HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong nền kinh tế thị trường đầy biến động và mang tính cạnh tranh
như hiện nay, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn phát triển và đứng vững
trên thị trường đòi hỏi cần phải có một đội ngũ nhân viên có trình độ, kỹ
thuật, tay nghề cao cùng với một cơ sở vật chất hạ tầng hiện đại. Một doanh
nghiệp nếu chỉ có con người với kỹ thuật công nghệ thôi thì vẫn chưa đủ để
choquá trình sản xuất kinh doanh diễn ra mà cần phải có vốn kinh doanh.
Vì vậy, vốn có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, là yếu tố
không thể thiếu của mọi quá trình kinh doanh. Vốn càng lớn thì quy mô
doanh nghiệp càng lớn, đảm bảo khả năng tài chính vững chắc, tạo điều kiện
hiện đại hoá công nghệ, nâng cao trình độ của người lao động. Quản lý và sử
dụng vốn trong doanh nghiệp vấn đề đặt ra không chỉ là vốn phải được bảo
toàn và phát triển mà còn phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tức là thể hiện
ở số lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được trong kỳ và mức sinh lời của một
đồng vốn kinh doanh.
Hơn thế nữa, một doanh nghiệp biết sử dụng nguồn vốn của mình một
cách hiệu quả nhất sẽ tồn tại, phát triển và đứng vững được trên toàn thị
trường. Những phần lợi nhuận từ việc sử dụng hiệu quả của nguồn vốn đem
lại sẽ được đầu tư, tiến hành để tái sản xuất mở rộng quy mô, đưa doanh
nghiệp ngày càng phát triển lớn mạnh hơn.
Phân tích hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn là việc đánh giá mức sinh lời
của đông vốn kinh doanh từ nhiều góc độ khác nhau, giữa hiện tại và quá khứ,
giữa doanh nghiệp với các đơn vị cùng ngành. Mục tiêu của phân tíc hiệu quả
sử dụng vốn là giúp doanh nghiệp thấy rõ trình độ quản lý và sử dụng vốn của
mình, đánh giá doanh nghiệ một cách chính xác, từ đó tìm ra những giải pháp
cơ bản thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp.
Vậy hoạt động tổ chức, sử dụng ở công ty cổ phần thương mại bia Hà
Nội Hưng Yên 89 như thế nào? Tình hình sử dụng nguồn vốn ra sao, đạt hiệu
quả cao hay thấp? Để có thể duy trì hoạt động kinh doanh đồng thời chiếm
- Số liệu được thu thập trong 2 năm 2011 và 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu:
[ SV : LA NGỌC MAI ] 2 [ LỚP CQ47/11.04]
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp: phương pháp thống kê, phân tích
tổng hợp, so sánh, phân tích; phương pháp dữ liệu; phương pháp xử lý số liệu;
đánh giá dựa trên các tài liệu thu thập được kết hợp với suy luận biện chứng
để làm sáng tỏ vấn đề đang nghiên cứu.
5. Kết cấu khóa luận
- Kết cấu của khóa luận gồm 3 chương
- Chương 1: Những lý luận cơ bản về vốn kinh doanh và sự cần thiết phải
nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường.
Chương 2: Thực trạng về tình hình tổ chức và sử dụng vốn kinh
doanh của công ty CPTM bia Hà Nội Hưng Yên 89.
Chương 3: Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả tổ
chức và sử dụng vốn kinh doanh của Công ty CPTM bia Hà Nội Hưng
Yên 89.
.
[ SV : LA NGỌC MAI ] 3 [ LỚP CQ47/11.04]
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN
THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Những lý luận cơ bản về vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
1.1.1. Tổng quan về vốn kinh doanh
1.1. 1.1. Khái niệm về vốn kinh doanh
Một DN muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được thì điều trước tiên
là phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định để thực hiện những khoản đầu tư
toàn công ty.
1.1.1.2. Đặc trưng của vốn kinh doanh
Vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản: có nghĩa là vốn
phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình như
nhà xưởng, đất đai, thiết bị, nguyên liệu, chất xám, thông tin, vị trí địa lý kinh
doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền phát minh sáng chế,…
Vốn có giá trị về mặt thời gian: một đồng vốn ngày hôm nay có giá trị
cao hơn một đồng vốn trong tương lai, bởi vì có thể đầu tư tiền của ngày hôm
nay để thu được những khoản thu nhập trong tương lai. Tỷ lệ lãi suất là sự đo
lường thời giá của tiền tệ, nó phản ánh chi phí cơ hội mà người sử dụng vốn
phải bỏ ra để thu lợi nhuận. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh
giá chính xác hiệu quả của đầu tư.
