LỜI MỞ ĐẦU
Hy Lạp cổ đại là đất nước có một nền văn minh phát triển mạnh mẽ và rực rỡ về
mọi mặt kinh tế, chính trị, tri thức và đặc biệt là triết học. Triết học Hy Lạp cổ đại ra
đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và sâu sắc các quan hệ xã hội. Đó là
sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử - chế độ chiếm hữu nô lệ. Đây
là một dấu ấn vàng son của lịch sử triết học phương Tây và cũng là nền tảng của triết
học nhân loại.
Trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, Aritxtốt là một trong số những triết gia lớn
nhất và “trong suốt nhiều thế kỷ là người thầy của tất cả các nhà triết học” (Trích
theo: Hêghen. Các tác phẩm. T10. Matxơcơva, 1932. tr. 225). Aritxtốt cũng được C.
Mác đánh giá là nhà thông thái “Nhà tư tưởng vĩ đại nhất”, được các nhà triết gia
xem là “vị thầy của những người hiểu biết”. Ông đã để lại cho hậu thế một di sản
triết học đồ sộ và đầy giá trị.
Chính sự vĩ đại và thông thái mà Aritxtốt được coi là cha đẻ của nhiều học thuyết
và nhiều ngành học có ảnh hưởng lớn cả đến nền văn minh nhân loại suốt nhiều thế
kỷ sau ông. Để biết được nội dung “Triết học của Aritxtốt và sự ảnh hưởng của nó
đến xã hội Phương Tây” thời bấy giờ sâu rộng như thế nào, chúng ta sẽ tìm hiểu và
làm rõ hơn trong bài nghiên cứu này.
Người viết đã dùng những tài liệu sau để làm tài liệu tham khảo như: Đại cương
về lịch sử triết học của TS. Bùi Văn Mưa (chủ biên); Triết học và bức tranh vật lý
học về thế giới của TS Bùi Văn Mưa; Triết học phương Tây của Ths.Trịnh Đình
Thàn; Câu Chuyện Triết Học của Will Durant do Trí Hải và Bửu Đích biên dịch; Quá
trình chuyển biến tư tưởng Phương Tây của Richard Tarnas, Lịch sử triết học của
Nguyễn Hữu Vui.
SVTH: Phan Thị Thanh Kiều Trang 1
CHƯƠNG I: TIỂU SỬ CỦA ARIXTỐT VÀ ĐIỀU KIỆN LỊCH
SỬ RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC ARIXTỐT
TRONG XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY THỜI CỔ ĐẠI
1. Tiểu sử của Arixtốt:
Arixtốt (384 – 322 TCN), sinh tại Stagira tại tiểu quốc Macédoine cách Athènes
200 dặm, vào năm 384 TCN. Cả hai cha và mẹ của Arixtốt đều gốc người Ionien.
rộng lớn có khí hậu ôn hòa. Bao gồm miền Nam bán đảo Ban Căng (Balcans), miền
ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở miền Êgiê. Hy Lạp được chia làm ba
khu vực: Bắc, Nam và Trung bộ.
Trung bộ có nhiều dãy núi ngang dọc và những đồng bằng trù phú, có thành phố
lớn như Athènes. Nam bộ là bán đảo Pelopongnedơ với nhiều đồng bằng rộng lớn
phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt. Vùng bờ biển phía Đông của bán đảo Ban
Căng khúc khuỷu nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải phát triển. Các
đảo trên biển Êgiê là nơi trung chuyển cho việc đi lại, buôn bán giữa Hy Lạp với các
nước ở Tiểu Á và Bắc Phi. Vùng ven biển Tiểu Á là đầu mối giao thương giữa Hy
Lạp và các nước phương Đông. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy nên Hy Lạp
cổ đại sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền công thương nghiệp
phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng. Nơi có nhiều triết gia mà
triết lý của họ trở nên bất hủ.
2.2. Về kinh tế
Hy Lạp cổ đại nằm ở một vị trí vô cùng thuận lợi về khí hậu, đất đai, biển cả và
lòng nhiệt thành của con người là những tài vật, tài lực vô giá để cho tư duy bay
bổng, mở rộng các mối bang giao và phát triển kinh tế.
