Đầu tư nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh ở công ty cổ phần tư vấn xây dựng Sông Đà - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu sự chuyển mình
của nền kinh tế Việt Nam. Đất nước ta chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế
từ cơ chế hành chính, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường
có sự quẩn lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo cơ
chế mới này tất cả các thành phần kinh tế đều được tự do phát triển, tự
mình tìm thị trường kinh doanh, tự hạch toán kinh doanh, mở rộng thị
trường của mình. Nếu doanh nghiệp nào làm ăn có lãi, có chỗ đứng trên
thị trường thì sẽ tồn tại, nếu doanh nghiệp nào làm ăn thua lỗ thì sẽ bị đào
thải khỏi thị trường.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, môi trường kinh
doanh luôn biến động không ngừng cùng với sự thay đổi nhanh chóng
của khoa học kĩ thuật thì các doanh nghiệp luôn phải tìm cách tự đổi mới,
hoàn thiện mình cả về trình độ, năng lực, kinh nghiệm và hiện đại hoá
công nghệ. Do đó, hoạt động đầu tư nâng cao năng lực sản xuất kinh
doanh trong mỗi doanh nghiệp đã trở thành mối ưu tiên quan trọng trong
định hướng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Sông Đà là một doanh nghiệp
Nhà nước, hoạt động trong lĩnh vực tư vấn giám sát, khảo sát thiết kế xây
dựng, phục vụ thi công những công trình thuỷ điện, thuỷ lợi và các công
trình xây dựng công cộng. Sản phẩm của công ty là các bản vẽ thiết kế kĩ
thuật của các công trình, các hạng mục công trình và các con số khảo sát,
đặc điểm về chất đất, các kết luận thí nghiệm…. Đây là những sản phẩm
chứa hàm lượng chất xám lớn, sản phẩm có chính xác, có phù hợp với
thiết kế kĩ thuật hiện đại hay không đều phụ thuộc rất nhiều vào trình độ,
năng lực, kinh nghiệm của cán bộ công nhân viên làm công tác khảo sát,
thí nghiệm, thiết kế, tư vấn của công ty cùng với độ chính xác , hiện đại
của trang thiết bị máy móc thí nghiệm khảo sát. Do đó, đầu tư nâng cao
năng lực sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ ở công ty có vai trò
quan trọng trong chiến lược sản xuất kinh doanh.
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A

Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ, ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ
SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH
I- Đầu tư và đầu tư phát triển :
1. Đầu tư:
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành
các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả
đó. Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả
lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh
chịu khi tiến hành đầu tư.
Các nguồn lực phải hy sinh cho hoạt động đầu tư có thể là tiền , tài
nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ của con người.
Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính
(tiền vốn), tài sản vật chất( nhà xưởng, đường xá, bệnh viện, trường
học…), tài sản trí tuệ( trình độ văn hoá, chuyên môn, quản lí, khoa học kĩ
thuật...) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao
động cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Trong những kết quả đạt được trên đây, những kết quả trực tiếp của
sự hy sinh các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm
có vai trò quan trọng trong mọi lúc mọi nơi, không chỉ với người bỏ vốn
mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế. Những kết quả này không chỉ người
đầu tư mà cả nền kinh tế xã hội được thụ hưởng. Chẳng hạn một nhà máy
được xây dựng, tài sản vật chất của người đầu tư trực tiếp tăng thêm,
đồng thời tài sản vật chất, tiềm lực sản xuất của nền kinh tế cũng được
tăng thêm.
Lợi ích trực tiếp do sự hoạt động của nhà máy này đem lại cho
người đầu tư là lợi nhuận còn cho nền kinh tế là thoả mãn nhu cầu tiêu

đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội. Xét trong phạm
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
vi quốc gia thì đó là những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để
trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và tài sản trí tuệ,
hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có.
Trên giác độ tài chính thì đầu tư phát triển chính là quá trình chi
tiêu để duy trì sự phát huy tác dụng của vốn cơ bản hiện có và bổ sung
vốn cơ bản mới cho nền kinh tế, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát
triển xã hội trong dài hạn.
II- Phân loại và tác động của các hoạt động đầu tư phát triển trong sản
xuất kinh doanh:
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư tuỳ theo bản chất , phạm
vi lợi ích do hoạt động đầu tư đem lại, tuỳ theo thời hạn đầu tư, phương
thức đầu tư.
1. Theo bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại chúng ta có thể
phân biệt đầu tư thành các dạng sau:
1.1. Đầu tư tài chính:
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền cho vay hoặc mua các
chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước ( gửi tiết kiệm, mua trái
phiếu Chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty phát hành( mua cổ phiếu hoặc trái phiếu công ty).
Đầu tư tài sản tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế quốc
dân( nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm
tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư (đánh bạc, đánh
đề...cũng là một hình thức đầu tư tài chính nhưng không được pháp luật
cho phép do gây nên các tệ nạn xã hội). Với sự hoạt động của hình thức
đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng, khi cần có
thể rút ra một cách nhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái phiếu,
cổ phiếu cho người khác). Điều đó khuyến khích người có tiền bỏ ra để
đầu tư. Để giảm độ rủi ro, họ có thể đầu tư vào nhiều nơi, mỗi nơi một ít

duy trì sự phát huy tác dụng của vốn cơ bản hiện có và bổ sung vốn cơ
bản mới cho nền kinh tế, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển
kinh tế xã hội trong dài hạn.
2. Theo thời hạn đầu tư, hoạt động đầu tư phát triển được phân
thành các loại sau:
2.1. Đầu tư dài hạn:
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
Là kế hoạch đầu tư mang tính chất lâu dài, định hướng sự phát
triển của công ty, thường kế hoạch đầu tư dài hạn có thời gian đầu tư từ
10 năm trở nên và có quy mô thường to lớn. Do có thời hạn đầu tư dài và
mang ý nghĩa định hướng lâu dài trong chiến lược phát triển của doanh
nghiệp nên đầu tư dài hạn có khối lượng tài sản số lượng lao động huy
động là rất lớn.
Đầu tư dài hạn là hoạt động chủ yếu nhằm xây dựng cơ sở vật chất
lâu dài cho nền kinh tế, cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Đồng thời
dựa trên các mục tiêu kế hoạch của đầu tư dài hạn, doanh nghiệp, nền
kinh tế sẽ đào tạo xây dựng được một đội ngũ cán bộ công nhân viên kĩ
thuật, cán bộ quản lí có trình độ cao hơn. Thông qua các kế hoạch dài
hạn, doanh nghiệp sẽ có chiến lược mở rộng thị trường, xây dựng thương
hiệu cho mình. Kế hoạch đầu tư dài hạn đòi hỏi những người lập kế
hoạch đầu tư dài hạn của công ty phải rất cẩn thận và có tầm nhìn chiến
lược thật tốt nếu không sẽ làm cho kế hoạch đầu tư không được thành
công và kéo theo là sự sụp đổ của doanh nghiệp hoặc làm cho doanh
nghiệp không thể phát triển được. Do thời hạn của đầu tư dài hạn là rất
dài so với sự thay đổi của tình hình phát triển của nền kinh tế thị trường
nên bên cạnh các kế hoạch đầu tư dài hạn có tính chất định hướng, doanh
nghiệp còn luôn luôn phải đề ra những kế hoạch ngắn hạn nhằm từng
bước hiện thực hoá kế hoạch đầu tư dài hạn, tránh sự phát triển lệch lạc
và bám sát hơn với sự phát triển của nền kinh tế.
2.2. Đầu tư ngắn hạn:

