Báo cáo thực tập "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động ở Công ty Gạch ốp lát Hà Nội" - Pdf 19

BÁO CÁO THỰC TẬP
ĐỀ TÀI
"Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ
chức, sử dụng vốn lưu động ở Công ty
Gạch ốp lát Hà Nội"
1
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Chương I : Vốn lưu động và một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
I. Vốn lưu động và nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp.
1. Vốn lưu động
1.1. Vốn lưu động, nội dung vốn lưu động của doanh nghịêp.
1.2. Phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.3. Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng.
2. Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp.
2.1. Căn cứ theo quan hệ sở hữu vốn.
2.2. Căn cứ theo nguồn hình thành.
2.3. Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn.
II. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
1. Ý nghĩa của việc phải nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động
trong doanh nghiệp.
2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp.
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Hàm lượng vốn lưu dộng.
Mức doanh lợi vốn lưu động
Một số chỉ tiêu khác.

Chương III : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và sử
dụng vốn lưu động của công ty Gạch ốp lát Hà Nội.
1. Phương hướng phát triển của công ty trong thời gian tới.
2. Một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và sử dụng
vốn lưu động tại công ty Gạch ốp lát Hà Nội.
Kết Luận.
3
3
Tài liệu tham khảo
LỜI MỞ ĐẦU
Để tiến hành bất cứ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải
có vốn. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình
thành phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Vì vậy, bất kì một
doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm tới vấn đề quản lý và
sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất, nhằm đem lại nhiều lợi nhuận nhất.
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt của thị trường đã đòi
hỏi các doanh nghiệp phải tính toán kỹ về hiệu quả của mỗi đồng vốn mà đảm
bảo được tái sản xuất giản đơn, vốn bị mất dần sau mỗi chu kỳ kinh doanh, kéo
theo tình trạng thua lỗ kéo dài và phải vắng bóng trên thị trường. Vốn kinh
doanh có hai loại là vốn cố định và vốn lưu động. Trong đó, vốn lưu động như
dòng máu luôn vận động tuần hoàn để nuôi sống doanh nghiệp. Chính vì vậy mà
việc tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả hay không sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Với mong muốn góp phần vào sự phát triển của các doanh nghiệp công
nghiệp nói chung và của công ty Gạch ốp lát Hà Nội nói riêng, sau khi nghiên
cứu và nhận thức rõ tính cấp thiết của vấn đề đang đặt ra từ thực tiễn, em xin
mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp với đề tài:
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động ở
Công ty Gạch ốp lát Hà Nội.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có các chương sau:

Những ĐTLĐ nói trên, nếu xét về hình thái biểu hiện trong quá trình sản
xuất kinh doanh được coi là các TSLĐ. Trong các doanh nghiệp, TSLĐ được
chia thành TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông.
- TSLĐ sản xuất bao gồm các ĐTLĐ như nguyên nhiên vật liệu và các tư
liệu dự trữ cho sản xuất, các sản phẩm dở dang.
- TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các
loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán.
Đối với doanh nghiệp thương mại, dịch vụ thuần tuý chỉ có TSLĐ lưu
thông không có TSLĐ sản xuất.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu
thông luôn vận động thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình
sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi.
6
6
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, để hình thành các TSLĐ
sản xuất và TSLĐ lưu thông, các doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư
ban đầu nhất định. Số vốn ứng trước này được gọi là vốn lưu động(VLĐ) của
doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, VLĐ của doanh nghiệp
luôn vận động, thay đổi hình thái biểu hiện và trải qua 3 giai đoạn :
Sự vận động của VLĐ qua các giai đoạn được mô tả theo sơ đồ sau :
T - H (SX) H
'
- T
'
(đối với các doanh nghiệp sản xuất)
T - H - T

(đối với các doanh nghiệp thương mại)
Trong đó : T
'

Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có cơ sở để tính toán kiểm tra
kết cấu tối ưu của VLĐ để dự thảo những quyết định tối ưu về mức tận dụng số
VLĐ đã bỏ ra. Mặt khác, nó cũng là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá khả năng
thanh toán của mình.
Dựa vào vai trò của VLĐ suốt quá trình sản xuất kinh doanh có thể chia
VLĐ thành 3 loại :
- VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất :
Bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu,
động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
- VLĐ trong khâu sản xuất :
Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản
chi phí chờ kết chuyển.
- VLĐ trong khâu lưu thông :
Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá
quý ); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay
ngắn hạn ) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong
thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng ).
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp xem xét đánh giá tình hình
phân bổ VLĐ trong các khâu của quá trình chu chuyển VLĐ, từ đó đề ra các
biện pháp tổ chức quản lý thích hợp.
1.3 Kết cấu VLĐ và các nhân tố ảnh hưởng :
8
8
1.3.1. Kết cấu VLĐ
Kết cấu VLĐ phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa thành
phần VLĐ chiếm trong tổng số VLĐ của doanh nghiệp.
Việc phân tích kết cấu VLĐ giúp cho doanh nghiệp thấy được tình hình
phân bổ và tỷ trọng của mỗi khoản vốn trong quá trình sản xuất. Từ đó xác định
đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý VLĐ có hiệu quả hơn phù hợp với
điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Mặt khác, với việc thay đổi kết cấu VLĐ

+ Phương thức thanh toán hợp lý, giải quyết thanh toán kịp thời thì sẽ làm
giảm tỷ trọng vốn phải thu.
+ Tình hình quản lý khoản phải thu của doanh nghiệp và việc chấp hành
kỷ luật thanh toán của khách hàng sẽ ảnh hưởng đến vốn phải thu. Nếu vốn phải
thu lớn thì khả năng tái sản xuất của doanh nghiệp sẽ khó khăn dẫn đến tình
trạng khả năng trả nợ của doanh nghiệp sẽ kém.
Ngoài các nhân tố kể trên, kết cấu VLĐ còn chịu ảnh hưởng bởi tính
chất thời vụ của sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý
2. Nguốn vốn lưu động của doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bên cạnh VCĐ, doanh
nghiệp cần phải có một lượng VLĐ thường xuyên cần thiết. VLĐ được hình
thành từ nhiều nguồn khác nhau. Sau đây là một số nguồn chủ yếu.
2.1. Căn cứ theo quan hệ sở hữu về vốn
Theo cách này người ta chia VLĐ thành 2 loại:
- Vốn chủ sở hữu :
Là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp
có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt, bao gồm: Vốn điều lệ do
chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp,
vốn do Nhà nước tài trợ (nếu có). Vốn chủ sở hữu được xác định là phần vốn
còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ nợ phải trả.
- Nợ phải trả :
10
10
Là số vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế khác, doanh nghiệp
có quyền sử dụng, chi phối trong một thời hạn nhất định. Nợ của doanh nghiệp
thường bao gồm 2 bộ phận: Nợ chiếm dụng ( các khoản vốn trong thanh toán mà
doanh nghiệp được sử dụng một cách hợp pháp khi chưa tới kỳ hạn) và nợ tín
dụng ( các khoản vốn vay từ các chủ thể khác như : ngân hàng, các tổ chức tài
chính- tín dụng, các doanh nghiệp khác).
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp có biện pháp quản lý VLĐ một

