Luận văn Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh ở công ty cổ phần tư vấn xây dựng Sông Đà doc - Pdf 15



………… o0o…………
Luận văn
Thực trạng và giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả đầu
tư nâng cao năng lực sản
xuất kinh doanh ở
công ty cổ phần tư vấn xây
dựng Sông Đà
LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu sự chuyển mình
của nền kinh tế Việt Nam. Đất nước ta chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế
từ cơ chế hành chính, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường
có sự quẩn lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo cơ
chế mới này tất cả các thành phần kinh tế đều được tự do phát triển, tự
mình tìm thị trường kinh doanh, tự hạch toán kinh doanh, mở rộng thị
trường của mình. Nếu doanh nghiệp nào làm ăn có lãi, có chỗ đứng trên
thị trường thì sẽ tồn tại, nếu doanh nghiệp nào làm ăn thua lỗ thì sẽ bị đào

liệu tham khảo khác. Chuyên đề của em đã phân tích và đánh giá thực
trạng công tác đầu tư nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh tại công ty
CP tư vấn xây dựng Sông Đà, từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn
thiện và nâng cao chất lượng hoạt động đầu tư của công ty.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết câu chuyên đề gồm 3 chương:
*ChươngI: Lí luận chung về đầu tư, đầu tư phát triển và sự cần thiết
phải đầu tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
*ChươngII: Thực trạng hoạt động đầu tư nâng cao năng lực sản xuất
kinh doanh của công ty CP tư vấn xây dựng Sông Đà.
*ChươngIII: Mục tiêu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt
động đầu tư tại công ty CP tư vấn xây dựng Sông Đà.
Do trình độ nhận thức còn có hạn, thời gian thực tập tại công ty
không nhiều, những thiếu sót xuất hiện trong chuyên đề này là điều
không tránh khỏi. Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy
cô cùng các cô, chú và các anh, chị trong công ty để chuyên đề này được
hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 7

tháng 5 năm 2005.
Sinh viên thực hiện
Hoàng Tuấn Khanh Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ, ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ
SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH
I- Đầu tư và đầu tư phát triển :

thể tiếp nhận công nghệ ngày càng hiện đại, góp phần nâng cao trình độ
công nghệ và kĩ thuật của nền sản xuất quốc gia.
Loại đầu tư đem lại các kết quả không chỉ cho người đầu tư mà cả
nền kinh tế xã hội được hưởng thụ trên đây, không chỉ trực tiếp làm tăng
tài sản của người chủ đầu tư mà cả của nền kinh tế xã hội chính là đầu tư
phát triển. Ngoài ra, còn có các loại hình đầu tư khác mà chỉ làm tăng tài
sản, lợi ích của cá nhân người đầu tư và không làm tăng tài sản và lợi ích
cho toàn bộ nền kinh tế, đó chính là đầu tư tài chính và đầu tư thương
mại. Tuy nhiên, do đặc điểm của đầu tư phát triển nên đây cũng là loại
đầu tư quyết định trực tiếp sự phát triển của xã hội, là chìa khoá của sự
tăng trưởng, là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và tiếp tục phát
triển của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.
2. Đầu tư phát triển:
Đầu tư phát triển chính là một phạm trù hẹp của đầu tư chỉ những
hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế
xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để
đạt được các kết quả đó. Nghĩa là, người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành
các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực
sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu
để tạo việc làm nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó
chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ
tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên bệ và bồi dưỡng đào tạo
nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt
động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở
đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội. Xét trong phạm
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
vi quốc gia thì đó là những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để
trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và tài sản trí tuệ,
hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có.
Trên giác độ tài chính thì đầu tư phát triển chính là quá trình chi

kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản của
người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu
hàng hoá giữa người bán và người đầu tư và người đầu tư với khách hàng
của họ. Tuy nhiên, đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu
thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư
phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản
xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung(
Chúng ta cần lưu ý là đầu cơ trong kinh doanh cũng thuộc đầu tư thương
mại xét về bản chất, nhưng bị pháp luật cấm vì gây ra tình trạng thừa
thiếu hàng hoá một cách giả tạo, gây khó khăn cho việc quản lí lưu thông
phân phối, gây mất ổn định cho sản xuất, làm tăng chi phí của người tiêu
dùng).
1.3. Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động:
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các
hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản
xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để
tạo ra việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó là
việc bỏ tiền ra xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua
sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn
nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động
của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang
tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội. Loại đầu tư này được
gọi chung là đầu tư phát triển.
Trên giác độ tài chính thì đầu tư phát triển là quá trình chi tiêu để
duy trì sự phát huy tác dụng của vốn cơ bản hiện có và bổ sung vốn cơ
bản mới cho nền kinh tế, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển
kinh tế xã hội trong dài hạn.
2. Theo thời hạn đầu tư, hoạt động đầu tư phát triển được phân
thành các loại sau:
2.1. Đầu tư dài hạn:

Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
so với đầu tư dài hạn. Đầu tư ngắn hạn không yêu cầu phải huy động một
khối lượng vốn đầu tư lớn và một số lượng nhân lực nhiều nhưng đòi hỏi
những nhà quản lí của doanh nghiệp phải có một cái nhìn, một phản ứng
nhanh nhạy đối với thị trường trong mỗi sự biến động của thị trường.
Đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn bổ sung những khuyết điểm của
nhau và tạo cho sự phát triển thông thoáng nhanh nhạy của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường đầy biến động. Các kế hoạch đầu tư tạo cho
doanh nghiệp hoạt động một cách trơn tru và phản ứng tốt với biến động
của thị trường.
III- Vai trò của hoạt động đầu tư :
Từ việc xem xét bản chất của đầu tư phát triển, các lí thuyêt kinh
tế, cả lí thuyết kinh tế kế hoạch hoá tập trung và lí thuyết kinh tế thị
trường đều coi đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh
tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng.
1. Tác động của đầu tư phát triển trên giác độ toàn bộ nền kinh tế
của đất nước :
Đối với một nền kinh tế, hoạt động đầu tư có một ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, nó không chỉ đóng vai trò trong quá trình tái sản xuất của xã
hội mà còn tạo ra những cú hích cho sự phát triển của nền kinh tế ở
những nước đang phát triển thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nợ nần và
nghèo đói, tạo ra sự phát triển của các nền kinh tế phát triển.
a.Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu:
- Về mặt cầu:
Đầu tư là một yếu tố chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ
nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm
khoảng 24% -28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới.
Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Với tổng cung chưa
kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng (đường D dịch
chuyển sang D’) kéo sản lượng cân bằng tăng theo từ Q

tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng
cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.

b. Đầu tư tác động đến sự ổn định của nền kinh tế theo 2 mặt:
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với
tổng cầu và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi
của đầu tư, dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự
ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.
Chẳng hạn, khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố của đầu tư tăng làm
cho giá của các hàng hoá có liên quan tăng( giá chi phí vốn, giá công
nghệ, lao động, vật tư) đến một mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm
phát. Đến lượt mình, lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống của
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
người lao động gặp nhiều khó khăn do tiền lương ngày càng thấp hơn,
thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại. Mặt khác, tăng đầu tư
làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các nghành
này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng
cao đời sống của người lâo động, giảm tệ nạn xã hội. Tất cả các tác động
này tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế.
Khi giảm đầu tư( như Việt Nam thời kì 1982-1989) cũng dẫn đến
tác động 2 mặt, nhưng theo chiều hướng ngược láio với tác động trên đây.
Vì vậy, trong điều hành vĩ mô nền kinh tế, các nhà hoạch định chính sách
cần thấy hết tác động hai mặt này để đưa ra các chính sách nhằm hạn chế
các tác động xấu, phát huy tác động tích cực, duy trì được sự ổn định của
toàn bộ nền kinh tế.
c. Đầu tư tác động đến sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế:
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con dường tất yếu
có thể tăng trưởng nhanh tốc độ mong muốn ( từ 9-10% ) là tăng trưởng
đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối
với các nghành nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và các

