Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu sự chuyển mình
của nền kinh tế Việt Nam. Đất nước ta chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế
từ cơ chế hành chính, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường
có sự quẩn lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo cơ
chế mới này tất cả các thành phần kinh tế đều được tự do phát triển, tự
mình tìm thị trường kinh doanh, tự hạch toán kinh doanh, mở rộng thị
trường của mình. Nếu doanh nghiệp nào làm ăn có lãi, có chỗ đứng trên
thị trường thì sẽ tồn tại, nếu doanh nghiệp nào làm ăn thua lỗ thì sẽ bị đào
thải khỏi thị trường.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, môi trường kinh
doanh luôn biến động không ngừng cùng với sự thay đổi nhanh chóng
của khoa học kĩ thuật thì các doanh nghiệp luôn phải tìm cách tự đổi mới,
hoàn thiện mình cả về trình độ, năng lực, kinh nghiệm và hiện đại hoá
công nghệ. Do đó, hoạt động đầu tư nâng cao năng lực sản xuất kinh
doanh trong mỗi doanh nghiệp đã trở thành mối ưu tiên quan trọng trong
định hướng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Sông Đà là một doanh nghiệp
Nhà nước, hoạt động trong lĩnh vực tư vấn giám sát, khảo sát thiết kế xây
dựng, phục vụ thi công những công trình thuỷ điện, thuỷ lợi và các công
trình xây dựng công cộng. Sản phẩm của công ty là các bản vẽ thiết kế kĩ
thuật của các công trình, các hạng mục công trình và các con số khảo sát,
đặc điểm về chất đất, các kết luận thí nghiệm…. Đây là những sản phẩm
chứa hàm lượng chất xám lớn, sản phẩm có chính xác, có phù hợp với
thiết kế kĩ thuật hiện đại hay không đều phụ thuộc rất nhiều vào trình độ,
1
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
không tránh khỏi. Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy
cô cùng các cô, chú và các anh, chị trong công ty để chuyên đề này được
hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 7
tháng 5 năm 2005.
Sinh viên thực hiện
Hoàng Tuấn Khanh
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ, ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ
SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH
I- Đầu tư và đầu tư phát triển :
1. Đầu tư:
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành
các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả
đó. Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả
lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh
chịu khi tiến hành đầu tư.
Các nguồn lực phải hy sinh cho hoạt động đầu tư có thể là tiền , tài
nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ của con người.
3
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính
(tiền vốn), tài sản vật chất( nhà xưởng, đường xá, bệnh viện, trường
học…), tài sản trí tuệ( trình độ văn hoá, chuyên môn, quản lí, khoa học kĩ
đầu tư quyết định trực tiếp sự phát triển của xã hội, là chìa khoá của sự
tăng trưởng, là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và tiếp tục phát
triển của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.
2. Đầu tư phát triển:
Đầu tư phát triển chính là một phạm trù hẹp của đầu tư chỉ những
hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế
xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để
đạt được các kết quả đó. Nghĩa là, người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành
các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực
sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu
để tạo việc làm nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó
chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ
tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên bệ và bồi dưỡng đào tạo
nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt
động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở
đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội. Xét trong phạm
vi quốc gia thì đó là những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để
trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và tài sản trí tuệ,
hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có.
Trên giác độ tài chính thì đầu tư phát triển chính là quá trình chi
tiêu để duy trì sự phát huy tác dụng của vốn cơ bản hiện có và bổ sung
5
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
vốn cơ bản mới cho nền kinh tế, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát
triển xã hội trong dài hạn.
II- Phân loại và tác động của các hoạt động đầu tư phát triển trong sản
xuất kinh doanh:
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư tuỳ theo bản chất , phạm
của họ. Tuy nhiên, đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu
thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư
phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản
xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói
chung( Chúng ta cần lưu ý là đầu cơ trong kinh doanh cũng thuộc đầu tư
thương mại xét về bản chất, nhưng bị pháp luật cấm vì gây ra tình trạng
thừa thiếu hàng hoá một cách giả tạo, gây khó khăn cho việc quản lí lưu
thông phân phối, gây mất ổn định cho sản xuất, làm tăng chi phí của
người tiêu dùng).
1.3. Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động:
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các
hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản
xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để
tạo ra việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó là
việc bỏ tiền ra xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua
sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn
nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động
của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang
tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội. Loại đầu tư này được
gọi chung là đầu tư phát triển.
