phương pháp thể hiện và là
một thành công mới của anh”. Về cấu trúc trường ca này, Tôn Phương Lan
nhận xét khá xác đáng: “ không coi việc kể chuyện là chính. Lấy suy nghĩ, cảm
xúc làm chỗ dựa cho kết cấu để rồi từ đó triển khai cả bề rộng lẫn bề sâu”.
- Trần Đăng Xuyền trong cuốn Giảng văn văn học Việt nam (1998)
chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá chương Đất Nước: “ Thông qua
những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận,
Nguyễn Khoa Điềm muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm gắn
bó với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ trong những năm chống Mỹ”.
- Trong cuốn Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt nam giai đoạn 1945-
1995 (1999), Vũ Văn Sỹ sau khi giới thiệu kết cấu toàn bộ chín chương của
trường ca đã nhận xét: “ Trường ca viết về phong trào đấu tranh của học sinh,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
sinh viên Huế, nhưng tác giả không dừng lại khai thác những sự kiện ở Huế,
mà còn mở rộng liên tưởng trên nhiều bình diện, nhiều khía cạnh của vấn đề:
7
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Phƣơng pháp phân tích tác giả và tác phẩm
Trong luận văn, chúng tôi cố gắng bám sát tìm hiểu mối quan hệ giữa
tiểu sử tác giả (tức là những hoạt động xã hội thực tiễn) với tác phẩm thi ca.
Về mặt tác phẩm, chúng tôi dành nhiều cho sự cảm nhận chủ quan của mình,
với tư cách là người đọc đã được đào tạo Ngữ văn.
3.2. Phƣơng pháp liên nghành giữa văn học và văn hóa.
Luận văn cũng đi sâu nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm từ góc độ
văn hóa. Nhấn mạnh sự ảnh hưởng của văn hóa vùng miền được hội tụ ở đất
Huế thẩm thấu vào thơ ông.
3.3. Ngoài ra, chúng tôi có vận dụng các lý thuyết và các phƣơng pháp bổ
trợ nhƣ xã hội học, thi pháp học; các phƣơng pháp, thao tác khác nhƣ
phân tích – tổng hợp và so sánh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những ấn tƣợng thẩm mĩ đặc
sắc về thơ Nguyễn Khoa Điềm.
4.2. Về phạm vi nghiên cứu là 4 tập thơ chính.
- Đất ngoại ô (1972)
- Mặt đường khát vọng (Trường ca, 1974)
- Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986)
- Cõi lặng (2007)
Ngoài ra là các tài liệu bổ trợ về thân thế sự nghiệp, tác giả và tác phẩm
của Nguyễn Khoa Điềm.
5. Mục đích và ý nghĩa của luận văn
Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ thời
chống Mỹ. Mục đích của luận văn là phát hiện những đặc trưng thẩm mĩ đặc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Điềm để lại ấn tượng đặc biệt, đặc sắc và khó lẫn. Đây chính là luận đề mà
luận văn nghiên cứu trong chương này.
1.1. Quan niệm nghệ thuật thi ca của Nguyễn Khoa Điềm
Nguyễn Khoa Điềm xuất thân trong một gia đình trí thức cách mạng.
Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, cùng một lứa với Phạm
Tiến Duật, Lê Anh Xuân(Ca Lê Hiến), sau đó Nguyễn Khoa Điềm được trở về
quê hương hoạt động ở chiến trường Thừa Thiên- Huế. Trong một trận càn,
ông bị địch bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ suốt mấy tháng ròng. Mãi đến chiến
dịch Mậu thân (1968), ông mới được giải thoát, tiếp tục trở lại hoạt động.
Chính thời điểm này, Nguyễn Khoa Điềm bắt đầu làm thơ. Trong buổi giao lưu
với công chúng yêu thơ ở Huế, Nguyễn Khoa Điềm nói một cách thành thật là
ông hoàn toàn không có năng khiếu về thơ. Nguyễn Khoa Điềm làm được thơ
là nhờ học hỏi, tìm tòi, khổ luyện. đặc biệt là được sống trong không khí cách
mạng sôi sục của đồng bào miền Nam và tinh thần chiến đấu chống Mỹ của
nhân dân cả nước. Được đào tạo ở miền Bắc, lại sớm tiếp thu một cách có chọn
lọc văn học đô thị miền Nam thông qua các bạn văn như Hoàng Phủ Ngọc
Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Vàng Sao Điều đó góp phần hình thành
phong cách thơ ông ngay trong những sáng tác đầu tay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Nguyễn Khoa điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một
phong cách riêng. Thơ ông nhanh chóng được dư luận chú ý và khẳng định: “
Đó là một thứ thơ trữ tình thấm đẫm chất men say khát vọng và hành động.