Thế kỷ VIII – VI TCN, đây là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ đại
là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt. Lúc bấy giờ đồ
sắt được dùng phổ biến, năng suất lao động tăng nhanh, sản phẩm dồi dào, chế độ sở
hữu tư nhân được củng cố. Sự phát triển này đã kéo theo phân công lao động trong
nông nghiệp, giữa ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi. Xu hướng chuyển sang chế
độ chiếm hữu nô lệ đã thể hiện ngày càng rõ nét. Ba tầng lớp chính của xã hội lúc đó
SVTH: Phan Thị Thanh Kiều Trang 3
là quý tộc, nông dân và thợ thủ công. Quý tộc có xuất thân là tầng lớp lãnh đạo các
bộ tộc trong quá khứ. Sự vơ vét của cải, đất đai và chiếm hữu tư liệu sản xuất của
quý tộc đã làm nghèo người dân lao động và khiến họ mắc nợ. Ngày càng đông nhân
dân mắc nợ giới quý tộc, mất khả năng trả nợ, và bị hạ cấp trở thành nô lệ. Sự phát
triển mạnh mẽ của công nghiệp, thủ công nghiệp từ cuối thế kỷ VIII TCN là lực đẩy
quan trọng cho trao đổi, buôn bán, giao lưu với các vùng lân cận.
tác), và mục đích (cứu cánh) trong đó hình thức và vật chất giữ vai trò quyết định.
Tuy nhiên ông cho rằng hình thức có vai trò quyết định hơn so với vật chất (nhất
nguyên luận duy tâm), bởi vì nếu không có hình thức thì vật chất chỉ là khả năng thụ
động chứ không phải là hiện thực. Hình thức là thực chất tồn tại, là bản chất tích cực
của sự vật, nó chứa trong mình sự vận động và mục đích. Nhờ tích cực của hình thức
mà mọi sự vật vận động được, còn sự vận động của sự vật là một quá trình khách
quan diễn ra theo những trình tự xếp đặt trước, tức có mục đích của Thượng đế”
Arixtốt cho rằng tất cả mọi vật trong vũ trụ đều tiến hoá do một sức mạnh nội tâm.
Mỗi một thực thể có thể được xem như một hình thể do một nguyên thể mà phát sinh
ra. Ví dụ con người là hình thể, do đứa trẻ là nguyên thể phát sinh. Đứa trẻ là hình
thể do bào thai là nguyên thể phát sinh. Bào thai là hình thể do noãn châu là nguyên
thể phát sinh. Nếu chúng ta đi lần mãi vào nguồn gốc của nguyên thể chúng ta sẽ tìm
thấy một ý niệm về nguyên thể mà không có hình thể (tức là Thiên chúa) [4,Will
Durant, Trí Hải và Bửu Đích dịch, Câu chuyện Triết học, Tr 28].
Arixtốt đã rơi vào mục đích luận của thần học và thuyết nguyên nhân của ông tiến
lại gần và thậm chí hòa nhập vào thuyết ý niệm của Platông.
2. Thuyết vận động – cơ sở của vật lý học
Vào thế kỷ thứ IV TCN, Arixtốt đã viết quyển "Vật Lý học" đầu tiên của nhân
loại. Phương pháp trình bày của Arixtốt trong cuốn sách này khác hẳn ngày nay.
Trong sách hoàn toàn không có công thức toán học và không có thí nghiệm. Ông đi
đến kết luận bằng cách lập luận và bằng trực giác.
SVTH: Phan Thị Thanh Kiều Trang 5
Arixtốt lấy siêu hình học làm cơ sở luận để xây dựng môn Vật lý học mang tính tự
nhiên, bàn về vũ trụ, giới tự nhiên và quá trình vận động của chúng. Ông xây dựng
thuyết vận động cho rằng giới tự nhiên là toàn bộ các sự vật, quá trình luôn vận động
có liên hệ với nhau và được cấu thành từ một bản thể vật chất. Vận động không thể bị
tiêu diệt và cũng không thể tách ra khỏi sự vật, quá trình tự nhiên.