- Về mặt cầu:
Đầu tư là một yếu tố chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ
nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm
khoảng 24% -28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới.
Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Với tổng cung chưa
kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng (đường D dịch
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
chuyển sang D’) kéo sản lượng cân bằng tăng theo từ Q
0
-Q
1
và giá cả của
các đầu vào của đầu tư tăng từ P
0
-P
1
. Điểm cân bằng dịch chuyển từ E
0
-
E
1
.
-Về mặt cung:
Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi
vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng
lên( đường S dịch chuyển sang S’), kéo theo sản lượng tiềm năng tăng từ
Q
0
-Q
1

toàn bộ nền kinh tế.
c. Đầu tư tác động đến sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế:
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con dường tất yếu
có thể tăng trưởng nhanh tốc độ mong muốn ( từ 9-10% ) là tăng trưởng
đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối
với các nghành nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và các
khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5-6% là rất khó
khăn. Như vậy, chính đầu tư quyết định quá trình dịch chuyển cơ cấu
kinh tế ở các nước nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ
nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân
đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kếm phát triển
thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về
tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị... những vùng có khả năng phát triển
nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
d. Đầu tư làm tăng khả năng khoa học và công nghệ của đất nước :
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, đầu tư là điều kiện
tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước
ta hiện nay. Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công
nghệ của Việt Nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Theo
UNIDO, nếu chia quá trình phát triển công nghệ thế giới thành 7 giai
đoạnthì Việt Nam đang là một trong 90 nước kém nhất về công nghệ. Với
trình độ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá của Việt Nam
sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra được một chiến lược đầu tư
phát triển công nghệ nhanh và vững chắc.
Chúng ta đều biết rằng có 2 con đường cơ bản để có công nghệ là
tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài.
Dù là sự nghiên cứu hay nhập từ nước ngoài đều cần phải có tiền, cần
phải có vốn đầu tư. Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn với

1973-1981
Thời kì
1981-1988
Hồng Kông 3,6 3,4 3,9
Hàn Quốc 2,0 4,0 2,8
Singapo 3,1 5,0 7,0
Đài Loan 1,9 3,7 2,8
Nguồn : Bela Balassa, Policy Choices in the Newly Industrializing
Contries . Working papers of the Wold Bank WPS 432.1990,tr.5
2. Đầu tư tác động đến các cơ sở sản xuất kinh doanh:
Đối với mỗi doanh nghiệp thì đầu tư có vai trò quyết định dến cả
sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Khi tạo dựng cơ sở vật chất
kĩ thuật cho sự ra đời của bất kì cơ sở nào cũng cần phải xây dựng nhà
xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ,
tiến hành công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền
với sự hoạt động trong một chu kì của các cơ sở vật chất kĩ thuật vừa
được tạo tạo ra. Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư. Đối với các
cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian hoạt
động, các cơ sở vật chất kĩ thuật của các cơ sở này đã hao mòn, hư hoảng.
Để duy trì dc sự hoạt động bình thường cần định kì tiến hành sửa chữa
lớn hoặc thay mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát
triển khoa học kĩ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải
mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi
thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư.
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
3. Đối với các cơ sở vô vị lợi ( hoạt động không thể thu lợi nhuận cho
bản thân mình) :
Để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớn định kì các
cơ sở vật chất- kĩ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên. Tất
cả những hoạt động và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư.

