GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY MẶC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM - Pdf 24

Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kinh tế
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHÁP CỦA LẠM PHÁT ĐẾN
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
MAY MẶC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM.
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phức tạp gắn liền với sự tăng lên đồng loạt
của giá cả và sự mất giá của tiền tệ, một phạm trù kinh tế vĩ mô chứa đựng nội hàm
phức tạp, là một căn bệnh tiềm ẩn đối với các nước có nền kinh tế phát triển theo cơ
chế thị trường, nó xuất hiện khi nền kinh tế chứa đựng các dấu hiệu mất cân đối: giữa
cung cầu hàng hoá, cung cầu tiền tệ.
Lạm phát mỗi lần xuất hiện đều mang theo sức mạnh tàn phá tiềm ẩn, làm rối
loạn nền kinh tế - xã hội, làm giảm sút mức sống của người dân và có thể nếu ở một
mức nào đó thì lạm phát gây ra rối ren chính trị xã hội. Ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm
soát lạm phát là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia trên
thế giới. Thực tế đã chứng minh rằng trong quá trình phát triển kinh tế, nhiều quốc gia
đã từng đối mặt với lạm phát và kiềm chế nó thành công. Nhưng không phải lúc nào
lạm phát cũng gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế mà nó cũng có những
tác động tích cực khi tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng ở mức 1 con số và trong tầm
kiểm soát của chính phủ. Chỉ số giá tiêu dùng đã tăng mạnh lên 2 con số và diễn biến
hết sức căng thẳng đến 8 tháng đầu năm 2008 buộc Chính phủ phải thực thi các giải
pháp thắt chặt nghiêm ngặt. Song do tác động của các giải pháp kiềm chế lạm phát
cùng với tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, cuối năm 2008 và năm 2009 chỉ
số giá tiêu dùng lại được duy trì ở mức một con số và thậm chí có tháng chỉ số giá tiêu
dùng còn giảm đi so với tháng trước đó tức là có dấu hiệu giảm phát, ảnh hưởng đến
mục tiêu tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Song tác động của các gói kích thích kinh tế
trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu cộng với những biến động bất thường của
thời tiết, giá cả thế giới leo thang, giá vàng và đô la mỹ tăng mạnh đã đẩy chỉ số giá
tiêu dùng của Việt Nam tăng vọt vào cuối năm 2010 và chưa có dầu hiệu dừng lại, gây
tâm lý bất ổn trong dân chúng, áp lực lại một lần nữa đè nặng trên vai chính phủ trong
việc điều hành nên kinh tế và đe dọa đời sống nhân dân.

cao ngoài khả năng dự đoán.
Năm 2010, ngành dệt may đạt kim ngạch xuất khẩu 11,2 tỷ USD, tăng 23,2% so
với năm 2009, trong bối cảnh số lượng đơn hàng xuất khẩu cũng rõ rệt, đồng thời lần đầu
tiên lọt vào top 5 thế giới về kim ngạch xuất khẩu. Hiệp hội Dệt may Việt Nam cũng nhận
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Huệ - K43F4
2
Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kinh tế
định, năm 2011 may mặc xuất khẩu sẽ có nhiều hứa hẹn. Theo phân tích của các chuyên gia
trong ngành, ngay cả thời gian vừa qua châu Âu (một thị trường lớn nhập khẩu hàng may
mặc của Việt Nam) bị khủng hoảng nợ công nhưng cũng không ảnh hưởng nhiều đến việc
xuất khẩu hàng của các DN, bởi phần lớn sản phẩm may mặc xuất sang thị trường này
thuộc dòng hàng có giá trung bình. Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang hồi phục dần và mức
tiêu dùng cũng đã có dấu hiệu tăng, đây là chiều hướng tốt cho sản xuất xuất khẩu. Tuy
nhiên, những khó khăn của các DN may mặc đang phải đối mặt đó là nguồn lao động bị
thiếu hụt.
Do những tác động của lạm phát đến nền kinh tế đặc biệt là hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp may mặc. Trong thời gian thực tập, em nhận thức
được tầm quan trọng của vấn đề lạm phát của nước ta hiện nay và ảnh hưởng của nó
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp may mặc, và dưới sự giúp đỡ
của các thầy cô ở bộ môn vĩ mô định hướng đề tài, em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp
nhằm hạn chế tác động của lạm phát đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp may mặc trên địa bàn tỉnh Hà Nam’’.
1.2. Xác lập và tuyên bố trong đề tài.
Qua đề tài này, em muốn tìm hiểu rõ hơn về tình hình lạm phát ở Việt Nam trong
thời gian gần đây và tác động của lạm phát đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp may mặc nói chung và các doanh nghiệp may mặc trên địa bàn tỉnh Hà
Nam nói riêng. Từ đó đưa ra giải pháp nhằm hạn chế tác động của lạm phát đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp may mặc.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu.
Hệ thống hóa lý luận về lạm phát, phân tích và đánh giá thực trạng tình hình