Công nhận sự tồn tại khách quan của vật chất. Nhưng vật chất (ví dụ: chất đá) mới
chỉ là tiềm năng của vật thật, muốn trở thành vật thật (ví dụ: pho tượng), vật chất
phải có thêm hình thức nữa. Mỗi vật thật đều là sự thống nhất của vật chất và hình
Lý luận về nhận thức của Arixtốt là đỉnh cao của sự phát triển các tư tưởng về
nhận thức luận thời cổ đại Hy Lạp. Điểm đặc sắc trong lý luận nhận thức của ông là
phương pháp suy luận ba bước (tam đoạn luận) của lôgíc hình thức.
Khác với Platông coi ý niệm là đối tượng của nhận thức, ông khẳng định rằng thế
giới khách quan là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc của kinh nghiệm; tự nhiên
là tính thứ nhất, tri thức là tính thứ hai. Theo ông, mọi tri thức đều bắt nguồn từ cảm
giác về những sự vật đơn nhất được khái quát lại mà có. Ông kịch liệt phê phán quan
niệm của Platông coi nhận thức chỉ là sự hồi tưởng của linh hồn. Ông khẳng định
rằng, nhận thức của con người không có tính chất bẩm sinh, linh hồn con người khi
mới sinh ra hoàn toàn không có tri thức, nó tựa như một tấm bảng sạch chưa có vết
phấn (nguyên lý Tabula rasa).
Ông là người có quan niệm rành mạch về quá trình nhận thức đi từ cảm tính đến lý
tính. Tuy hết sức coi trọng nhận thức cảm tính, nhưng theo ông nhận thức cảm tính
không có khả năng đi sâu vào bản chất của sự vật. Vì vậy, để đạt đến chân lý, nhận
thức phải đi từ cảm tính đến lý tính. Đó là quá trình đi từ những cảm giác đơn lẻ,
ngẫu nhiên đến cái chung, cái phổ biến, cái bản chất dưới dạng khái niệm, phạm trù,
quy luật. Nhưng như đã nói ở trên, ông đã tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức lý tính,
coi lý tính là hình thức của mọi hình thức, quyết định bản chất của sự vật.
Trên con đường tư duy lý tính, Arixtốt rất quan tâm đến phương pháp tư duy: theo
ông, cái được coi là chân lý phải là cái phù hợp giữa tư tưởng và thực tế. Muốn vậy,
mọi tư duy đáng tin cậy phải được diễn đạt chính xác, có nội dung đáng tin cậy và
vững chắc. Từ đó, ông đã nêu lên những nguyên tắc rất cơ bản để xây dựng khái
niệm, phạm trù. Ông cũng đã nêu lên những quy luật cơ bản của tư duy lôgíc (quy
SVTH: Phan Thị Thanh Kiều Trang 7
luật đồng nhất, quy luật cấm mâu thuẫn trong tư duy, quy luật loại trừ cái thứ ba).
Ông đã nêu lên phương pháp suy luận ba bước (tam đoạn luận).
5. Quan niệm về đạo đức và giáo dục
- Đạo đức học của Arixtốt nêu rõ mục đích các hành động của con người là hướng
vào điều thiện và mục đích cuối cùng, cao nhất của con người là hạnh phúc. Con
người hạnh phúc là con người giống như Chúa, có cuộc sống no đủ, không thiếu thốn
Arixtốt sống trong xã hội chiếm hữu nô lệ nên tư tưởng chính trị xã hội của ông
tuy có những quan điểm mới nhưng phần nào vẫn bị ảnh hưởng bởi nền chính trị - xã
hội thời bấy giờ.
Arixtốt coi chính trị học là sự triển khai đạo đức học vào trong đời sống xã hội.
Ông vận dụng thuyết trung dung xây dựng lý luận về nhà nước. Theo Arixtốt, con
người không chỉ là sinh thể biết nhận thức, biết sống có đạo đức mà còn là một động
vật chính trị. Con người không thể sống ngoài cộng đồng, bên ngoài sự giao tiếp.