nghiệp Nhà nước .
-Nguồn vốn ngân sách Nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân
sách Nhà nước cho đầu tư. Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Đây chính là
nguồn vốn dùng để đầu tư xây dựng các công trình công cộng, các hạng
mục công trình an ninh quốc phòng và đầu tư cho các cơ sở phúc lợi xã
hội... Nguồn vốn này được hình thành chủ yếu từ nguồn thu của ngân
sách Nhà nước thông qua việc thu thuế, bán tài nguyên, thu lệ phí...
-Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Nền kinh tế đất
nước càng phát triển thì vốn tín dụng của Nhà nước càng đóng vai quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Nguồn vốn này có tác
dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của Nhà
nước. Với cơ chế này, các đơn vị sử dụng phải đảm bảo nguyên tắc hoàn
trả vốn vay, vì vậy đòi hỏi các chủ đầu tư phải cân nhắc kĩ hiệu quả đầu
tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Thông qua nguồn vốn này, Nhà nước thực
hiện việc quản lí và điều tiết kinh tế vĩ mô, thực hiện việc khuyến khích
phát triển kinh tế của các ngành, các vùng, miền. Góp phần tích cực trong
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại
hoá.
-Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Nhà nước: Các doanh nghiệp Nhà
nước là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế nước ta, do vậy, các doanh
nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng lớn vốn. Đây chính là
nguồn vốn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế theo định
hướng của Đảng và Nhà nước. Hiện nay, với chủ trương tiếp tục dổi mới
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này
ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà nước
ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của
toàn xã hội.
b. Nguồn vốn từ khu vực tư nhân:

lãi suất ưu đãi và dễ dàng như nguồn vốn ODA, nhưng nó lại có ưu điểm
là không gắn với các ràng buộc về chính trị xã hội. Vì lãi suất cao và
không dễ dàng để có thể vay nguồn vốn này nên nguồn vốn này thường
chỉ được sử dụng trong việc đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thường
là ngắn hạn. Đối với nguồn vốn này hiện nay đối với Việt Nam vẫn còn
khá hạn chế.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI ) là nguồn vốn quan
trọng cho đầu tư và phát triển không chỉ đối với các nước nghèo mà kể cả
các nước công nghiệp phát triển. Đây là nguồn vốn mà việc tiếp nhận
không phát sinh nợ đối với các nước tiếp nhận, thay vì nhận lãi suất trên
vốn, nhà đầu tư sẽ được nhận phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đi vào
hoạt động có hiệu quả. Bên cạnh đó, nguồn vốn này còn mang theo toàn
bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên nó có thể thúc đẩy phát
triển nghành nghề mới, đặc biệt là các dây chuyền công nghệ đòi hỏi kĩ
thuật cao hay cần nhiều vốn.Vì vậy, nguồn vốn này có vai trò cực kì quan
trọng đối với quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của nước tiếp nhận.
- Thị trường vốn quốc tế: Với xu hướng toàn cầu hoá nhanh chóng
hiện nay, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn quốc gia vào
hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn vốn cho
mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn
thế giới. Đối với nước ta hiện nay, để thúc đảy kinh tế phát triển nhanh
chóng và bền vững, nhằm mục tiêu công nghiệp hoá và hiện đại hoá, Nhà
nước rất coi trọng việc huy động mọi nguồn vổntong và ngoài nước để
đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, cải thiện đời sống
nhân dân. Trong đó, nguồn huy động qua thị trường vốn cũng được chính
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
phủ rất quan tâm, tuy rằng đây là một nguồn vốn còn mới mẻ và rất phức
tạp đối với Việt Nam.
4.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư:

4.1.1.Để đánh giá hiệu quả tài chính của một dự án người ta sử dụng hệ
thống chỉ tiêu sau:
a. Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án:
Đây là các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối của dự án đầu tư,
chỉ tiêu lợi nhuận thuần tính cho từng năm của đời dự án, phản ánh hiệu
quả hoạt động trong từng năm của đời dự án, hoặc hiệu quả hoạt động
của toàn bộ công cuộc đầu tư.
b. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư ( hệ số thu hồi vốn):
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được từng năm








=
0v
ipv
i
I
W
RR
trên một đơn vị vốn đầu tư và mức thu nhập thuần được tính
cho 1 đơn vị vốn đầu tư




W
Trong đó: r
E
- Tỷ suất sinh lời vốn tự có.
E
i
-Vốn tự có bình quân năm i.
W
i
- Lợi nhuận thuần năm i.
Nếu tính cả đời dự án(npv
E
) chỉ tiêu này phản ánh mức thu nhập
thuần của cả đời dự án tính cho một đơn vị vốn tự có bình quân năm của
cả đời dự án.
Npv
E
=
pv
E
NPV
d. Chỉ số vòng quay của vốn lưu động:
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn đầu tư, vốn lưu động quay
vòng càng nhanh, càng cần ít vốn và trong điều kiện khác không đổi thì
hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
L
Wci
=
ci
i