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Huệ - K43F4
4
Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kinh tế
CHƯƠNG II
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY MẶC TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM.
2.1 Một số khái niệm cơ bản về lạm phát
2.1.1 Quan điểm và khái niệm về lạm phát
Lạm phát được định nghĩa là một quá trình giá tăng liên tục, tức là mức giá
chung tăng lên hoặc là quá trình đồng tiền liên tục giảm giá. Nhưng điều này chưa nói
lên nguyên nhân và hậu quả của lạm phát. Chỉ có thể kết luận là lạm phát khi giá cả
chung tăng lên. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát.
- Học thuyết cơ cấu về lạm phát nói rằng: Lạm phát xuất hiện là do xung đột về
phân phối được báo hiệu bởi những dịch chuyển tăng giá và một hệ thống các qui luật
hình thành giá làm gia tăng thêm xung đột nêu trên thành một làn sóng tăng giá mạnh
mẽ thông qua cơ chế lan truyền.
- Học thuyết của các nhà tiền tệ cho rằng: Lạm phát là một hiện tượng thuần tuý
tiền tệ, giá tăng lên ít nhiều là do tăng cung tiền tệ quá mức cầu của nền kinh tế.
- Trong bộ tư bản của mình Marx viết: “ Việc phát hành tiền giấy phải được
giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy của
mình”. Điều này có nghĩa là khi số tiền giấy do nhà nước phát hành vào trong lưu
thông vượt quá số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy giảm xuống và
tình trạng lạm phát xuất hiện.
- Định nghĩa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra và sử dụng rộng
rãi trong thị trường: “Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian”.
Nó được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát, chỉ số điều chỉnh GDP( D
GDP
).
2.1.2 Thước đo lạm phát

CPI là căn cứ quan trọng đánh giá năng lực điều tiết của chính phủ trong vận hành của
nền kinh tế. Do đó, việc tìm hiểu CPI một cách chuẩn xác và áp dụng một cách khoa
học trong phân tích kinh tế là vô cùng cần thiết không chỉ đối với các nhà hoạch định
chính sách, các chuyên gia kinh tế mà còn bổ ích với tất cả những ai muốn tham gia thị
trường hoặc quan tâm tới các vấn đề kinh tế.
CPI thường được sử dụng để điều chỉnh thu nhập của người dân và các hoạt
động kinh tế khác. Các thông tin về hoạt động bán lẻ, thu nhập theo giờ và theo tuần,
tổng thu nhập và tổng sản phẩm quốc dân được gắn kết với CPI để lý giải các chỉ số có
liên quan trong thời kì không có ảnh hưởng của lạm phát.
CPI là chỉ số đo lường sự thay đổi trong chi phí sinh hoạt được biết đến nhiều
nhất. CPI được sử dụng để điều chỉnh tiền lương, phúc lợi xã hội, lương hưu, thuế và
các chỉ số kinh tế khác nữa. Nó cũng cung cấp cho các nhà đầu tư các thông tin về
những biến động có thể xảy ra trên thị trường tài chính - nơi mà cổ phiếu có mối quan
hệ cả trực tiếp và gián tiếp đối với CPI, giúp các nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết
định đầu tư phù hợp và bảo vệ mình bằng cách mua các công cụ đầu tư như TIPS.
- Chỉ số diều chỉnh GDP ( D
GDP
) đo lường mức giá trung bình của tất cả mọi
hàng hóa và dịch vụ được tính vào GDP và được tính bằng tỷ số giữa GDP danh nghĩa
và GDP thực tế theo công thức:
0
i i
t t
i i
t
GDP
q p
q p
=


hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình
thường, loại lạm phát này có thể làm biến dạng nền kinh tế.
- Siêu lạm phát: Xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao, vượt xa
lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng nhanh
kinh khủng, giá cả tăng nhanh, tiền lương thực tế bị giảm mạnh. Đó là loại lạm phát 4
con số, tỷ lệ lạm phát lên đến hàng ngàn lần phần trăm.
2.2.2. Nguyên nhân gây ra lạm phát
2.2.2.1. Lạm phát cầu kéo( lạm phát do cầu)
Lạm phát do cầu kéo thực chất là do sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu
hàng hoá và dịch vụ. Bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Huệ - K43F4
7
Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kinh tế
một lượng cung hạn chế về hàng hóa có thể sản xuất được trong điều kiện thị trường
lao động đã đạt cân bằng.
Tổng cầu AD= C + I + G + X − M.
Đó là do các thành phần chi tiêu gia tăng ( bao gồm các yếu tố về C, I, G, X)
làm cho tổng cầu AD tăng, sản lượng tăng ít, giá tăng nhiều. Kết quả gây ra lạm phát
cầu kéo ( hình 2.1).
Mô hình:
Ban đầu nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng ở E( P; Y = Y
*
).
Khi chính phủ sử dụng CSTK mở rộng hoặc do đầu tư tăng mạnh → AD tăng,
đường tổng cầu dịch chuyển từ AD → AD
1
.
Trạng thái cân bằng mới được xác định tại E
1
( P

P

P
1
AD
E
E
1
AD
1
0
P
AS
L
AS
Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kinh tế
Trạng thái cân bằng mới được xác định tại E
1
( P
1
; Y
1
).
Nền kinh tế suy thoái ( Y
1
< Y = Y
*
), nhưng tốc độ tăng giá ( P
1
> P ) nhưng

AS
1
AS
9
Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kinh tế
- Mất cân đối giữa cung cầu lương thực, thực phẩm.
- Ngoại tệ có hạn do nhập nhiều hơn xuất.
- Ngân sách bị thâm hụt và bị hạn chế do thu được ít nhưng nhu cầu chi cao.
2.2.2.4. Lạm phát tiền tệ.
Lý thuyết tiền tệ là cách giải thích thuyết phục nhất về nguồn gốc sâu xa của
hiện tượng lạm phát. Tuy nhiên nhiều tác giả khác, ví dụ như Friedman đã đi xa hơn
và đề ra một hình thái mạnh hơn của chủ nghĩa tiền tệ. Ông đã chỉ ra trực tiếp mối
quan hệ nhân quả trực tiếp giữa cung tiền và lạm phát:‘‘ Lạm phát ở đâu và bao giờ
cũng là hiện tượng tiền tệ và nó chỉ có thể xuất hiện một khi cung tiền tăng nhanh
hơn sản lượng’’. Kết luận này dựa trên hai điều. Thứ nhất, các nhà tiền tệ cho rằng lạm
phát gây ra bởi sự dư thừa tổng cầu so với tổng cung. Thứ hai, nó giả sử rằng mối quan
hệ nhân quả bắt nguồn từ tác động của cung ứng tiền đến mức giá, chứ không phải
ngược lại là giá cả tăng lên làm tăng lượng tiền cung ứng.
Giả sử Y là mức sản lượng mà nền kinh tế tạo ra trong một năm và P là giá của
một đơn vị sản lượng điển hình, khi đó số đồng được trao đổi trong năm bằng P* Y.
Nếu chúng ta ký hiệu V là tốc độ chu chuyển, tức là số lần trung bình mà một tờ giấy
bạc điển hình được suử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ trong một năm, và M là
cung tiền, thì số đơn vị tiền tệ trao đổi trong năm cần phải bằng M* V. Do vậy ta có
đồng nhất thức:
M* V= P* Y
Đó là phuơng trình số lượng, bởi vì nó phản ánh mối quan hệ giữa lượng tiền
cung ứng (M) và GDP danh nghĩa (P* Y). Phuơng trình số lượng cho thấy sự gia tăng
lượng tiền trong nền kinh tế phải được phản ánh ở một trong ba biến số khác: mức giá
phải tăng, sản lượng phải tăng, hoặc tốc độ chu chuyển tiền tệ phải giảm.
Nhìn chung tốc độ chu chuyển tiền tệ tương đối ổn định theo thời gian. Khi đó,