7
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Trên giác độ tài chính thì đầu tư phát triển là quá trình chi tiêu để
duy trì sự phát huy tác dụng của vốn cơ bản hiện có và bổ sung vốn cơ
bản mới cho nền kinh tế, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển
kinh tế xã hội trong dài hạn.
2. Theo thời hạn đầu tư, hoạt động đầu tư phát triển được phân
thành các loại sau:
ty tuỳ theo mỗi thời kì ngắn. Là cách mà doanh nghiệp có thể bổ trợ,
củng cố kế hoạch dài hạn. Thông qua đầu tư ngắn hạn, doanh nghiệp sẽ
có đối sách tốt hơn, phản ứng nhanh nhạy hơn với sự biến động của thị
trường. Đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp sẽ sớm thu hồi vốn và lợi
nhuận hơn so với đầu tư dài hạn. Đầu tư ngắn hạn không yêu cầu phải
huy động một khối lượng vốn đầu tư lớn và một số lượng nhân lực nhiều
nhưng đòi hỏi những nhà quản lí của doanh nghiệp phải có một cái nhìn,
một phản ứng nhanh nhạy đối với thị trường trong mỗi sự biến động của
thị trường.
Đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn bổ sung những khuyết điểm của
nhau và tạo cho sự phát triển thông thoáng nhanh nhạy của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường đầy biến động. Các kế hoạch đầu tư tạo cho
doanh nghiệp hoạt động một cách trơn tru và phản ứng tốt với biến động
của thị trường.
III- Vai trò của hoạt động đầu tư :
9
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Từ việc xem xét bản chất của đầu tư phát triển, các lí thuyêt kinh
tế, cả lí thuyết kinh tế kế hoạch hoá tập trung và lí thuyết kinh tế thị
trường đều coi đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh
tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng.
1. Tác động của đầu tư phát triển trên giác độ toàn bộ nền kinh tế
của đất nước :
Đối với một nền kinh tế, hoạt động đầu tư có một ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, nó không chỉ đóng vai trò trong quá trình tái sản xuất của xã
hội mà còn tạo ra những cú hích cho sự phát triển của nền kinh tế ở
những nước đang phát triển thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nợ nần và
nghèo đói, tạo ra sự phát triển của các nền kinh tế phát triển.
Q
0
-Q
1
và do đó giá cả sản phẩm giảm từ P
0
-P
1
. Sản lượng tăng, giá cả
giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục
kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để
tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động,
nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
b. Đầu tư tác động đến sự ổn định của nền kinh tế theo 2 mặt:
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với
tổng cầu và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi
của đầu tư, dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự
ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.
Chẳng hạn, khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố của đầu tư tăng làm
cho giá của các hàng hoá có liên quan tăng( giá chi phí vốn, giá công
nghệ, lao động, vật tư) đến một mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm
phát. Đến lượt mình, lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống của
11
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
người lao động gặp nhiều khó khăn do tiền lương ngày càng thấp hơn,
thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại. Mặt khác, tăng đầu tư
làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các nghành
này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng
nghệ của Việt Nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Theo
UNIDO, nếu chia quá trình phát triển công nghệ thế giới thành 7 giai
đoạnthì Việt Nam đang là một trong 90 nước kém nhất về công nghệ. Với
trình độ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá của Việt Nam
sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra được một chiến lược đầu tư
phát triển công nghệ nhanh và vững chắc.
Chúng ta đều biết rằng có 2 con đường cơ bản để có công nghệ là
tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài.
Dù là sự nghiên cứu hay nhập từ nước ngoài đều cần phải có tiền, cần
phải có vốn đầu tư. Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn với
nguồn vốn đầu tư sẽ là những phương án không khả thi.
f. Đầu tư tác động đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế:
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc độ
tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ 15-20% so với
GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước.
Vốn đầu tư Vốn đầu tư
13
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
ICOR = -------------------------- = ----------------
GDP do vốn tạo ra
∆
GDP
Từ đó suy ra:
Vốn đầu tư
Mức tăng GDP = ----------------
ICOR
Nếu ICOR không đổi, mức tăng trưởng của GDP hoàn toàn phụ
thuộc vào vốn đầu tư.
xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ,
tiến hành công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền
với sự hoạt động trong một chu kì của các cơ sở vật chất kĩ thuật vừa
được tạo tạo ra. Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư. Đối với các
cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian hoạt
động, các cơ sở vật chất kĩ thuật của các cơ sở này đã hao mòn, hư hoảng.