Một thứ thơ giầu chất sử thi của một thời”.[35]. Gần đây, trong cuốn Nhà văn
Việt Nam thế kỉ XX, Nguyễn Khoa Điềm đã “tự bạch”: Theo nhà thơ, những
yếu tố làm nên bản chất văn chương là lời, hành động và tấm lòng. Lời không
chỉ là câu thơ, lời văn mà bao hàm cả cách thể hiện, cách viết- tức là hình
thức văn chương; Hành động, đó là ý tưởng văn chương thúc giục người ta
này sẽ trở thành thông điệp của một thời cho mai sau:
“ Ngày 19- 9- 1970.
- Nhân dịp có người ra tôi xin gửi ra Tiểu ban văn nghệ một số bài viết
mới trong tháng 8- 1970
Tôi rất mừng được thư của các đồng chí đóng góp về công việc của
mình. Hiện thực chiến trường thì to lớn, khả năng thì có hạn lại đang mày mò
một mình, thành ra cũng rất lo lắng và sốt ruột cho mình
- Ngay trong số thơ có đây, tôi cũng thấy có một lỗ hổng. Mặt chiến
đấu, mặt hi sinh chiến trường, đồng bằng, thành phố vẫn chưa đề cập đầy đủ.
Mơ ước có những bài thơ sôi sục, sắc bén giầu tính hiện thực và chiến đấu hơn
nữa vẫn chưa làm được. Tôi cố lo nghĩ nhiều mặt này trong thời gian tới
Ngày 20- 3- 1971
- Sức khoẻ của tôi không thể nói là tốt, nhưng rõ ràng nó không ngăn
cản tôi thiết tha sống và làm việc cho chiến trường
Ngày 29- 7- 1973
- Số bài tôi gửi ra tháng 6 có những bài chẳng hạn: Năm con ba mươi
tuổi, Kính chào Tổ quốc các anh đã nhận được chưa? Vì sơ xuất, trong bài
Năm con ba mươi tuổi tôi có đưa một câu không chính xác xin các anh chị
sửa cho không kỳ lắm. Câu thơ ấy là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
- Tôi muốn viết những bài thơ thật khoẻ, thật gân guốc có nhiều hơi thở
của chiến đấu hiện tại. Nhưng ước mơ đó đang đặt ra trong tình hình phải
lựa chọn, tìm tòi một cách thích hợp với mình, hơn nữa tình hình đang phải
chiến đấu rèn luyện thật tốt để có một cái nền tư tưởng và cảm xúc. Cho nên
chỉ thực hiện ở mức độ ít ỏi, khó đáp ứng được mong đợi của người đọc
Ngày 20- 3- 1971
- Kính gửi các chú trong Ban đồng hương Huế.
sắc trong tập Đất ngoại ô: Con gà đất, cây kèn và khẩu súng, Chiếc công sự
giữa lòng phố, Đêm không ngủ và đặc biệt là thành công của trường ca
Mặt đường khát vọng.