ICOR = =
GDP do vốn tạo ra

GDP
Từ đó suy ra:

Vốn đầu tư
Mức tăng GDP =
ICOR

Nếu ICOR không đổi, mức tăng trưởng của GDP hoàn toàn phụ
thuộc vào vốn đầu tư.
Ở các nước phát triển, ICOR thường lớn, từ 5-7 do thừa vốn, thiếu
lao động, vốn được sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng
công nghệ hiện đại có giá cao. Còn ở các nước chậm phát triển ICOR
thấp từ 2-3 do thiếu vốn, thừa lao động nên có thể và cần phải sử dụng
lao động để thay thế cho vốn do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ.
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi
theo trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước. Số liệu
thống kê trong những năm qua của các nước và lãnh thổ về ICOR như
sau:
CHỈ TIÊU ICOR CỦA CÁC NƯỚC
Các nước Thời kì
1963-1973
Thời kì
1973-1981
Thời kì
1981-1988
Hồng Kông 3,6 3,4 3,9

IV- Vốn đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư:
1. Vốn đầu tư:
Vốn đầu tư là khái niệm dùng để chỉ các nguồn lực hiện tại chi
dùng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu về một nguồn lực
mới có khối lượng và giá trị lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra. Đối với đầu tư
phát triển nói riêng thì vốn đầu tư chính là các khoản tiền, khoản của cải
vật chất, nguyên nhiên vật liệu và hàng hoá chi dùng cho hoạt động sản
xuất kinh doanh để thu về khoản lợi nhuận lớn hơn trong tương lai.
Đối với một doanh nghiệp thì vốn đầu tư xuất hiện từ khi doanh
nghiệp còn chưa hình thành và sẽ tiếp tục phát triển đến khi nào doanh
nghiệp dừng hoạt động. Hiện nay, vốn đầu tư là một trong những nhân tố
tiên quyết trong sự phát triển của bất kì một doanh nghiệp nào
2. Nguồn vốn đầu tư :
Nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và
phân phối cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của Nhà
nước và của xã hội. Nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong
nước và vốn đầu tư nước ngoài.
Xét về bản chất thì nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết
kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá
trình tái sản xuất xã hội.
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
3. Các nguồn huy động vốn:
3.1. Vốn trong nước :
a. Nguồn vốn Nhà nước:
Bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng
đầu tư phát triển của Nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh
nghiệp Nhà nước .
-Nguồn vốn ngân sách Nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân
sách Nhà nước cho đầu tư. Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Đây chính là

ta là tiết kiệm dành những khi gặp rủi ro, nên lượng vốn này tích luỹ
trong dân còn chưa được khai thác triết để, chưa được huy động một
cách tích cực để bù đắp nhu cầu về vốn của nền kinh tế đất nước. Mấy
năm gần đây, khi nền kinh tế có những bước phát triển khả quan, các
doanh nghiệp tư nhân càng ngày càng được tự do hơn trong hoạt động
nên hoạt động đầu tư trong khu vực tư nhân ngày càng gia tăng, vốn
trong dân cũng được sử dụng một cách có hiệu quả hơn.
c.Thị trường vốn:
Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển
kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường. Đây là kênh bổ sung chủ
yếu các nguồn vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư bao gồm cả Nhà
nước và các loại hình doanh nghiệp, là cái van điều tiết hữu hiệu các
nguồn vốn từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nới sử dụng có hiệu quả
hơn. Trên thị trường vốn, bất kì các khoản vốn sử dụng nào cũng đều phải
trả gia, vì vậy các chủ đầu tư muốn sử dụng vốn phải cân nhắc kĩ lưỡng
về hiệu quả đầu tư và việc sử dụng tiết kiệm các nguồn vốn huy động từ
thị trường vốn.
3.2. Nguồn vốn nước ngoài:
- Vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các
chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu tài trợ các nước đang phát
triển. Đây chính là nguồn vốn mang tính ưu đãi nhiều nhất đối với các
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
nước đi vay, ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài,
khối lượng vốn lớn, bao giờ ODA cũng có thêm yếu tố không hoàn lại đạt
ít nhất 25%.
- Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại, tuy không có
lãi suất ưu đãi và dễ dàng như nguồn vốn ODA, nhưng nó lại có ưu điểm
là không gắn với các ràng buộc về chính trị xã hội. Vì lãi suất cao và
không dễ dàng để có thể vay nguồn vốn này nên nguồn vốn này thường
chỉ được sử dụng trong việc đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thường