Là nguồn có tính chất ngắn hạn dưới 01 năm, chủ yếu nhằm đáp ứng các
nhu cầu có tính chất tạm thời về VLĐ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm khoản nợ vay ngắn hạn ngân
hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp quản lý xem xét hoạt động của
các nguồn VLĐ một cách phù hợp với thời gian sử dụng để nâng cao hiệu quả tổ
chức và sử dụng VLĐ. Ngoài ra, nó còn giúp cho nhà quản lý lập các kế hoạch
tài chính hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn VLĐ trong tương lai.
Trên cơ sở đó xác định quy mô, số lượng VLĐ cần thiết để lựa chọn nguồn VLĐ
nào mang hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.
Mỗi cách phân loại vốn nêu trên có những ưu và nhược điểm riêng, do
vậy người quản lý phải thận trọng suy xét trước khi lựa chọn hình thức huy động
sao cho chi phí sử dụng vốn thấp nhất, khả năng rủi ro nhỏ nhất và hiệu quả kinh
tế mang lại là lớn nhất. Từ việc nghiên cứu các phương pháp phân loại vốn lưu
động: các doanh nghiệp hiện nay một mặt cần tăng cường quản lý và sử dụng có
hiệu quả vốn hiện có, mặt khác cần phải chủ động tổ chức khai thác các nguồn
vốn đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC, SỬ DỤNG VỐN LƯU
ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Ý nghĩa của việc phải nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng VLĐ trong
doanh nghiệp.
12
12
Điểm xuất phát của quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
là phải có một lượng vốn nhất định và nguồn tài trợ tương ứng, không có vốn sẽ
không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Song việc sử dụng vốn như
thế nào cho có hiệu quả mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng và phát
triển của mỗi doanh nghiệp. Quản lý VLĐ là một bộ phận trọng yếu của công
tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Quản lý VLĐ không những đảm bảo sử dụng
VLĐ hợp lý tiết kiệm mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí, hạ

hay ít phản ánh số vốn dự trữ ở các khâu nhiều hay ít. VLĐ luân chuyển nhanh
hay chậm phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay lãng phí, thời gian
nằm trên các giai đoạn luận chuyển có hợp lý hay không. Từ đó có thể kiểm tra
một cách toàn diện đối với các mặt mua sắm dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp. Mặt khác, với vai trò là vốn luân chuyển, vốn luân
chuyển giúp tổ chức tốt quá trình mua hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh
vực lưu thông. Sử dụng VLĐ hợp lý cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc
của các TSCĐ thuộc VCĐ, làm tăng lợi nhuận, góp phần làm tốt công tác bảo
toàn và phát triển vốn kinh doanh.Vì vậy, việc quản lý bảo toàn và nâng cao hiệu
quả sử dụng VLĐ là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp
Hai là: Xuất phát từ đặc điểm chu chuyển của VLĐ là luân chuyển nhanh
cho phép sử dụng linh hoạt trong quá trình sản xuất kinh doanh từ đó tạo ra
nhiều khối lượng sản phẩm lớn cho các doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu phần lớn phụ thuộc vào công tác
quản lý và sử dụng VLĐ. Việc tăng cường quản lý, thực hiện bảo toàn nâng cao
hiệu quả sử dụng VLĐ đảm bảo cho các giai đoạn luân chuyển và biểu hiện dưới
nhiều hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục thì
doanh nghiệp phải có đủ vốn đầu tư vào lĩnh vực đó khiến các hình thái có được
mức độ hợp lý tối ưu và đồng bộ với nhau khiến việc chuyển hoá hình thái vốn
trong quá trình luân chuyển được thuận lợi.
Ba là: Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ.
14
14
Hiệu quả sử dụng VLĐ là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trường hợp những
cố gắng, những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật đảm bảo với số vốn hiện có,
bằng các biện pháp quản lý và trường hợp nhằm khai thác triệt để khả năng vốn
có để có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp.
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp
lý hiệu quả từng đồng VLĐ nhằm làm cho VLĐ được thu hồi sau mỗi chu kỳ
sản xuất. Việc tăng tốc độ luân chuyển vốn cho phép rút ngắn thời gian chu

- Số vòng quay VLĐ: chỉ tiêu này phản ánh vòng quay vốn được thực hiện
trong một thời kỳ nhất định, thường tính trong một năm.
L= M
VLĐ
bq
Trong đó:
L: Số lần luân chuyển (số vòng quay) của VLĐ trong kỳ
M: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ : Phản ánh tổng giá trị luân
chuyển của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ.
VLĐ
bq
: Số vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ
VLĐ
bq
= VLĐ
bq1
+ VLĐ
bq2
+ VLĐ
bq3
+ VLĐ
bq4
4
16
16
Việc tăng vòng quay vốn lưu động có ý nghĩa kinh tế rất lớn đối với
doanh nghiệp, có thể giúp cho doanh nghiệp giảm được lượng vốn lưu động cần
thiết trong kinh doanh, giảm được lượng vốn vay hoặc có thể mở rộng được quy
mô kinh doanh trên cơ sở vốn hiện có
- Kỳ luân chuyển VLĐ: phản ánh số ngày ( thời gian cần thiết ) để hoàn thành

Chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao và ngược lại.
2.4 Mức doanh lợi VLĐ (hiệu suất sử dụng VLĐ )
Mức doanh lợi VLĐ = Lợi nhuận trước (hoặc sau thuế)
VLĐ
bq
sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận trước thuế hoặc sau thuế. Mức doanh lợi VLĐ càng cao chứng tỏ hiệu quả
sử dụng VLĐ càng tốt và ngược lại.
Chỉ tiêu này càng cao là điều mong muốn của bất kỳ Doanh nghiệp nào.
2.5 Một số chỉ tiêu khác
Ngoài các chỉ tiêu nêu trên để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ người ta
còn sử dụng các chỉ tiêu khác như:
Khả năng thanh toán tạm thời = TSLĐ và đầu tư ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này thể hiện mức độ đảm bảo của TSLĐ với nợ ngắn hạn.
Khả năng thanh toán nhanh = TSLĐ - vốn vật tư hàng hoá
Tổng nợ ngắn hạn
Hoặc:
Khả năng thanh toán nhanh = Tiền + tương đương tiền
Tổng nợ ngắn hạn
18
18
Chỉ tiêu này nhỏ thì Doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanh toán công
nợ.
Số vòng quay hàng tồn kho: là số lần mà những hàng hoá tồn kho bình
quân luân chuyển trong kỳ.
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Trị giá hàng tồn kho bình quân
Số vòng quay càng cao thì vốn luân chuyển càng nhanh, việc kinh doanh

Thứ hai: Lựa chọn hình thức huy động vốn lưu động và đầu tư đúng đắn
Tích cực khai thác triệt để nguồn vốn bên trong doanh nghiệp nhằm đáp
ứng kịp thời cho nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp, đồng thời tính toán lựa chọn
huy động các nguồn vốn bên ngoài với mức độ hợp lý của từng nguồn nhằm
giảm tới mức thấp nhất chi phí sử dụng vốn.
Khi quyết định đầu tư, doanh nghiệp cần phải cân nhắc kỹ thị trường tiêu
thụ, tình hình cung ứng nguyên vật liệu, quy trình công nghệ, áp dụng tổng hợp
nhiều biện pháp để rút ngắn chu kỳ sản xuất.
Thứ ba: Tổ chức tốt quá trình sản xuất và đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản
phẩm
Doanh nghiệp cần phải phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận sản xuất,
không ngừng nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, tiết kiệm được nguyên
vật liệu. Mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng cường công tác tiếp thị, marketing,
thông tin quảng cáo giới thiệu sản phẩm, tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, hạn
chế tối đa sản phẩm tồn kho, tăng nhanh vòng quay của vốn.
Thứ tư: Quản lý chặt chẽ các khoản vốn
20
20
Quản trị tốt vốn bằng tiền bằng việc xác định mức tồn quỹ hợp lý, dự
đoán, quản lý các luồng nhập, xuất ngân quỹ.
Quản lý tốt công tác thanh toán công nợ, tránh tình trạng bán hàng không
thu được tiền, vốn bị chiếm dụng, gây nên nợ khó đòi làm thất thoát VLĐ. Để đề
phòng rủi ro, doanh nghiệp nên mua bảo hiểm và lập quỹ dự phòng tài chính.
Thứ năm: Tăng cường phát huy vai trò của tài chính trong việc quản lý và
sử dụng vốn.
Thực hiện biện pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường phát huy
chức năng giám đốc của tài chính trong việc sử dụng tiền vốn nói chung và VLĐ
nói riêng ở tất cả các khâu từ dự trữ, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.
Thứ sáu: Tăng cường bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ
quản lý, nhất là đội ngũ quản lý cán bộ tài chính.