Năm 1970, Nguyễn Khoa Điềm được điều về hoạt động ở vùng giáp
ranh. Trong hoàn cành ấy, việc sáng tác thật khó khăn nhưng ông vẫn không
nản lòng. Khát vọng sáng tạo nung nấu trong lòng và nhà thơ vừa làm công
việc cơ quan vừa tranh thủ sáng tác. Nhà văn Trần Phương Trà đã nghi lại
hình ảnh Nguyễn Khoa Điềm trong những ngày tháng vất vả ấy: “ Nguyễn
Khoa Điềm ít nói, lặng lẽ làm việc. Nhưng bên trong cái dáng dong dỏng, gầy
xanh ấy là sự suy nghĩ nung nấu, kiếm lời giải đáp cho những vấn đề mà
Điềm đang băn khoăn tìm tòi. Nhiều lần vừa gùi gạo lên dốc cao, Điềm vừa
lẩm nhẩm làm thơ. Một lần về đến nhà, chỉ kịp đặt gùi gạo xuống, vớ chiếc
khăn mặt lau mồ hôi, Điềm ngồi vào bàn ghi ngay bài thơ Khúc hát ru những
em bé lớn trên lưng mẹ ” . Say mê, kiên trì và nhẫn nại trong công việc sáng
tác, năm 1972 tập thơ đầu tay Đất ngoại ô của Nguyễn Khoa Điềm được xuất
bản đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Với Đất ngoại ô,
Nguyễn Khoa Điềm đã góp một tiếng nói mới mẻ có âm sắc, có phong cách
vào dàn đồng ca của thơ ca chống Mỹ. Tập thơ gồm 31 bài, tái hiện sinh động
hiện thực đời sống chiến trường và thế giới nội tâm giàu rung động tinh tế,
giàu xúc cảm của một nhà thơ- chiến sĩ. Chủ đề của tập thơ phong phú: tình
cảm quê hương đất nước, tình mẹ, tình bạn bè, tình yêu Và bao trùm lên tất
cả là sự sôi động, náo nức của một tâm hồn thơ trẻ nồng cháy lý tưởng. Giọng
thơ thiết tha, sâu lắng mỗi khi viết về mẹ, về quê hương; nhưng khi đề cập
đến những vấn đề của dân tộc, thời đại thì giọng thơ lại giầu tính triết lí và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
chính luận, khiến cho những câu thơ của ông có dáng dấp tráng ca- những câu
thơ báo hiệu cho sự hào sảng, phóng khoáng của trường ca Mặt đường khát
15
tập thơ riêng khá dày dặn, có những trường ca được dư luận chú ý. Bên nền lí
tưởng và ý thức trách nhiệm chung của thơ ca, ta có thể gặp trong thơ trẻ đây
đó chất trữ tình nhuần nhuyễn của Tố Hữu, chất trí tuệ tài hoa của Chế Lan
Viên, sức cảm thụ phong phú, dồi dào của Xuân Diệu, tiếng nói thông minh
của Nguyễn Đình Thi Nhưng dưới ảnh hưởng của những phong cách tiêu
biểu ấy, lớp trẻ đang cố gắng đi đến những sáng tạo mới trong thơ. Thực tế,
họ đã mang đến cho thơ chống Mỹ tiếng nói đặc sắc của riêng lứa tuổi trẻ mà
những thế hệ nhà thơ trước không thể nói thay được.
Đóng góp chung của đội ngũ trẻ trên hậu phương lớn những năm đánh
Mỹ đã được khẳng định khá nhiều. Mặt khác, với một nền thơ chiến đấu, gần
như những gì tinh tuý đều có mặt và được tập trung trong đề tài chiến đấu. Và
như vậy, lực lượng nhà thơ quân đội có thể xem là lực lượng xung kích của
đội ngũ thơ. Vì thế, nói đến đóng góp của lớp trẻ trong thơ chống Mỹ, không
thể không nói đến những nhà thơ trẻ trong quân đội. Trong tiểu mục này,
chúng tôi muốn dành nói nhiều hơn về những đóng góp quan trọng của những
nhà thơ cách mạng miền Nam, đặc biệt là những cây bút học sinh, sinh viên
như Trần Quang Long, Nguyễn Thái Bình, Thái Ngọc San, Trần Vàng Sao,
Đông Trình, Tần Hoài Dạ Vũ, Võ Quê Hàng loạt các tập thơ ra đời nói lên
tinh thần yêu nước và đấu tranh của thế hệ trẻ miền Nam. Thơ họ trẻ trung,
đằm thắm, vượt lên những chán chường bế tắc và những vay mượn siêu hình
đương thời để cất lên tiếng gọi lên đường.
Nếu thơ con bất lực
Con xin nguyện trọn đời
Dùng trái tim mình làm trái phá
Sống chết một lần thôi.
(Trần Quang Long)
Trong lửa đạn chiến tranh, những vần thơ ấy có sức cảm hoá lạ lùng, đã
kết nối tuổi trẻ đấu tranh bởi sức lay động sâu xa của nó. Võ Quê trong những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
các chiến trường, các quân khu, trung đoàn cho đến các nông trường, xí
nghiệp đâu đâu cũng có tiếng thơ của các nhà thơ trẻ đang khao khát bộc lộ,
khẳng định mình. Thơ không còn là sản phẩm tinh thần của một số ít trí thức
tiểu tư sản như thời trước cách mạng. Từ kháng chiến chống Pháp, xu hướng
này đã xuất hiện, nhưng phải đến kháng chiến chống Mỹ mới thực sự trở
thành một phong trào rộng khắp trong toàn quân, toàn đân. Tiêu biểu nhất
trong số đó phải kể đến những chàng trai, cô gái vừa rời ghế nhà trường. Lớn
lên và trưởng thành từ chiếc nôi của chế độ mới, họ ít chịu ảnh hưởng của
những tư tưởng cũ và cũng không phải trải qua những giai đoạn khó khăn
phải tìm đường, nhận đường như các nhà thơ lớp trước. Tiếng thơ của họ
được kế thừa những tinh hoa của thế hệ đi trước, nhưng chủ yếu được cất lên
từ chính cuộc đời đang lăn lộn với khói bom, đất cát của họ, bởi vậy nó rất
sinh động và tươi mới. Từ những mái trường nơi đồng quê, thành phố họ
tham gia vào hầu hết các lĩnh vực nơi hậu phương lớn. Họ ra chiến trường,
hành trang mang theo là tình yêu Tổ quốc, quê hương và lòng căm thù giặc.