theo tính chất và kết quả cuối cùng của hoạt động đầu tư đem lại cho nhà
đầu tư.
4.1. Đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư:
Hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu
phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống
của người lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên cơ
sở số vốn đầu tư mà cơ sở đã sử dụng so với các kì khác, các cơ sở khác
hoặc so với định mức chung.
Các kết quả mà cơ sở thu được do thực hiện đầu tư
E
tc
=
Số vốn đầu tư mà cơ sở đã thực hiện để tạo ra các kết quả trên

E
tc
được coi là hiệu quả khi E
tc


E
tc0

Trong đó: E
tc
- Chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc của các kì
khác mà cơ sở đã đạt được chọn làm cơ sở so sánh, hoặc của đơn vị khác
đã đạt tiêu chuẩn hiệu quả.
4.1.1.Để đánh giá hiệu quả tài chính của một dự án người ta sử dụng
hệ thống chỉ tiêu sau:





0v
I
NPV
npv
.
Trong đó:
- I
vo
- Vốn đầu tư tại thời điểm hiện tại( dự án bắt đàu hoạt động).
- W
ipv
- Lợi nhuận thuần năm i tính chuyển về thời điểm hiện tại.
- NPV- Thu nhập thuần tính chuyển về thời điểm hiện tại.
c. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn tự có (r
E
):
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thuần từng năm tính trên 1 đơn vị
vốn tự có bình quân của năm đó.
r
E
=
i
i
E
W


W
O

Trong đó: O
i
- Doanh thu thuần năm i
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
W
ci
- Vốn lưu động bình quân nămi của dự án.
Hoặc:
pv
pv
Wc
Wc
O
L 
Trong đó:
pv
O - Doanh thu thuần bình quân năm i của dự án.

pv
Wc - Vốn lưu động bình quân của cả đời dự án.
e. Chỉ tiêu tỷ số lợi ích- chi phí ( B/C ):
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ số giữa lợi ích thu được với chi phí phải
bỏ ra, dự án có hiệu quả khi B/C

1. Dự án không có hiệu quả khi B/C



i
=
vevrvb
m
j
j
III
W










1
=
i
m
j
j
Ivhd
W





- Vốn đầu tư thực hiện nhưng chưa phát huy tác dụng ở đầu năm của
doanh nghiệp.
I
vr
- Vốn đầu tư thực hiện trong năm của doanh nghiệp.
I
ve
- Vốn đầu tư chưa phát huy tác dụng ở cuối năm của doanh nghiệp.
+ Tính bình quân:

RR
=
vhdpv
pv
I
W

vhdpv
I - Vốn đầu tư được phát huy tác dụng bình quân năm của thời kì
nghiên cứu được tính theo cùng mặt bằng với lợi nhuận thuần.
pv
W - Lợi nhuận bình quân năm của kỳ nghiên cứu tính theo giá trị ở mặt
bằng hiện tại của tất cả các dự án hoạt động trong kì.
b. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời tăng thêm của vốn tự có của doanh nghiệp do
đầu tư từng năm (
Ei
r ) hoặc bình quân năm thời kì nghiên cứu (
t
E
r

WCt
L
) thời kì nghiên cứu:


L
Wci
=(
WCi
L -
1WCi
L )K > 0

WCt
L
=(
WCt
L -
1WCt
L )K > 0
d. Chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn đầu tư giảm kỳ nghiên cứu(t ) so với kỳ
trước( t-1):