sáng tỏ cơ sở khoa học về phát triển và nâng cao hiệu quả ngành May mặc trong quá
trình công nghiệp hóa ở Việt Nam. Phân tích các yếu tố chủ yếu thuộc môi trường kinh
doanh ảnh hưởng đến ngành may, những giải pháp chiến lược nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh ngành May Việt Nam đến năm 2010.
* Một số cơ sở định hướng chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh của ngành
May Việt Nam đến năm 2010 của Võ Phước Tấn. Thư viện quốc gia: LA04.11107.
Nội dung tóm tắt: Tổng quan về ngành May Việt Nam, vị trí, lịch sử và sự phân bố sản
xuất trong nước vào ngành may Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân. Một số cơ sở
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Huệ - K43F4
11
Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kinh tế
chủ yếu để định hướng chiến lược phát triển ngành may và các giải pháp, kiến nghị
nhằm thực hiện định hướng chiến lược phát triển ngành May Việt Nam đến năm 2010.
* Lạm phát và hành trình chống lạm phát ở Việt Nam của TS. Lê Quốc Lý, XB
2005. Đây là cuốn sách hay với nội dung chủ yếu đề cập đến thực trạng và giải pháp
chống lạm phát ở Việt Nam. Ngoài ra, tác giả nêu kinh nghiệm chống lạm phát ở một
số nước Đông Nam Á như Lào, Thái Lan, Campuchia.
* Lạm phát và một số biện pháp kiềm chế lạm phát trong tình hình kinh tế xã
hội Việt Nam của Phạm Minh Tuấn. Nội dung tóm tắt: Tổng quan về lạm phát. Phân
tích diễn biến và nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử khác
nhau. Một số đề xuất, kiến nghị nhằm kiềm chế lạm phát ở Việt Nam.
* Nhận diện lạm phát ở Việt Nam và đối sách, đăng trên tạp chí nghiên cứu
kinh tế, số 1 năm 2009. Bài viết khắc họa rõ nét toàn cảnh lạm phát Việt Nam năm
2008. Từ đó đưa ra những giải pháp, chính sách cần triển khai phát triển nền kinh tế,
xã hội an toàn, bền vững trong những năm tới, cũng như ngăn ngừa những nguy cơ
lạm phát trở lại.
2.4. Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài
2.4.1. Tác động của lạm phát đến nền kinh tế
2.4.1.1. Tác động tích cực của lạm phát đến nền kinh tế , xã hội.
- Lạm phát có thể làm tăng trưởng kinh tế do phân phối lại thu nhập từ khu vực

được phân bổ một cách có hiệu quả, kết cục làm cho tăng trưởng chậm lại.
- Tính không chắc chắn của lạm phát là kẻ thù của tăng trưởng và đầu tư dài
hạn: Nếu các nhà đầu tư không biết chắc chắn hoặc không thể dự đoán được mức giá
cả trong tương lai, kéo theo là không thể biết được lãi suất thực thì không ai trong số
họ dám liều lĩnh đầu tư, nhất là các dự án đàu tư dài hạn mặc dù các điều kiện đầu tư
khác là khá hấp dẫn và ưu đãi. Tính không chắc chắn của mức độ lạm phát sẽ đẩy lãi
suất thực lên cao bởi chủ nợ muốn có sự đảm bảo cho sự rủi ro lớn. Mức lãi suất thực
cao này sẽ kìm hãm đầu tư và làm chậm tốc độ tăng trưởng.
- Lạm phát cao khuyến khích người dân quan tâm đến lợi ích trước mắt. Khi có
lạm phát cao xảy ra ở một nước, thay cho việc ký thác tiền trong ngân hàng để tìm
kiếm lợi nhuận, dân chúng có thể đổ xô đi mua hàng để dự trữ vì kỳ vọng giá còn tăng
nữa. Điều này vô hình làm tăng cầu hàng hoá một cách giả tạo và như vậy càng làm
cho lạm phát có nguy cơ bùng nổ đến mức độ cao hơn
- Lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội của quốc
gia. Chính phủ của các nước đã từng trải qua lạm phát cao đều cho rằng không kiểm soát
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Huệ - K43F4
13
Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kinh tế
được lạm phát là điều đáng sợ nhất. Toàn bộ hoạt động kinh tế bị méo mó, biến dạng
nghiêm trọng, gây tâm lý xã hội phức tạp và gây lãng phí ghê gớm trong sản xuất.
- Lạm phát cao làm giảm các nguồn thu từ thuế cho ngân sách nhà nước. Những
tác động làm giảm này xét trên cả hai phương diện trực tiếp và gián tiếp. Một mặt lạm
phát cao dẫn đến sản xuất bị đình đốn làm cho nguồn thu thuế bị giảm sút cả về mặt
quy mô và chất lượng. Mặt khác, lạm phát cao đồng nghĩa với sự mất giá của đồng
tiền do vậy, với cùng một số lượng tiền thu từ thuế thì giá trị nguồn thu thực tế của nó
giảm xuống khi có lạm phát cao.
- Khi lạm phát ở mức độ quá cao ( lạm phát phi mã hay siêu lạm phát) thì lại có
ảnh hưởng xấu đến các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân
Trong lĩnh vực sản xuất: Lạm phát làm cho giá cả vật tư, nguyên vật liệu, hàng
hoá tăng dẫn đến lợi nhuận ngày càng giảm sút và không chính xác. Vì mục tiêu của