Vốn luôn vận động vì mục tiêu sinh lời: nếu coi hình thái khởi đầu của
vốn là tiền thì sau một quá trình vận động vốn có thể biến đổi qua các hình
thái vật chất khác nhau, nhưng kết thúc chu kỳ vận động vốn lại trở lại trạng
thái ban đầu là tiền. Theo quy luật, để doanh nghiệp tồn tại và phát triển thì
lượng tiền này phải lớn hơn lượng tiền mà doanh nghiệp bỏ ra ban đầu, có
nghĩa là doanh nghiệp phải có lợi nhuận.
Vốn luôn gắn liền với một chủ sở hữu nhất định: không có vốn vô
chủ vì nó sẽ dẫn đến chi tiêu lãng phí và kém hiệu quả.
Vốn được xem là một hàng hóa đặc biệt: khác với hàng hóa thông
thường, hàng hóa vốn được bán sẽ không bị mất quyền sở hữu mà chỉ bán
quyền sử dụng, người mua được quyền sử dụng vốn trong thời gian nhất định
[ SV : LA NGỌC MAI ] 5 [ LỚP CQ47/11.04]
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
và phải trả cho người sở hữu một khoản tiền được gọi là lãi. Như vậy, lãi suất
là giá phải trả cho việc được quyền sử dụng vốn trong một thời kỳ nhất định.
Việc mua bán diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán vốn cũng tuân
theo quan hệ cung – cầu trên thị trường.
Các đặc trưng của vốn cho thấy, vốn là nguồn lực có hạn, cần phải sử
đặc điểm chủ yếu chu chuyển của vốn cố định trong quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp như sau:
Một là, trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cố định
chu chuyển giá trị dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm dưới hình thức chi
phí khấu hao tưng ứng với phần hao mòn tài sản cố định.
Hai là, vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh. Điều này so
đặc điểm của tài sản cố định được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ kinh
doanh quyết định.
Ba là, sau nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn cố định mới hoàn
thành một vòng luân chuyển. Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn được luân
chuyển vào giá trị sản phẩm tăng dần lên, song phần giá trị còn lại giảm cho
đến khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển hết
vào giá trịnh sản phẩm thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng tròn luân
chuyển.
Những đặc điểm về vốn cố định đòi hỏi nhà quản lý phải biết kết hợp
giữa quản lý theo giá trị và quản lý hình thái hiện vật của các tài sản cố định
của doanh nghiệp, nhưng tài sản cố định lại cso rất nhiều loại mỗi một loại lại
có những đặc điểm riêng. Để phục vụ cho nhu cầu quản lý tài sản cố định
cũng như quản lý tốt vốn cố định, doanh nghiệp cần tiến hành phân loại tài
sản cố định. Sau đây là một số cách phân loại tài sản cố định chủ yếu:
Phương pháp thứ nhất: theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế
- Tài sản cố định hữu hình là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ thể
do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh như: nhà xưởng, máy
móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật kiến trúc…
- Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng
xác định được giá trị như: quyền sử dụng đất, nhãn hiệu hàng hóa, bản quyền,
bằng phát minh…
[ SV : LA NGỌC MAI ] 7 [ LỚP CQ47/11.04]
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Phương pháp phân loại này giúp doanh nghiệp thấy được cơ cấu đầu tư
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài tài sản cố định doanh nghiệp
cần phải có các tài sản lưu động nhưng để có được tài sản lưu động doanh
nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó. Số
vốn này gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
[ SV : LA NGỌC MAI ] 8 [ LỚP CQ47/11.04]
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Vốn lưu động là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động
nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường
xuyên, liên tục. Vốn lưu động chu chuyển toàn bộ giá trị trong một lần và
được bù đắp toàn bộ khi doanh nghiệp kết thúc chu kỳ kinh doanh. Vốn lưu
động cũng hoàn thành một vòng chu chuyển sau một chu kỳ kinh doanh.
Đặc điểm của vốn lưu động:
Trong các doanh nghiệp, quá trình sản xuất kinh doanh luôn diễn ra
một cách thường xuyên, liên tục cho nên có thể thấy trong cùng một lúc, vốn
lưu động của doanh nghiệp được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển
và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Muốn cho quá trình sản xuất được
liên tục, doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác
nhau nó đảm bảo cho việc chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân
chuyển được thuận lợi. Do bị chi phối bởi các đặc điểm của tài sản lưu động
nên vốn lưu động của doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình
thái biểu hiện từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hóa sang hình thái vật
tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phần hàng hóa và kết thúc quá trình tiêu
thụ trở về hình thái ban đầu là tiền.