Nhà nước là một hình thức giao tiếp cộng đồng cao nhất, trên cả gia đình, dòng họ,
làng xã. Con người, về bản chất phải thuộc về nhà nước. Vì vậy, Arixtốt cho rằng sự
xuất hiện của nhà nước là trực tiếp từ nhu cầu quản lý cộng đồng, quản lý xã hội, vì
nếu không có sự quản lý thì con người không thể sống và sống tốt được, không có sự
an toàn cho mọi người, do đó, sự xuất hiện của nhu cầu quản lý cũng là tự nhiên, là lẽ
đương nhiên. Trong quan hệ quản lý thì bao giờ cũng phải có người quản lý và người
bị quản lý, người ra lệnh và người phục tùng mệnh lệnh. Trong gia đình thì chủ gia
đình là người quản lý, còn trong thành bang thì những người được phú cho khả năng
trí tuệ ưu tú hơn người phải được đặt cao hơn, là người cai trị và những người khác
sẽ là người bị cai trị, là nô lệ và chính quyền chỉ là của những người tự do và bình
đẳng. Nói cách khác Arixtốt thiên về chế độ quý tộc bởi ông xuất thân từ tầng lớp
quý tộc.
Arixtốt chỉ trích chế độ cộng sản của Platông, cho đó là một chế độ không tưởng.
Ông không đồng ý với cuộc sống tập thể của giai cấp thống trị theo kiểu Platông; ông
thích những đức tính cá nhân, sự tự do, sự hữu hiệu và trật tự xã hội. Trật tự xã hội
bấy giờ (chiếm hữu nô lệ), đối với Arixtốt là một trật tự xấu nhưng đó lại là một trật
tự xấu cần thiết, vì vậy cần phải bảo vệ nó.
SVTH: Phan Thị Thanh Kiều Trang 9
CHƯƠNG III: ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC ARIXTỐT
ĐẾN XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY
1. Triết học:
Các học thuyết của Arixtốt có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội Phương Tây, đặc biệt
là lĩnh vực Triết học. Rất nhiều nhà triết học sau này xây dựng học thuyết và tư
Ăngghen, Lênin đều đánh giá cao vai trò và ý nghĩa triết học của Arixtốt. Lôgíc phát
triển triết học của Cantơ, Hêgen, của Mác, Ăngghen và Lênin đều xuất phát từ các
bậc tiền bối như Arixtốt. Về sự giống nhau của chủ nghĩa duy tâm nguyên thuỷ và
chủ nghĩa duy tâm hiện đại, Lênin viết: "Cantơ, Hêgen, ý niệm về Thượng đế, chẳng
phải là cũng cùng một loại đấy sao, cũng đều xuất phát từ Arixtốt", Tôma Đacanh
cũng đã xây dựng học thuyết của mình trên cơ sở xuyên tạc học thuyết của Arixtốt và
nhà triết học có ảnh hưởng lớn đến Rơnê Đềcáctơ là Arixtốt.
2. Lĩnh vực khoa học
- Vật lý học
Từ thuyết vận động mà Arixtốt được biết đến như người cha đỡ đầu của vật lí học,
ông đã viết quyển "Vật lí học" đầu tiên của nhân loại.
Chúng ta phải nhớ rằng những phương tiện nghiên cứu của Arixtốt vô cùng thô sơ
so với những phương tiện nghiên cứu tối tân của chúng ta ngày nay. Ông phải đo
lường thời gian mà không có đồng hồ, đo lường nhiệt độ mà không có hàn thử biểu,
xem thiên văn mà không có viễn vọng kính, đoán thời tiết mà không có phong vũ
biểu. Những phương tiện duy nhất mà Arixtốt đã sử dụng là một cái thước và một cái
compas. Sức hút của trái đất, hiện tượng phát điện, áp lực không khí, nguyên lý ánh
sáng, nhiệt lượng và hầu hết những lý thuyết tân tiến của khoa học hiện đại đều hoàn
toàn chưa được phát minh.
Như vậy, hệ thống triết học tự nhiên của Arixtốt đã đề cập đến nhiều vấn đề thực
tế hơn, dẫn đến nhiều kết luận phù hợp với thực tại xung quanh. Do đó, nó ảnh
hưởng trực tiếp hơn đến khoa học tự nhiên. Tư tưởng của ông vừa có yếu tố duy vật,
vừa có yếu tố duy tâm nhưng sau này giáo hội đã bỏ yếu tố duy vật đồng thời tuyệt
đối hóa yếu tố duy tâm, biến chúng thành những giáo lý chính thống để giảng dạy
chính thức trong nhà thờ và trường học, nhằm mục đích phục vụ cho lợi ích tôn giáo.