đến chiến lược kinh doanh của họ dẫn đến doanh thu giảm. Trong cuộc khảo sát do
Công ty Dịch vụ thông tin tài chính WVB Việt Nam và Công ty cổ phần Đầu tư và Tư
vấn tài chính Dầu khí ( PVFC Invest ) tiến hành từ ngày 15/ 12/ 2010 đến đầu tháng 1/
2011 tại 233 doanh nghiệp thuộc 11 lĩnh vực ngành nghề chủ chốt của Việt Nam ( hơn
75% trong số đó là các doanh nghiệp đại diện cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ ) đã
rút ra kết luận trên. Cụ thể, chỉ còn 68,24% doanh nghiệp được hỏi tin rằng doanh thu
của doanh nghiệp mình sẽ tăng trong vòng 12 tháng tới; 27,9% các doanh nghiệp cho
rằng doanh thu của doanh nghiệp sẽ giữ nguyên; 3,86% các doanh nghiệp còn lại lo
ngại doanh thu sẽ giảm
Lạm phát tác động đến các loại chi phí khác nhau của doanh nghiệp ở mức độ
nào? Và doanh nghiệp có thể tăng giá sản phẩm lên bao nhiêu trong thời kì lạm phát? Để
trả lời những câu hỏi trên, có 4 yếu tố cần phải xem xét. Đó là: các điều khoản trong hợp
đồng của công ty, mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng, mức độ ảnh hưởng của
lạm phát đối với nhà cung cấp và khách hàng, và cuối cùng là mức độ cạnh tranh.
Trong bối cảnh lạm phát gia tăng, các hoạt động kinh doanh sẽ khó dự báo hơn
vì sự biến động giá cả đầu vào kinh doanh. Bên cạnh đó, có một thời gian chừng một
tháng, đồng nội tệ lên giá so với USD, gây ra hiệu ứng kép đối với việc tăng giá hàng
XK. Hiệu ứng này là nghi vấn đối với việc hạn chế năng lực XK của hầu hết các
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặc dù chúng ta cũng chưa có nghiên cứu hoặc thực chứng
để “quy kết” trách nhiệm hoàn toàn cho lạm phát, nhưng tác động có thể quan sát rõ.
Bên cạnh đó, hàng nhập khẩu cũng tăng mạnh, và là mối đe dọa thường trực với hàng
hóa tiêu thụ nội địa, đặc biệt với doanh nghiệp theo xu hướng “thay thế nhập khẩu”.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Huệ - K43F4
15
Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kinh tế
Lạm phát giảm lợi nhuận thu được trên thực tế trong khi các nhà quản lý cứ ngỡ
rằng công ty mình đang phát triển. Mức độ ảnh hưởng của lạm phát đến lợi nhuận của
công ty lớn hay nhỏ phụ thuộc vào hai yếu tố. Một là khả năng hạn chế sự tăng giá từ
phía nhà cung cấp. Hai là khả năng định giá sản phẩm cao hơn mà khách hàng vẫn chấp
nhận. Lạm phát cũng khiến mức đầu tư giảm và ảnh hưởng đến phân bổ tài nguyên. Giá