Thứ hai, vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và
được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
Thứ ba, vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sai một chu kỳ
kinh doanh.
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái
sản xuất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp cần quản lý tốt vốn lưu động,
- Nợ ngắn hạn: là các khoản nợ có thời gian đáo hạn dài nhất là một năm. Bao
gồm các khoản: vay và chiếm dụng của người bán trong ngắn hạn, các khoản
người mua trả tiền trước, các khoản phải trả công nhân viên, thuế và các
khoản phải nộp Nhà nước. Nợ ngắn hạn là nguồn vốn ảnh hưởng đến khả
năng thanh toán trong ngắn hạn của doanh nghiệp.
- Nợ dài hạn: là các khoản nợ có thời gian đáo hạn trên một năm. Nợ dài hạn
gồm: vay dài hạn và các khoản phải trả người bán trong dài hạn.
Đây là cách phân chia rất cơ bản trong nền kinh tế thị trường, dựa
vào cách phân loại này giúp doanh nghiệp đánh giá được khả năng tự chủ hay
[ SV : LA NGỌC MAI ] 10 [ LỚP CQ47/11.04]
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
phụ thuộc về tài chính, từ đó điều chỉnh cơ cấu nguồn tài trợ hợp lý, tối ưu để
tăng cường hiệu quả sử dụng vốn, đảm bảo tình hình tài chính lành mạnh, tối
thiểu hoá rủi ro.
1.1.2.2.2. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn
Cách phân loại này chia nguồn vốn kinh doanh thành hai loại:
nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
- Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn có tính chất ổn định, có
thể sử dụng trong thời gian dài. Bao gồm: vốn chủ sử hữu, vốn vay trung hạn
và dài hạn. Nguồn vốn này được dùng để mua sắm tài sản cố định và một bộ
phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn thường xuyên được xác định như sau:
Nguồn vốn thường xuyên = giá trị tổng tài sản – nợ ngắn hạn
Hoặc = VCSH + Nợ dài hạn
- Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn mang tính chất ngắn hạn (dưới
một năm). Bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín
dụng, vốn chiếm dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác Nguồn vốn tạm thời
của doanh nghiệp thường được dùng để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động tạm
thời, bất thường phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh.
trả lãi sẽ rất lớn, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng phá sản.
Như vậy, mỗi nguồn vốn đều có ưu, nhược điểm riêng, vì vậy nên
huy động vốn dưới hình thức nào đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán một
cách kỹ lưỡng, chặt chẽ và chính xác. Qua đó, xác định được cơ cấu nguồn
tài trợ tối ưu, đảm bảo an toàn tài chính, tối thiểu hoá chi phí sử dụng vốn mà
vẫn cho lợi nhuận kinh tế cao.
1.2. Vốn kinh doanh, nguồn hình thành vốn kinh doanh của DN và sự
cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh:
Vốn là điều kiện cần cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
mọi doanh nghiệp nhưng chưa đủ để đạt được mục đích kinh doanh của doanh
nghiệp bởi lẽ trong nên kinh tế thị trường mục đích cao nhất của mọi DN là
tối đa hóa lợi nhuận. Đồng nghĩa với việc DN phải khai thác và sử dụng triệt
[ SV : LA NGỌC MAI ] 12 [ LỚP CQ47/11.04]
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
để mọi nguồn lực sẵn có của mình, trong đó sử dụng có hiệu quả nguồn vốn là
yêu cầu bắt buộc đối với mọi DN.
Để làm rõ khái niệm hiệu quả sử dụng vốn ta tìm hiểu các khái niệm
liên quan như hiệu quả, hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả là mối tương quan giữa đầu vào và đầu ra của một quá trình
kinh tế - kỹ thuật nhằm đạt được những mục đích xác định.
Hiệu quả kinh doanh là mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào của quá
trình kinh doanh (hàng hóa, dịch vụ). Mới tương quan này được đo lường
bằng thước đo tiền tệ.
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
yếu tố đầu vào (các nguồn nhân tài, vật lực) của DN để đạt được kết quả cao
nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí tiết kiệm nhất.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn được sử dụng nhằm thu
được lợi nhuận trong tương lai. Nói cách khác, mục đích của việc sử dụng
Vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh =
VKD bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh vốn kinh doanh trong kỳ chu chuyển được bao
nhiêu vòng hay mấy lần. Chỉ tiêu này càng cao, hiệu suất sử dụng vốn kinh
doanh càng cao.
- Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh (hay tỷ
suất sinh lời kinh tế của tài sản) ROA
E
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản =
VKD bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá khả năng sinh lời của đồng vốn kinh
doanh, không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn
gốc của vốn kinh doanh.