Lê Nin đã nói: “Giáo hội đã giết hội đã giết chết phần sống của Arixtốt và làm cho
phần chết trở thành bất tử”. Tuy vậy, nhưng cũng có những ý rất sâu sắc trong học
thuyết của Arixtốt mà khoa học ngày này đã phát triển.
- Sinh vật học
SVTH: Phan Thị Thanh Kiều Trang 11
Do đó chúng ta có thể coi Arixtốt là người đặt nền móng cho động vật học (khoa
học về động vật). Học trò của ông là Theophrastus; (372 - 287 TCN) kế tục sự nghiệp
của Arixtốt đã để lại hai tác phẩm Thực vật chí và Bàn về nguồn gốc thực vật, cũng
như xác định đầy đủ các đặc điểm khác biệt chủ yếu giữa động vật và thực vật.
3. Lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật
- Văn hóa:
Bộ mặt của nền văn hóa, văn minh phương Tây hiện đại nói chung – xuất phát từ
Tây Âu - đã tựu thành khá đầy đủ, và cho đến nay là đầu thế kỷ 21, những nét cơ bản
của nền văn hóa này cũng ít thay đổi hay đảo lộn. Đại để có 3 tư tưởng chủ đạo tạo
nên văn hóa phương Tây là: Văn hóa Tây Âu phát triển dựa trên nền tảng của các hệ
tư tưởng: gồm tư tưởng duy lý (của các nhà tóan học/triết gia người Pháp như
Đềcáctơ, Malebranche, hay triết gia người Đức là Kant…), duy nghiệm (của các triết
gia Anh, như John Locke, David Hume…) và duy thực chứng (positivisme, tiên
phong là nhà tóan học/triết gia người Pháp Auguste Comte). cả 3 hệ tư tưởng này đều
chịu ảnh hưởng của tư tưởng cổ Hy Lạp, như bảng phạm trù luận lý học (lôgíc học)
của Arixtốt hay “thế giới của các ý niệm” (Le monde des Idées) của Platông.
Trong thực tiễn đời sống, qua không biết bao nhiêu là cải cách, phản biện, rẽ
ngoặt… không thể tránh khỏi, văn hóa Tây Âu có thay đổi đến mấy cũng không trượt
ra ngoài 3 hệ tư tưởng cốt lõi nêu trên. Tuy nhiên, cả 3 hệ tư tưởng này đều chịu ảnh
hưởng của tư tưởng cổ Hy Lạp, như bảng phạm trù luận lý học (lôgíc học) của
Arixtốt hay “thế giới của các ý niệm” (Le monde des Idées) của Platông.
- Nghệ thuật:
Thực ra, nhìn với quan niệm của người ngày nay, thì những tư tưởng của Platông
và Arixtốt về nghệ thuật, là những tư tưởng chống nghệ thuật, chứ không phải là
những tư tưởng tôn vinh nghệ thuật, nhưng ở thời của Arixtốt, triết học có một uy
quyền rất lớn trong xã hội, và tiếng nói của các triết gia có thế lực như Arixtốt là
quyết định, nhất là đây lại là những nhà giáo dục, có đầy đủ thẩm quyền và phương
tiện để truyền bá những điều mình phán quyết. Arixtốt mặc dù không đồng ý với
những ý kiến của Platông về nghệ thuật: Platông cho rằng nghệ thuật, từ hội họa đến
thi ca, đều chỉ là sự bắt chước, hay sao chép thiên nhiên, và không có gì là thực cả,
SVTH: Phan Thị Thanh Kiều Trang 14
năm 321 sau khi dẹp xong cuộc nổi dậy của Athènes 2 năm trước đó. Bản Hiến pháp
này phản ảnh tư tưởng chính trị của Arixtốt và tiếp nối chính sách của Lycurgus như
sau: quyền đầu phiếu giới hạn trong số dân Athens có tài sản từ 2000 drachmas trở
lên, nghĩa là giới hạn trong giới trung lưu; những người có một số tài sản vừa phải và
còn trẻ để làm nghĩa vụ quân sự. Sự kiện thứ hai là việc Demetrius, học trò của
Arixtốt, lên cai trị Athènes và biến những gì Arixtốt đã dạy tại Lyceum thành luật.