Cùng với nhu cầu gạch xây dựng, gạch chống nóng nhu cầu gạch lát nền
cũng trở nên rất cần thiết với yêu cầu của thị trường xây dựng. Tháng 2 năm
1994, công ty gốm Hữu Hưng đã mở rộng thêm sản phẩm gạch lát nền có công
suất 1.015.000m
2
/năm, toàn bộ thiết bị là tự động hoá, được nhập từ Italia.
Tháng 11 năm 1994, dây chuyền này đã đi vào hoạt động. Từ đó nhà máy
gạch ốp lát thuộc công ty gốm xây dựng Hữu Hưng được thành lập.
Sản phẩm gạch lát nền VICERA được bán rộng rãi trên cả nước, được
khách hàng đánh giá rất cao. Đây là dây chuyền sản xuất gạch lát nền cao cấp
được đầu tư xây dựng đầu tiên ở Việt Nam. Sản phẩm gạch lát nền của công ty
được giấy chứng nhận về tiêu chuẩn chất lượng của Châu Âu cho gạch lát nền
(cen/TC78)
Sự ra đời của dây chuyền I với công suất hơn 1tr m
2
/năm không đáp ứng
được là bao so với nhu cầu xây dựng của Việt Nam đang ngày càng gia tăng.
Qua một số cuộc thăm dò về nhu cầu thị trường và thực tại chiến lược sản xuất
kinh doanh của công ty, công ty thấy rằng thị trường tiềm năng thương mại của
công ty còn rất lớn. Được sự chỉ đạo trực tiếp từ Tổng công ty Thuỷ tinh và
Gốm sứ xây dựng, tháng 8 năm 1997 công ty tiếp tục lắp dặt dây chuyền thứ hai
và cho đi vào hoạt động đã nâng công suất gạch của công ty lên hơn 3 tr m
2
/
năm.
Tháng 5 năm 1998, công ty đổi tên thành công ty gạch ốp lát Hà Nội.
23
23
Những thành quả bước đầu đạt được đã đánh dấu sự trưởng thành và
phát triển của công ty. Cho đến nay, công ty đã có rất nhiều chi nhánh và đại

và công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công nhân.
3. Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất và quản lý tài chính kế toán của công
ty
3.1. Cơ cấu tổ chức quản lý
Bộ máy quản lý của công ty được bố trí theo kiểu trực tuyến chức
năng. Giám đốc là đại diện pháp nhân của công ty, là người có quyền lãnh đạo
cao nhất trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt động của Công ty, các phòng ban tham mưu
cho giám đốc theo chức năng và nhiệm vụ của mình.
Ban giám đốc: Ban giám đốc của Công ty gồm bốn người, một giám đốc và
ba phó giám đốc.
- Giám đốc là người đứng đầu bộ máy quản lý chỉ đạo và chịu trách nhiệm về
kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty. Ngoài việc ủy quyền cho các phó giám
đốc, giám đốc còn chỉ đạo trực tiếp thông qua trưởng các phòng ban.
- Các phó giám đốc là người giúp việc trực tiếp cho giám đốc, trực
tiếp chỉ đạo về mặt nghiệp vụ, các bộ phận hoạt động trong phạm vi trách nhiệm
của mình.
Công ty có ba phó giám đốc:
+ Phó giám đốc sản xuất công nghệ.
+ Phó giám đốc thiết bị.
+ Phó giám đốc kinh doanh.
Các phòng ban:
Việc tổ chức ra các phòng ban tuỳ thuộc vào yêu cầu của sản xuất kinh doanh
đứng đầu là các trưởng phòng và phó phòng chịu sự lãnh đạo trực tiếp của ban
giám đốc và đồng thời cũng có vai trò trợ giúp giám đốc chỉ đạo các hoạt động
sản xuất kinh doanh thông suốt.
25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status