LNTT của doanh nghiệp (EBT)
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế VKD =
VKD bình quân sử dụng trong kỳ
[ SV : LA NGỌC MAI ] 14 [ LỚP CQ47/11.04]
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh bình quân sử dụng
trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế.
- Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế vốn kinh doanh (ROA)
Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
(NI)
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế VKD =
VKD bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh bình quân sử dụng
trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE):
đủ để đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của DN. Nhưng hệ số này quá cao chưa
chắc đã phản ánh năng lực thanh toán của DN là tốt. Do vậy, để đánh giá
đúng hơn cần xem xét thêm tình hình của DN.
- Hệ số thanh toán nhanh:
Tổng tài sản lưu động - Hàng tồn kho
Hệ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Hàng tồn kho được coi là thứ hàng hóa có tính thanh khoản thấp hơn.
Do đó hệ số thanh toán nhanh phản ảnh rõ nét hơn khả năng thanh toán đáp
ứng đủ hay không đủ, nhanh hay chậm các khoản nợ ngắn hạn của DN. Nếu
hệ số này lớn hơn hoặc bằng 1 thì khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
là tốt và ngược lại.
- Hệ số thanh toán tức thời:
Tiền + Các khoản tương đương tiền
Hệ số thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán ngay lập tức những khoản nợ
ngắn hạn nhưng đã hết hạn thanh toán. Nếu tỷ lệ này quá cao thì vốn bằng tiền
của DN dữ trữ quá nhiều, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.2.2.3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
[ SV : LA NGỌC MAI ] 16 [ LỚP CQ47/11.04]
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ là bình quân số học của nguyên giá
TSCĐ đầu kỳ và cuối kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản cố định
trong kỳ tham gia tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng
lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSCĐ càng cao.
Doanh thu thuần trong kỳ
có thể đánh giá được tính chất hợp lý hoặc không hợp lý của kết cấu tài sản cố
định để có định hướng và điều chỉnh đầu tư vào các loại tài sản, nhằm nâng
cao hiệu suất sử dụng tài sản cố định.
- Hàm lượng vốn cố định:
Số vốn cố định bình quân sử dụng trong kỳ
Hàm lượng vốn cố định =
Doanh thu thuần trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu (thuần) cần bao
nhiêu đồng vốn cố định.
Hàm lượng vốn cố định càng thấp, hiệu suất sử dụng vốn cố định càng cao.
1.2.2.4. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp, ta
có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: được đánh giá và xác định qua
hai chỉ tiêu sau:
+ Vòng quay vốn lưu động (Số lần luân chuyển vốn lưu động):
[ SV : LA NGỌC MAI ] 18 [ LỚP CQ47/11.04]
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Doanh thu thuần
Vòng quay vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
Vòng quay vốn lưu động phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được
bao nhiêu vòng. Số vòng quay vốn lưu động càng nhiều thể hiện mức độ luân
chuyển vốn lưu động càng nhanh, hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.
+ Kỳ luân chuyển vốn lưu động:
Kỳ luân chuyển vốn lưu động là thời gian cần thiết để vốn lưu động
thực hiện được một vòng luân chuyển. Kỳ luân chuyển vốn lưu động càng
ngắn thì vốn lưu động luân chuyển càng nhanh. Kỳ luân chuyển vốn lưu động
được xác định bằng công thức:
Số ngày trong kỳ
của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu
sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt,
tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất.
Nhưng nếu so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành mà chỉ số này vẫn quá
cao thì có thể doanh nghiệp sẽ có thể bị mất khách hàng vì các khách hàng sẽ
chuyển sang tiêu thụ sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh cung cấp thời gian
tín dụng dài hơn.
- Kỳ thu tiền trung bình:
Số ngày trong kỳ
Kỳ thu tiền trung bình =
Vòng quay các khoản phải thu
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết bình quân để thu được các
khoản phải thu, đồng thời phản ánh hiệu quả việc quản lý các khoản phải thu
và chính sách tín dụng của DN với các khách hàng của mình.
Tóm lại, toàn bộ hệ thống chỉ tiêu trên đây là cơ sở quan trọng để
nhìn nhận, đánh giá mặt mạnh, yếu về tình hình tổ chức, sử dụng, hiệu quả sử
[ SV : LA NGỌC MAI ] 20 [ LỚP CQ47/11.04]
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
dụng vốn kinh doanh vốn kinh doanh cũng như đánh giá được tình hình tài
chính của doanh nghiệp.