Họ đã góp vào thơ kháng chiến những giọng điệu mới, những phong cách mới
từ cách cảm nhận, cách quan niệm về cuộc sống, về hạnh phúc và chiến tranh
đa chiều và đa dạng.
Giữa chiến trường rộng lớn, mỗi nhà thơ chọn cho mình một mảng hiện
thực phù hợp để sáng tác, tạo ra những vùng thẩm mĩ riêng. Nếu như vùng
thẩm mĩ của Phạm Tiến Duật là đường Trường Sơn với cuộc sống của những
người lính lái xe, những cô thanh niên xung phong; thì vùng thẩm mĩ của
Nguyễn Khoa Điềm là phong trào học sinh, sinh viên đô thị bị tạm chiếm
miền Nam. Chọn cho mình một mảng hiện thực đặc biệt, nên tiếng thơ
Nguyễn Khoa Điềm có giọng điệu riêng. Đó là tiếng nói đại diện cho tuổi trẻ
miền Nam trong quá trình nhận đường về với nhân dân, với Tổ quốc.
cầm cành ô liu và củ cà rốt, mồm không ngớt kêu gọi hoà bình. Tuổi trẻ thành
thị miền Nam phải sống trong cái xã hội phồn hoa giả tạo ấy. Nguyễn Khoa
Điềm muốn thức tỉnh họ, và nhà thơ hoà nhập với tuổi trẻ miền Nam để cất lên
tiếng nói của chính họ. Nhà thơ cùng họ thấm thía xót xa về thân phận nô lệ:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Phượng vẫn rơi những cánh tươi hồng
Đau như máu những tâm hồn son trẻ
Sao con học để làm bầy nô lệ
Súng Mỹ hôm nay thành giáo cụ học đường.
Sống trong thành phố bị giặc chiếm đóng, tuổi trẻ phải hứng chịu bao
bất trắc tai hoạ ngày đêm rình dập, bủa vây. Bọn Mỹ - Nguỵ dùng mọi thủ
đoạn tàn bạo để bắt lính, để lùa những chàng trai sức vóc căng tràn ra trận làm
bia đỡ đạn: “ Xe bắt lính ngoài đường – Rào kẽm gai ngoài đường – Xe Mỹ
chẹt người ngoài đường”. Nỗi băn khoăn về “ Tổ quốc chỉ còn nửa nước” và
kiếp đời “ học để làm bầy nô lệ” trở thành nỗi niềm day dứt khôn nguôi trong
tâm hồn họ. Nguyễn Khoa Điềm đã nhập thân vào lớp người này để thấm thía
tận cùng nỗi tuyệt vọng, bất lực của tuổi trẻ trong hiện trạng đau thương ấy: “
Hai lăm năm qua chưa một thời trai trẻ?”. Phải chứng kiến cảnh lam lũ của
mẹ cha bị bóc lột đến sức tàn lực kiệt, „cảnh em đi trường cho Mỹ vuốt má”
Tuổi trẻ uất ức, căm hận nhưng đành bất lực bởi “ ra đường bị bắt lính ngay”.
Trong hoàn cảnh ấy, số đông đã chọn đúng đường, số không ít vẫn “ Bâng
khuâng đứng giữa hai dòng nước” như Tố Hữu đã nói. Một số đã lầm đường
lạc lối cầm súng chống lại nhân dân. Và lại không ít một số người chống lại
trật tự xã hội, chống chiến tranh dưới một hình thức tiêu cực: huỷ hoại cơ thể
mình để trốn lính, phải sống chui lủi ở những nơi tăm tối, phải “ đeo gương
cho cận thị suốt đời”, nhịn đói, thức đêm, “ ăn tỏi cho tim rung”, hút thuốc
nhiều cho phổi nám, phải ngốn đi- a- moc, uống nhị thiên đường Tuổi trẻ