Để duy trì dc sự hoạt động bình thường cần định kì tiến hành sửa chữa
lớn hoặc thay mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát
triển khoa học kĩ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải
mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi
thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư.
3. Đối với các cơ sở vô vị lợi ( hoạt động không thể thu lợi nhuận cho
bản thân mình) :
Để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớn định kì các
cơ sở vật chất- kĩ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên. Tất
cả những hoạt động và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư.
Như vậy, hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng và tác động đến
mọi đối tượng kinh tế của xã hội. Hoạt động đầu tư phát triển là động lực
chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, tạo ra tài sản mới cho nền
kinh tế, duy trì và phát triển cơ sở vật chất của nền kinh tế.
IV- Vốn đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư:
15
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
1. Vốn đầu tư:
Vốn đầu tư là khái niệm dùng để chỉ các nguồn lực hiện tại chi
dùng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu về một nguồn lực
mới có khối lượng và giá trị lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra. Đối với đầu tư
phát triển nói riêng thì vốn đầu tư chính là các khoản tiền, khoản của cải
sách Nhà nước thông qua việc thu thuế, bán tài nguyên, thu lệ phí...
-Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Nền kinh tế đất
nước càng phát triển thì vốn tín dụng của Nhà nước càng đóng vai quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Nguồn vốn này có tác
dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của Nhà
nước. Với cơ chế này, các đơn vị sử dụng phải đảm bảo nguyên tắc hoàn
trả vốn vay, vì vậy đòi hỏi các chủ đầu tư phải cân nhắc kĩ hiệu quả đầu
tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Thông qua nguồn vốn này, Nhà nước thực
hiện việc quản lí và điều tiết kinh tế vĩ mô, thực hiện việc khuyến khích
phát triển kinh tế của các ngành, các vùng, miền. Góp phần tích cực trong
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại
hoá.
-Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Nhà nước: Các doanh nghiệp Nhà
nước là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế nước ta, do vậy, các doanh
nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng lớn vốn. Đây chính là
17
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
nguồn vốn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế theo định
hướng của Đảng và Nhà nước. Hiện nay, với chủ trương tiếp tục dổi mới
doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này
ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà nước
ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của
toàn xã hội.
b. Nguồn vốn từ khu vực tư nhân:
Bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh
nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa
được huy động triệt để. Hiện nay, do tập tính tiêu dùng của dân cư nước
là không gắn với các ràng buộc về chính trị xã hội. Vì lãi suất cao và
không dễ dàng để có thể vay nguồn vốn này nên nguồn vốn này thường
chỉ được sử dụng trong việc đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thường
là ngắn hạn. Đối với nguồn vốn này hiện nay đối với Việt Nam vẫn còn
khá hạn chế.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI ) là nguồn vốn quan
trọng cho đầu tư và phát triển không chỉ đối với các nước nghèo mà kể cả
các nước công nghiệp phát triển. Đây là nguồn vốn mà việc tiếp nhận
không phát sinh nợ đối với các nước tiếp nhận, thay vì nhận lãi suất trên
vốn, nhà đầu tư sẽ được nhận phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đi vào
hoạt động có hiệu quả. Bên cạnh đó, nguồn vốn này còn mang theo toàn
bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên nó có thể thúc đẩy phát
triển nghành nghề mới, đặc biệt là các dây chuyền công nghệ đòi hỏi kĩ
thuật cao hay cần nhiều vốn.Vì vậy, nguồn vốn này có vai trò cực kì quan
19
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
trọng đối với quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của nước tiếp nhận.
- Thị trường vốn quốc tế: Với xu hướng toàn cầu hoá nhanh chóng
hiện nay, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn quốc gia vào
hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn vốn cho
mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn
thế giới. Đối với nước ta hiện nay, để thúc đảy kinh tế phát triển nhanh
chóng và bền vững, nhằm mục tiêu công nghiệp hoá và hiện đại hoá, Nhà
nước rất coi trọng việc huy động mọi nguồn vổntong và ngoài nước để
đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, cải thiện đời sống
nhân dân. Trong đó, nguồn huy động qua thị trường vốn cũng được chính
phủ rất quan tâm, tuy rằng đây là một nguồn vốn còn mới mẻ và rất phức
tc0
Trong đó: E
tc
- Chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc của các kì
khác mà cơ sở đã đạt được chọn làm cơ sở so sánh, hoặc của đơn vị khác
đã đạt tiêu chuẩn hiệu quả.