địa phương, 1 doanh nghiệp TW). Giá trị hàng may mặc xuất khẩu tăng nhanh hàng
năm. Hiện nay, một số doanh nghiệp đang triển khai các dự án may xuất khẩu như:
Công ty đầu tư Hà Nam, công ty Việt Anh… Theo như các doanh nghiệp may mặc
trên địa bàn tỉnh, đa số các doanh nghiệp may mặc hiện chỉ thực hiện gia công theo
đơn đặt hàng. Việc đảm bảo đúng giao hàng theo hợp đồng là hết sức quan trọng, đồng
thời, sản phẩm chủ yếu xuất khẩu nên cần đảm bảo chất lượng sản phẩm cao. Lạm
phát ảnh hưởng đến tổng quỹ lương của doanh nghiệp, các doanh nghiệp may mặc Hà
Nam phải chi trả nhiều hơn trong việc trả lương cho nhân viên, lạm phát tăng khiến
sức ép bị nghỉ việc cũng tăng.
Nhưng bên cạnh thuận lợi về nhân công thì ngành dệt may từ cuối năm 2010
bước sang năm 2011 đã gặp phải thách thức về giá cả nguyên liệu đầu vào do giá
nguyên liệu thế giới bất ổn. Giá bông nhập vào từ 3,18 USD/kg tăng lên 4,8 USD/kg,
có thời điểm tăng mạnh nhất là 5,2 USD/kg bông. Bên cạnh đó là lạm phát, tỷ giá biến
động mạnh khiến doanh nghiệp gặp rủi ro và thiệt hại lớn khi đơn giá hợp đồng xuất
khẩu sản phẩm đã được ký kết với khách hàng không tăng. Mặt khác, việc cung cấp
điện cho các vùng ven đô hoặc khu vực nông thôn, nơi tập trung nhiều nhà máy, xí
nghiệp lại thất thường. Điện phục vụ cho sản xuất không được duy trì, bình ổn như
khu vực thành thị nên các doanh nghiệp như dệt may gặp rất nhiều khó khăn và dự báo
khó có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng 20%. Mức lạm phát năm 2010 lên tới
11,75% không những đã và đang làm cho đời sống của những người làm công ăn
lương gặp vô vàn khốn khó mà còn gây ra rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Huệ - K43F4
17
Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kinh tế
CHƯƠNG III
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ
TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
MAY MẶC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM.

bằng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của hai công ty là công ty dệt Hà Nam và
công ty TNHH dệt may Hoàng Dũng.
+ Cách xử lý dữ liệu: từ những kết quả thu được ta chỉ chọn lọc lấy những số
liệu cần thiết phục vụ cho phân tích của đề tài.
3.1.2. Phương pháp xử lý, phân tích, tổng hợp số liệu.
Sau khi thu thập dữ liệu, tổng hợp và chọn lọc được những dữ liệu phù hợp, bắt
đầu tiến hành phân tích dữ liệu bằng cách sử dụng các phương pháp như sau:
Phương pháp thống kê, so sánh.
Phương pháp minh họa: bằng các biểu đồ, đồ thị.
Sử dụng phần mềm SPSS: Là một hệ thống phần mềm thống kê toàn diện được
thiết kế để thực hiện tất cả các bước trong phân tích thống kê, mô tả, xử lý dữ liệu
được thu thập trực tiếp từ các phiếu điều tra.
3.2. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường
3.2.1. Tình hình chung của kinh tế thế giới trong thời gian gần đây.
Bước sang năm 2010, tuy ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế đã tạm lắng nhưng
vẫn còn tiểm ẩn nhiều biến động, điển hình là khủng hoảng nợ công của Hi Lạp, các
nước Châu Âu như Tây Ban Nha, Ý và Bồ Đào Nha cũng đang đứng trước nguy cơ
tương tự và bong bóng tài sản ở Trung Quốc.
“Thời kỳ “đen tối” nhất của kinh tế thế giới gần như đã lùi lại đằng sau. Mặc dù còn
nhiều lo ngại, nhưng sự hồi phục kinh tế đang được hỗ trợ bởi chính sách tiền tệ và tài khoá
thông thoáng hơn. Chiến lược “hiện thực hoá lợi nhuận” đã và đang được áp dụng sớm ở
các nền kinh tế phát triển là một trong những rủi ro cho nền kinh tế toàn cầu.
Mặc dù thời kỳ đen tối nhất đã lùi lại đằng sau, nhưng nhà đầu tư vẫn còn lo ngại.
Điều này thể hiện ở việc: tăng trưởng kinh tế chậm ở Mỹ; sức cầu từ doanh nghiệp tăng
trưởng mạnh hơn và yếu hơn từ các hộ gia đình; tăng trưởng kinh tế Mỹ không còn được
hỗ trợ bởi việc điều chỉnh hàng tồn kho, chu kỳ kinh doanh có xu hướng dài hơn chu kỳ
hàng tồn kho và GDP được kéo bởi việc đầu tư vào nhà ở trong ngắn hạn
Các điều kiện thuận lợi được duy trì, đặc biệt với các nền kinh tế mới nổi và
đang phát triển. Chính sách tiền tệ thông thoáng hơn ở các nước phát triển có khả năng
lan rộng ra toàn cầu và bù đắp cho chính sách thắt chặt ở các nền kinh tế mới nổi và