1.2.2.5. Một số chỉ tiêu phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ
số tài chính (phương pháp phân tích Du Pont)
Mức sinh lời của vốn chủ sở hữu của DN là kết quả tổng hợp của hàng
loạt biện pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp. Để thấy được sự tác
động của mối quan hệ giữa việc tổ chức, sử dụng vốn và tổ chức tiêu thụ sản
phẩm tới mức sinh lời của DN, người ta xây dựng hệ thống chỉ tiêu để phân
tích sự tác động đó.
Những mối quan hệ chủ yếu được xem là:
- Mối quan hệ tương tác giữa tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn
kinh doanh với hiệu suất sử dụng toàn bộ vốn và tỷ suất lợi nhuận:
Tổng số vốn kinh doanh
Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính =
Vốn chủ sở hữu
Từ đó:
Tỷ suất lợi nhuận
vốn chủ sở hữu
(ROE)
=
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên VKD
x
Mức độ sử dụng đòn
bẩy tài chính
Từ các công thức trên ta xác định tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
bằng công thức sau:
LN sau thuế
=
LN sau thuế
x
Doanh thu thuần
x
Tổng số VKD
Vốn chủ sở hữu Doanh thu thuần Tổng số VKD Vốn chủ sở hữu
Như vậy:
Tỷ suất lợi nhuận
vốn chủ sở hữu
= Hệ số lãi ròng x
Vòng quay
toàn bộ vốn
nên kinh tế thị trường.
Từ khi chuyển sang nên kinh tế thị trường, bất kỳ một DN nào khi tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng phải tuân theo nguyên tắc hạch toán
kinh doanh là: kinh doanh phải lấy thu bù chi và phải có lợi nhuận. Nếu
không đạt được yêu cầu này các DN sẽ có nguy cơ phá sản.
Năm là, xuất phát từ yêu cầu cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
Trong giai đoạn hiện nay, khi nên kinh tế thị trường ngày càng phát
triển mạnh mẽ thì sự cạnh tranh giữa các DN trở nên vô cùng gay gắt. DN nào
tận dụng tối đa năng lực sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì sẽ có
điều kiện đứng vững trên thị trường. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ
giúp cho DN tạo khả năng cạnh tranh và tạo những lợi thế nhất định đến DN
có thể tồn tại và phát triển.
CHƯƠNG 2
[ SV : LA NGỌC MAI ] 23 [ LỚP CQ47/11.04]
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI BIA
HÀ NỘI HƯNG YÊN 89
2.1. Tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty CPTM bia
Hà Nội Hưng Yên 89
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Tên: Công ty CPTM bia Hà nội Hưng yên 89
Địa chỉ: Đường 206, xã Trưng Trắc, Huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng yên.
Ngày đăng ký kinh doanh: 14/05/2007
Mã số thuế: 0900270055
Lĩnh vực kinh doanh: Sản xuất bia và mạch nha ủ men bia, nước giải
khát, kinh doanh nông,lâm,hải sản nguyên liệu, kinh doanh thực phẩm
tươi sống, thực phẩm Công nghệ chế biến, kinh doanh vật liệu xây
dựng, kd phân bón, hóa chất.
Vốn điều lệ: 30 tỷ VNĐ
Năm 2011 công ty đã sản xuất và tiêu thụ được 6 triệu lít bia và đóng góp
cho ngân sách của tỉnh hưng yên hơn 20 tỷ đồng. Trong năm 2012 nhà máy
sản xuất 30 triệu lít bia đóng góp vào ngân sách của tỉnh Hưng Yên trên 100
tỷ đồng.
Trước bối cảnh nền kinh tế đất nước đang trong giai đoạn phát triển và hội
nhập nhanh với nhiều thời cơ và thách thức lớn, Công ty nhận thức rằng trong
tương lai sẽ có nhiều khó khăn và thử thách. Tuy nhiên, bằng những kinh
nghiệm và chiến lược kinh doanh đúng đắn, công ty sẽ hoàn thành tốt các chỉ
tiêu đã đề ra, đồng thời tiếp tục phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường,
phát triển đa lĩnh vực đảm bảo mang lại hiệu quả cho hoạt động Công ty và
lợi ích cao nhất cho các cổ đông.Đồng thời, để giữ vững được thị trường cũng
như tăng thị phần, cùng với các chính sách vĩ mô của công ty, công ty đã tiếp
tục cải tiến các khâu hậu cần, nâng cao chất lượng dịch vụ và thực hiện các
chính sách thị trường để đem đến cho người tiêu dùng sản phẩm tốt nhất.
2.1.2. Tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty
[ SV : LA NGỌC MAI ] 25 [ LỚP CQ47/11.04]