6. Lĩnh vực văn học
- Ngôn ngữ học
Công trình của Arixtốt xứng đáng được so sánh với công trình của Alexandre. Văn
chương của Arixtốt không bóng bẩy và thi vị như của Platông, đó là một loại văn
chương chính xác và khoa học. Arixtốt phải đặt thêm nhiều từ ngữ mới để có thể diễn
tả tư tưởng và có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống ngôn ngữ phương Tây. Những từ
ngữ Âu Mỹ hiện nay phải mượn ở những tác phẩm của Arixtốt như "faculty, mean,
maxim, category, energy, actuality, motive, end, priciple, form ". Những chữ này
không khác gì những viên gạch để xây dựng tư tưởng và góp phần rất lớn trong công
cuộc phát triển tư tưởng đời sau.
- Tác phẩm văn học
Các tác phẩm của Arixtốt được mến chuộng nhiều cho đến nỗi các cấp lãnh đạo
giáo hội Thiên chúa giáo đem lòng ganh ghét vì sợ làm lu mờ các điều truyền dạy
trong thánh kinh. Năm 1215 việc giảng dạy các tác phẩm của Arixtốt bị giáo hoàng
cấm, năm 1231 đức giáo hoàng Gregory IX thành lập một uỷ ban để khai trừ
Arixtốt, tuy nhiên đến 1260 thì thái độ của giáo hội thiên chúa giáo đối với Arixtốt
hoàn toàn thay đổi. Việc giảng dạy các tác phẩm của ông chẳng những không bị cấm
mà còn bị bắt buộc trong các trường thiên chúa giáo. Những thi sĩ như Chaucer và
Dante không tiếc lời ca tụng Arixtốt. Một số tư tưởng của ông đã ngự trị trong lịch sử
văn minh nhân loại hàng chục thế kỷ trước khi bị lu mờ bởi những chứng minh khoa
học.
SVTH: Phan Thị Thanh Kiều Trang 15
KẾT LUẬN
4. Richard Tarnas, Quá trình chuyển biến tư tưởng phương tây, NXB văn
hoá thông tin, Hà Nội, 2008
5. Nguyễn Hữu Vui, Lịch sử Triết học, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 1998
6. Will Durant, Câu truyện triết học, NXB văn hoá thông tin, Hà Nội, 2008
7. www.Wattpad.com
SVTH: Phan Thị Thanh Kiều Trang 17
MỤC LỤC
Chương I: Tiểu sử của Arixtốt và điều kiện lịch sử ra đời, phát
triển của xã hội Phương Tây thời cổ đại …………………………2
1.Tiểu sử của Arixtốt …………………………………………… 2
2. Điều kiện lịch sử ra đời, phát triển của xã hội Phương Tây thời
cổ đại ……………………………………………………… 3
a. Về tự nhiên ………………………………………………. 3
b. Về kinh tế ……………………………………………… 3
c. Về chính trị - xã hội .…………………………………… 4
Chương II: Nội dung triết học của Arixtốt ……………………… 5
1. Thuyết nguyên nhân – cơ sở của siêu hình học ………………5
2. Thuyết vận động – cơ sở của vật lý học …………………….5
3. Quan niệm về sinh thể, con người và linh hồn ……………….6
4. Quan niệm về nhận thức ……………………………………….7
5. Quan niệm về đạo đức và giáo dục ……………………………8
6. Quan niệm về chính trị - xã hội ……………………………….9
Chương III: Ảnh hưởng của triết học Arixtốt đến xã hội Phương
Tây ………………………………………………………………… 10
1. Triết học …………………………………………………… 10
2. Lĩnh vực khoa học …………………………………………… 11
- Vật lý học ………………………………………………….11
- Sinh vật học ……………………………………………… 12
3. Lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật …………………………………13
- Văn hóa ………………………………………………… 13