* Năm 2007.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2007 là 8,48% . Theo số liệu của
Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2007 đã ghi nhận cán cân vãng lai thâm hụt ở mức
đáng lo ngại, ước khoảng 9,3% - 9,7% GDP. Tổng kim ngạch nhập khẩu tăng gần
40%, trong đó máy móc thiết bị tăng 56,5% do nhu cầu đầu tư của các dự án lớn trong
nước. Mức tăng nhập khẩu cũng cao tương tự đối với nhóm hàng nguyên nhiên vật
liệu dùng trong sản xuất hàng may mặc và giày dép xuất khẩu, hoá chất, sản xuất thức
ăn giá súc… ước tăng khoảng 40%.
Sự mở rộng mạnh mẽ nhu cầu chi tiêu, đầu tư tư nhân và công cộng là nhân tố
làm cho tổng cầu tăng nóng. Tổng đầu tư của toàn xã hội năm 2007 khoảng 493,6
nghìn tỷ đồng, chiếm 43% GDP với số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được phê duyệt
đạt 21,3 tỷ USD và vốn thực hiện đạt 6,4 tỷ USD, cao hơn 77% so với năm 2006.
Tổng cầu tăng nóng vượt quá khả năng của một nền kinh tế còn tồn tại nhiều vấn đề"
thắt cổ chai" liên quan tới hạ tầng kinh tế, xã hội và pháp luật đã làm gia tăng áp lực
lạm phát. Lạm phát năm 2007 ở mức cao 12,63%. Trong rổ 10 nhóm mặt hàng được
đưa ra tính chỉ số giá tiêu dùng, giá cả 10 nhóm này đều tăng; đặc biệt, nhóm hàng ăn
và dịch vụ ăn uống (tăng tới 4,24%), nhóm phương tiện đi lại - bưu điện ( tăng mạnh
nhất với 4,38% do tác động của tăng giá xăng). Các nhóm mặt hàng khác có mức tăng
từ 0,08-1,61%. Theo Tổng cục Thống kê, giá tiêu dùng tháng 12 tăng tới 2,91%,
không những cao nhất so với các tháng trong năm nay ( kể cả tháng 2 là tháng có Tết
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Huệ - K43F4
21
Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kinh tế
Nguyên Đán cũng chỉ tăng 2,17%), mà còn tăng cao nhất so với tốc độ tăng trong
tháng 12 của mười mấy năm qua.Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ, nhóm thực phẩm
(chiếm tỷ trọng lớn nhất trong "rổ" hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) giá tăng cao nhất
(tháng 12 tăng tới 4,69%, cả năm tăng tới 21,16%). Nhóm lương thực (nhóm chiếm tỷ
trọng lớn thứ hai trong "rổ" hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) có giá tăng cao thứ ba (tháng
12 tăng 2,98%, cả năm tăng 15,4%). Giá nhà ở và vật liệu xây dựng (gồm tiền thuê
nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng) tháng 12 tăng 3,28%, cả năm tăng tới