T

= (T
t
- T
t-1
)K < 0


1
< 0
f. Chỉ tiêu tăng năng suất lao động của doanh nghiệp từng năm hoặc bình
quân năm thời kì ngiên cứu so với trước thời kì do đầu tư:


E
Li
= (E
Li
- E
Li-1
)K > 0


Lt
E
= (
Lt
E
-
1Lt
E
)K > 0
Trong đó:

Lt
E
- Mức tăng năng suất lao động bình quân năm thời kì t so với thời

Nhà nước đã trở thành rào cản rất lớn đối với quá trình giải ngân vốn đầu
tư hoặc giải phóng mặt bằng xây dựng làm cho các công ty xây dựng
nhiều khi bị ứ đọng vốn tại các công trình, tạo ra sự thất thoát lớn về vốn.
Đây chính là những điều kiện bất lợi mà môi trường pháp lí có thể gây ra
cho các công ty xây dựng, vấn đề này cần phải được giải quyết sớm thì
mới tạo sức hút đầu tư đối với các nhà đầu tư xây dựng và các công ty
xây dựng nói riêng.
1.2. Môi trường kinh tế:
Các nhân tố kinh tế có vai trò quyết định trong việc hoàn thiện môi
trường kinh doanhvà ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp.
Môi trường kinh tế là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng.
Môi trường kinh tế vừa tạo ra các cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp,
vừa có thể là nhân tố đầu tiên và chủ yếu trong việc chấm dứt hoạt động
của doanh nghiệp nếu định hướng và hoạt động của doanh nghiệp không
tuân theo quy luật phát triển của nó. Đây chính là nhân tố tác động trực
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
tiếp nhất đến định hướng kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp. Do
đó, khi đưa ra một chiến lược đầu tư cho doanh nghiệp mình, các nhà
lãnh đạo doanh nghiệp đều phải phân tích kĩ càng các biến động của môi
trường kinh tế mà doanh nghiệp mình tham gia.
1.3. Môi trường khoa học công nghệ:
Sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ trên thế giới làm
cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngày càng phải đầu tư thay
đổi mới công nghệ mới. Sự thay đổi nhanh chóng đó đã làm cho tuổi thọ
của các thiết bị kĩ thuật ngày càng phải rút ngắn do công nghệ kĩ thuật
của chúng theo thời gian ngày càng không đáp ứng đáp ứng được với đòi
hỏi của thị trường và thời đại. Vì vậy trong định hướng đầu tư của doanh
nghiệp phải có sự suy xét chu đáo, lựa chọn các loại máy móc sao cho
vừa phù hợp với trình độ phát triển và yêu cầu của thời đại vừa phù hợp

hàng đã trở thành nhân tố quyết định sự sống còn của chính doanh
nghiệp. Vì vậy, khách hàng chính là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến
các kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp, là nhân tố định hướng cho việc
đầu tư của doanh nghiệp.
2.3. Cơ sở vật chất của doanh nghiệp:
Cơ sở vật chất của doanh nghiệp là yếu tố không thể thiếu trong
hoạt động của mỗi doanh nghiệp, là nền tảng cho quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Cùng với thời gian và sự phát triển mạnh mẽ
của nền khoa học kĩ thuật hiện đại, cơ sở vật chất của doanh nghiệp cũng
ngày càng bị mài mòn, hỏng hóc hoặc không phù hợp để chế tạo ra các
sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thời đại. Do đó, doanh nghiệp muốn
mở rộng sản xuất và hiện đại hoá sản phẩm của doanh nghiệp mình thì
trong chiến lược đầu tư phải chú trọng cả việc hiện đại hoá và mở rộng cơ
sở vật chất kĩ thuật phù hợp với định hướng sản xuất kinh doanh.
2.4. Các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp:
Trong một môi trường kinh tế phát triển mạnh và luôn biến động
như hiện nay, các doanh nghiệp luôn luôn bị đe doạ bởi các nguy cơ tiềm

Trích đoạn Cỏc giải phỏp: Kết luận: Nhúm kiến nghị về cơ chế chớnh sỏch: Nhúm kiến nghị với cụng ty:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status