1.
f. Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư ( T ):
Chỉ tiêu này cho biết thời gian mà dự án cần hoạt động để thu hồi
vốn đầu tư đã bỏ ra từ lợi nhuận và khấu hao thu được hàng năm. Dự án
có hiệu quả khi T

tuổi thọ của dự án hoặc T

T định mức. Thời gian
thu hồi vốn càng ngắn thì hiệu quả của dự án càng cao.
g. Chỉ tiêu hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR):
Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất nếu dùng nó làm tỷ suất
chiết khấu để tính chuyển các khoản thu, chi của dự án về mặt bằng thời
gian hiện tại thì tổng thu cân bằng với tổng chi. Dự án có hiệu quả khi
IRR

r giới hạn và ngược lại. Tỷ suất giới hạn được xác định căn cứ vào
các nguồn vốn huy động của dự án.
h. Chỉ tiêu điểm hoà vốn:
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ để trang trải các
khoản chi phí phải bỏ ra. Điểm hoà vốn được biểu hiệ bằng chỉ tiêu hiện
vật và chỉ tiêu giá trị. Nếu sản lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn
hơn sản lượng hoặc doanh thu hoà vốn thì dự án có lãi và ngược lại.
Điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt, mức an toàn của dự án càng cao, thời
gian thu hồi vốn càng ngắn.
4.1.2.Đối với doanh nghiệp:
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
a.Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư:
+ Tính cho từng năm:







=1
Trong đó: W
j
- Lợi nhuận thuần của dự án j









=
m
j
j
W
1
với j=1,2,...,m -

lợi nhuận thuần của các DA hoạt động năm i.
I
vb

E
r∆
).

Ei
r∆
=(r
Ei
- r
Ei-1
)K > 0

t
E
r∆
=(
Et
r
-
1−Et
r
)K >0
Trong đó: K- hệ số mức ảnh hưởng của đầu tư.
I - Năm nghiên cứu
i-1 - Năm trước năm nghiên cứu
t - Thời kí nghiên cứu
t-1 - Thời kì trước thời kì nghiên cứu.
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
c. Chỉ tiêu số lần quay vòng tăng thêm của vốn lưu động từng năm(



T∆
= (T
t
- T
t-1
)K < 0
e. Chỉ tiêu mức hoạt động hoà vốn giảm:

XP
xp

=
K
XP
xp
XP
xp
tt












E
)K > 0
Trong đó:

Lt
E
- Mức tăng năng suất lao động bình quân năm thời kì t so với thời
kì trước (t-1).

E
Li
- Mức tăng năng suất lao động năm i so với năm i-1
V- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp:
1. Môi trường bên ngoài doanh nghiệp:
Đối với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, môi trường bên
ngoài tác động trực tiếp đến sự tồn vong và phát triển của doanh nghiệp.
1.1. Môi trường pháp lí:
Môi trường pháp lí bao gồm các luật và các văn bản dưới luật. Mọi
quy định về kinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh. Môi trường pháp lí tạo ra sân chơi để các doanh nghiệp
cùng tham gia hoạt động kinh doanh, vừa cạnh tranh vừa hợp tác lẫn
nhau. Mọi định hướng, mục tiêu của doanh nghiệp khi đưa ra đều dựa
trên cơ sở các luật định của Nhà nước, các doanh nghiệp hoạt động dưới
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
sự định hướng của Nhà nước thông qua các luật định. Do vậy, hoạt động
đầu tư của doanh nghiệp trong mỗi thời kì hoạt động nên dựa trên quy
định của các văn bản pháp luật, tuỳ theo định hướng phát triển kinh tế của
đất nước để đề ra phương hướng cho đầu tư của doanh nghiệp mình.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển nhanh
chóng, nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản là rất lớn, do vậy Nhà nước cũng

cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngày càng phải đầu tư thay
đổi mới công nghệ mới. Sự thay đổi nhanh chóng đó đã làm cho tuổi thọ
của các thiết bị kĩ thuật ngày càng phải rút ngắn do công nghệ kĩ thuật
của chúng theo thời gian ngày càng không đáp ứng đáp ứng được với đòi
hỏi của thị trường và thời đại. Vì vậy trong định hướng đầu tư của doanh
nghiệp phải có sự suy xét chu đáo, lựa chọn các loại máy móc sao cho
vừa phù hợp với trình độ phát triển và yêu cầu của thời đại vừa phù hợp
với kế hoạch phát triển và ngân sách đầu tư có thể cho phép của doanh
nghiệp.
2. Các nhân tố thuộc môi trường bên trong:
2.1. Lực lượng lao động bên trong công ty:
Do sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ và khoa học trên thế
giới, nhân tố con người ngày càng trở nên quan trọng, là nhân tố đảm bảo
sự thành công của đơn vị. Các doanh nghiệp muốn thành công thì cùng
với sự đầu tư về máy móc thì doanh nghiệp cũng cần phải đầu tư cho yếu
tố con người. Trong bất cứ thời đại nào thì nhân tố con người cũng luôn
là nhân tố quan trọng nhất trong mỗi khâu sản xuất. Đặc biệt trong thời
đại ngày nay, khi công nghệ khoa học kĩ thuật ngày càng hiện đại thì việc
nâng cao trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ nhân lực cho phù hợp với
trang thiết bị hiện đại trong mỗi doanh nghiệp càng trở lên quan trọng
hơn hết. Do đó, trong chiến lược đầu tư của bất kì một doanh nghiệp nào,
nhân tố con người cũng phải được đưa lên hàng đầu. Cùng với các biện
pháp đào tạo lại, đào tạo nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên tại
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoµng TuÊn Khanh-§T43A
doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng cần phải xây dựng các chính sách,
đề ra các biện pháp thu hút nhân tài cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần có các chính sách đãi ngộ , thưởng
phạt rõ ràng đối với người lao động để họ gắn bó và đóng góp nhiều hơn
nữa cho sự phát triển của doanh nghiệp.
2.2. Khách hàng :

nghiệp nào đi vào hoạt động đều có các mục tiêu, chiến lược và các định
hướng phát triển, chúng là nhân tố chủ quan chính ảnh hưởng đến hoạt
động của doanh nghiệp. Do vậy, mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp
trong từng thời kì tác động đến việc đầu tư của doanh nghiệp, hoạt động
đầu tư phải dựa vào định hướng phát triển của doanh nghiệp. Đây chính
là cơ sở cho việc đầu tư của doanh nghiệp, các kế hoạch đầu tư được xây
dựng dựa trên mục tiêu phát triển, các kế hoạch đầu tư chính là việc hiện
thực hoá dần các mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp.
2.5. Đặc điểm về quản trị doanh nghiệp:
Đội ngũ các nhà quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cấp cao
lãnh đạo doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự thành đạt của
doanh nghiệp. Các nhà quản trị là người hoạch định chính sách, chiến
lược phát triển cho doanh nghiệp trong từng thời kì khác nhau, do vậy
phẩm chất và năng lực của các nhà quản trị có vai trò quan trọng ảnh
hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp phụ thuộc vào phần lớn đặc điểm quản trị doanh nghiệp
của các nhà quản trị.

Trích đoạn Đặc điểm hoạt động kinh doanh xõy lắp và cơ cấu tổ chức của cụng Tỡnh hỡnh đầu tư trang thiết bị mỏy múc: Đầu tư nõng cao năng lực của cỏn bộ cụng nhõn viờn của cụng Những thành tựu đó đạt được và những hạn chế cần phải khắc Thuận lợivà khú khăn của cụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status