giá trị gia tăng chung của công nghiệp và xây dựng cả năm 2008 chỉ ở mức 7,3 –
7,5%. Đây được đánh giá là mức thấp nhất trong vòng 17 năm qua.
Giá tiêu dùng năm 2008 nhìn chung tăng khá cao và diễn biến phức tạp, khác
thường so với xu hướng tiêu dùng các năm trước. Giá tăng cao ngay từ quý I ( 2,64% )
và liên tục tăng lên trong quý II ( 2,75% ), đỉnh cao là tháng 5 trong quý II vì do giá
lương thực cao bất thường, giá gạo trong nước tăng 200% so với năm trước, quý III
( 0,96% ), CPI giảm nhẹ nhưng vẫn ở mức cao, nhưng các tháng quý IV liên tục giảm (
so với tháng trước, tháng 10 giảm 0,19%; tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12 giảm
0,68%), nên giá tiêu dùng trong tháng 12 năm 2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng
19,89% và chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tăng 22,97%.
* Năm 2009:
Năm 2009, suy thoái của kinh tế thế giới khiến sức cầu suy giảm, giá nhiều
hàng hóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế. CPI năm
2009 tăng 6.52%, thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây. Tuy vậy, mức tăng này
nếu so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới lại cao hơn khá nhiều. Trong 11
nhóm mặt hàng tính chỉ số giá tiêu dùng, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (nhóm có
quyền số cao nhất) tăng lên mức 2,06%, được xem là nguyên nhân chính ảnh hưởng
đến tốc độ tăng giá chung trong tháng 12. Trong đó, nhóm nhỏ hàng lương thực tăng
tới 6,88%; thực phẩm tăng 0,89% và ăn uống ngoài gia đình tăng 0,69%.
Bên cạnh đó, nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng cũng tăng mạnh tới 1,4% do giá sắt
thép, vật liệu xây dựng tiếp tục xu hướng tăng và thị trường bước vào mùa hoàn thiện
công trình xây dựng. Các nhóm hàng đồ uống, thuốc lá tăng 0,97%; nhóm may mặc,
mũ nón, giày dép tăng 0,81%
Duy nhất trong 11 nhóm mặt hàng tính CPI, nhóm bưu chính viễn thông giảm
0,11% so với tháng 11.Tính chung cả năm, giá các mặt hàng ăn và dịch vụ ăn uống
tăng 8,71%; đồ uống - thuốc lá tăng 9,56% và may mặc - giày dép 8,87%
* Năm 2010:
Ngày 30-12, Bộ Công thương đã thông báo kết quả hoạt động xuất khẩu năm
2010 với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 71,63 tỷ USD, tăng 25,5% so với mức thực
hiện năm 2009, đồng thời là mức tăng trưởng cao, vượt xa chỉ tiêu Quốc hội đề ra.

Năm 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Giá trị 3,609 4,368 4,838 5,83 7,78 9,1 9,2 11,2 13
Nguồn: Tổng cục thống kê: www.vinatex.com.vn
Từ bảng số liệu trên ta có biểu đồ kim ngạch xuất khẩu dệt may của nước ta:
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Huệ - K43F4
24
Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kinh tế
Hình 3.3: Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam.
Trong số các thị trường truyền thống, Hoa Kỳ vẫn duy trì ngôi vị thị trường
xuất khẩu hàng đầu của dệt may Việt Nam và đạt 2,217 tỷ USD trong 5 tháng đầu
năm, tăng 23,8% so với cùng kỳ 2009 (tăng 426 triệu USD về số tuyệt đối); tiếp đến là
thị trường Nhật Bản cũng tăng khoảng 12%. Bên cạnh các thị trường truyền thống,
thời gian qua, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang các thị trường mới như Đài
Loan, Hàn Quốc và các thị trường khu vực ASEAN đều có mức tăng đáng kể. Với
mức tăng trưởng này, sản phẩm dệt may của Việt Nam hiện chiếm khoảng 2,7% thị
phần sản phẩm dệt may trên thị trường thế giới. Riêng tại thị trường Mỹ và Nhật Bản,
Việt Nam chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc với thị phần tương ứng là 7,4% và 4%.
Một số thị trường mới mở như Châu Phi- mặc dù có nhu cầu lớn, nhưng hàng dệt may
Việt Nam chưa thâm nhập được bao nhiêu do rủi ro về thanh khoản, hệ thống thanh
toán qua ngân hàng chưa đủ độ tin cậy, chi phí đi lại tốn kém.
3.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành dệt may
* Ảnh hưởng của môi trường vĩ mô đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp may mặc:
Môi trường kinh tế.
Môi trường kinh tế liên quan đến các vấn đề như các vấn đề về tăng trưởng, thu
nhập quốc dân, thất nghiệp… ảnh hưởng một cách gián tiếp cho việc mở rộng thị
trường tiêu thụ cho các sản phẩm. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tạm lắng, nhiều
ngành sản xuất đang trên đà hồi phục. Tuy nhiên, các DN may mặc xuất khẩu vẫn tiếp
tục chịu nhiều tác động bất lợi.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Huệ - K43F4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status