4.1.1.Để đánh giá hiệu quả tài chính của một dự án người ta sử dụng hệ
thống chỉ tiêu sau:
a. Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án:
Đây là các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối của dự án đầu tư,
chỉ tiêu lợi nhuận thuần tính cho từng năm của đời dự án, phản ánh hiệu
quả hoạt động trong từng năm của đời dự án, hoặc hiệu quả hoạt động
của toàn bộ công cuộc đầu tư.
b. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư ( hệ số thu hồi vốn):
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được từng năm
=
0v
ipv
i
I
W
RR
):
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thuần từng năm tính trên 1 đơn vị
vốn tự có bình quân của năm đó.
r
E
=
i
i
E
W
Trong đó: r
E
- Tỷ suất sinh lời vốn tự có.
E
i
-Vốn tự có bình quân năm i.
W
i
- Lợi nhuận thuần năm i.
Nếu tính cả đời dự án(npv
E
) chỉ tiêu này phản ánh mức thu nhập
thuần của cả đời dự án tính cho một đơn vị vốn tự có bình quân năm của
cả đời dự án.
Npv
E
=
pv
E
NPV
O
- Doanh thu thuần bình quân năm i của dự án.
pv
Wc
- Vốn lưu động bình quân của cả đời dự án.
e. Chỉ tiêu tỷ số lợi ích- chi phí ( B/C ):
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ số giữa lợi ích thu được với chi phí phải
bỏ ra, dự án có hiệu quả khi B/C
≥
1. Dự án không có hiệu quả khi B/C
≤
1.
f. Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư ( T ):
Chỉ tiêu này cho biết thời gian mà dự án cần hoạt động để thu hồi
vốn đầu tư đã bỏ ra từ lợi nhuận và khấu hao thu được hàng năm. Dự án
có hiệu quả khi T
≤
tuổi thọ của dự án hoặc T
≤
T định mức. Thời gian
thu hồi vốn càng ngắn thì hiệu quả của dự án càng cao.
g. Chỉ tiêu hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR):
Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất nếu dùng nó làm tỷ suất
chiết khấu để tính chuyển các khoản thu, chi của dự án về mặt bằng thời
gian hiện tại thì tổng thu cân bằng với tổng chi. Dự án có hiệu quả khi
IRR
≥
r giới hạn và ngược lại. Tỷ suất giới hạn được xác định căn cứ vào
∑
=1
=
i
m
j
j
Ivhd
W
∑
=1
Trong đó: W
j
- Lợi nhuận thuần của dự án j
W
vhdpv
I
- Vốn đầu tư được phát huy tác dụng bình quân năm của thời kì
nghiên cứu được tính theo cùng mặt bằng với lợi nhuận thuần.
pv
W
- Lợi nhuận bình quân năm của kỳ nghiên cứu tính theo giá trị ở mặt
bằng hiện tại của tất cả các dự án hoạt động trong kì.
b. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời tăng thêm của vốn tự có của doanh nghiệp do
đầu tư từng năm (
Ei
r∆
) hoặc bình quân năm thời kì nghiên cứu (
t
E
r∆
).
24
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Ei
r∆
=(r
Ei
- r
Ei-1
)K > 0
WCi
L
-
1−WCi
L
)K > 0
WCt
L∆
=(
WCt
L
-
1−WCt
L
)K > 0
d. Chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn đầu tư giảm kỳ nghiên cứu(t ) so với kỳ
trước( t-1):
T∆
= (T
t
- T
t-1
)K < 0
e. Chỉ tiêu mức hoạt động hoà vốn giảm:
XP
xp
∆
∆
E
Li
= (E
Li
- E
Li-1
)K > 0
∆
Lt
E
= (
Lt
E
-
1−Lt
E
)K > 0
Trong đó:
∆
Lt
E
- Mức tăng năng suất lao động bình quân năm thời kì t so với thời
kì trước (t-1).
25